Báo cáo nghiên cứu nông nghiệp " Lên men, sấy và đánh giá chất lượng ca cao ở Việt Nam - MS8: Đánh giá năng lực của cán Đại học Cần Thơ, Đại học Nông Lâm TPHCM và Viện KHKT Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên " pot - Pdf 15



Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Chương trình
Hợp tác Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn 013/VIE05
Lên men, sấy và đánh giá chất lượng
ca cao ở Việt Nam
MS8
:
Đánh giá năng lực của cán Đại học Cần Thơ, Đại
học Nông Lâm TPHCM và Viện KHKT Nông Lâm
nghiệp Tây Nguyên

Đánh giá năng lực đội ngũ cán bộ Đại học Cần Thơ, Đại học Nông Lâm TP. HCM và
Viện KHKT Nông Lâm Nghiệp Tây Nguyên về:
• Thiết kế, lắp đặt và hướng dẫn nông dân sử dụng các thiết bị lên men và sấy khô
phù hợp.
• Các kỹ năng thiết lập và quản lý về hội đồng đánh giá mùi vị, phân tích cảm
quan ca cao và các tiến trình sinh trắc.
• Phân tích và báo cáo các thử nghiệm ở nông hộ tạ
i Bến Tre, Tây Nguyên và các
địa điểm của chương trình Success, bao gồm việc phân tích khuynh hướng tài

Trường Đại học Cần Thơ
Điều hành dự án phía Việt Nam
Tiến sĩ Hà Thanh Toàn
Cơ quan Việt Nam
Trường Đại học Nông Lâm TP. HCM
Điều hành dự án phía Việt Nam
Tiến sĩ Phạm Hồng Đức Phước
Cơ quan Việt Nam
Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm Tây Nguyên
Điều hành dự án phía Việt Nam
Tiến sĩ Nguyễn Văn Thường
Tổ chức Úc
QDPI&F
Nhân sự
Neil Hollywood
Ngày bắt đầu
02/2006
Ngày hoàn thành (lúc đầu)
02/2008
Ngày hoàn thành (lúc sau)
06/2008
Nhân viên liên hệ
Phía Úc: Điều hành
Tên:
Neil Hollywood
Điện thoại:
617 34068643
Chức vụ:
Nhà vi sinh vật học
Fax:

Giám đốc Viện NC&PT CNSH
Fax:
84 71 830604
Cơ quan:
Trường Đại học Cần Thơ
Email:
2
2. Tóm lược dự án


Chính phủ Việt Nam đang tập trung vào chất lượng cao của hạt ca cao Việt Nam và đề ra
mục đích sẽ có 10.000 hecta trồng ca cao đến 2010, với trọng tâm là ở tỉnh Đắc Lắc và
Đồng bằng Sông Cửu Long, là vùng ưu tiên cho dự án CARD. Các hộ nông dân sản xuất
nhỏ sẽ canh tác hầu hết ở vùng này và thấy rằng giá trị cao của ca cao có thể giúp sự phát
triển nông thôn. Tuy nhiên, có ý kiến rằng Việt Nam sản xuất ca cao được lên men chất
l
ượng cao với giá cao chênh lệch, điều đó sẽ tăng thêm thu nhập cho người nông dân
trồng ca cao Việt Nam. Phương thức tốt nhất để đảm bảo chất lượng tốt là huấn luyện
những chuyên gia Việt Nam về phương pháp đánh giá các chỉ tiêu chất lượng ca cao, các
phương pháp lên men và sấy khô. Những nhà khoa học của nhóm phát triển ca cao Việt
Nam sẽ được chọn để huấn luyện bao gồm các nhà khoa học của Đạ
i học Nông Lâm, Đại
học Cần Thơ (nằm tại một trong những vùng trồng ca cao rộng lớn nhất Đồng bằng Sông
Cửu Long), và WASI (Viện nghiên cứu ca cao của chính phủ, đặt tại tỉnh Đắc Lắc). Trong
dự án, phương pháp lên men và sấy mặt trời hạt ca cao ở phạm vi hộ gia đình, đã được
phát triển ở các nước khác, sẽ được kiểm chứng và điều chỉnh trong đi
ều kiện Việt Nam
và sự chấp nhận làm theo các yêu cầu thực tiễn của người dân. Những phương pháp này
sẽ được chuyển giao cho các hộ nông dân và các hệ thống khác. Kế tiếp sau đó, đội ngũ
cán bộ được tập huấn phân tích hóa học và cảm quan ca cao dưới sự chỉ đạo của QDPI&F.
Điều này sẽ đáp ứng mục đích sản xuất ca cao với chất lượng mong muốn, từ
đó ca cao có
thể đ
ư
ợc kiểm soát bởi các đơn vị Việt Nam tham
g
ia dự án.
3
• Các kỹ năng thiết lập và quản lý về hội đồng đánh giá mùi vị, phân tích cảm quan ca
cao và các tiến trình sinh trắc.

sấy được lắp đặt tại các nông hộ được trình bày ở phần báo cáo đính kèm.

Tóm tắt các kết quả chính

Đợt khảo sát nông hộ đầu tiên được thực hiện tại tỉnh Bến Tre vào tháng 8/2006 về các vấn
đề liên quan như: các kỹ thuật canh tác, thu hoạch và sơ chế ca cao, thời gian, công lao động,
chi phí và thu nhập liên quan đến ca cao. Cuộc khảo sát này được thực hiệ
n để thiết lập các
dữ liệu cơ bản như: năng suất, thu nhập, thời gian và công lao động và các vấn đề có liên
quan thông qua việc phỏng vấn 50 hộ nông dân. Các kết quả cơ bản đã đựoc trình bày trong
bảng báo cáo mục 2 của dự án vào tháng 12/2006.

Sau cuộc khảo sát này, có 3 hộ nông dân ở tỉnh Bến Tre được cung cấp thiết bị sấy ca cao vào
nửa cuối năm 2006. Một cuộc khảo sát sau đó
được thực hiện vào tháng 12/2007. Cuộc khảo
sát này được thực hiện bao gồm 25 hộ nông dân từ đợt khảo sát ban đầu năm 2006, có 2 trong
số họ đã được cung cấp thiết bị sấy và 25 hộ nông dân mới không có trong đợt khảo sát năm
2006. Một trong số các hộ nông dân này đã được cung cấp thêm 1 thiết bị sấy bằng năng
lượng mặt trời. Ảnh hưởng đến thu nhập của các hộ nông dân đượ
c tóm tắt bên dưới và được
trình bày chi tiết trong phần đính kèm. Một vấn đề liên quan đến khảo sát là các hộ nông dân
thường không thể cung cấp chính xác các thông tin có liên quan đến sản lượng và thu nhập
của họ. Thông thường thì các hộ nông dân chỉ cung cấp một các tương đối hoặc không có câu
trả lời cả về sản lượng và thu nhập cũng như các nhân tố khác có liên quan. Trong trường hợp
mà chỉ cung cấp các thông tin về sản lượng mà không cung cấp thông tin về
thu nhập thì thu
4
nhập sẽ được tính toán dựa trên các thông tin về sản lượng và giá mua. Thông tin chi tiết sẽ
được trình bày trong phần đính kèm.



Hộ nông dân thứ hai ở tỉnh Bến Tre là ông Nguyễn Hùng Sơn và vợ là bà Đinh Thị Kiều ở ấp
Phú Xuân, xã Phú Đức, huyện Châu Thành. Họ có tổng diện tích canh tác là 1 hecta với
khoảng 300 cây được trồng vào năm 2000 và 600 cây được trồ
ng vào năm 2003. Họ cũng là
một điểm thu mua và sơ chế ca cao trước khi nhận đựoc thiết bị sấy. Họ cung cấp một cách
tương đối tổng thu nhập bình quân năm 2006 và 2007 là 100 triệu đồng/ năm. Từ các thông
tin về sản lượng ca cao, cho thấy có khoảng 42 triệu đồng (năm 2006) và 55 triệu đồng (năm
2007) là từ phần ca cao do họ tự trồng. Phần thu nhập còn lại có thể là từ phần ca cao mà h

thu mua để thực hiện lên men và sấy với giá trị xấp xỉ gấp đôi. Họ cũng cho biết là đã gia
tăng được khả năng sản xuất và giảm được công lao động và thời gian sấy khoảng 1 - 2 ngày
trong mùa nắng và 2 - 4 ngày trong mùa mưa.

Hộ nông dân thứ ba ở tỉnh Bến Tre là ông Nguyễn Thanh Phương và vợ là bà Hồ Thị Hồng
Huệ. Họ có 1 hecta đất canh tác với khoảng 400 cây ca cao được trồng vào nă
m 2005 và 150
cây được trồng và năm 2006. 400 cây được trồng năm 2005 có thể đã cho trái vào thời gian
thực hiện khảo sát năm 2007. Họ cũng đã tăng được khả năng lên men và sấy và sơ chế
khoảng 500kg trái/ tuần vào thời gian thu hoạch chính vụ. Ông ta không cung cấp thông tin
về thu nhập nhưng từ lượng ca cao có thể qui đổi được thu nhập hàng năm khoảng 93 triệu
đồng từ việc bán hạt ca cao khô. Ông ta nhận được khoảng 27.000
đồng/ kg hạt khô từ công
ty Cargill vào tháng 12/2007. Khoảng tháng 6/2008, giá ca cao là 36.000 - 38.000 đồng/ kg
và với cùng năng suất trên thi ông ta có thể thu nhập được khaỏng 127 triệu đồng. Ông ta
5
cũng cho biết là đã giảm được công lao động và thời gian sấy khoảng 3 ngày vào mùa nắng
và 2 ngày vào mùa mưa.

Không có bất kỳ thay đổi nào được ghi nhận đối với các đặc tính chất lượng của ca cao khi áp

Mục tiêu tổng quát của dự án là giúp cho Việt Nam có thể sản xuất hạt ca cao lên men chất
lượng cao và qua đó có thể tăng thu nhập của các hộ nông dân trồng ca cao.

Các mục tiêu cụ thể của dự án bao gồm:
1. Xây dựng năng lực đánh giá chấ
t lượng ca cao ở ba cơ quan nghiên cứu được lựa chọn ở
Việt Nam.
2. Thiết lập các phòng thí nghiệm đánh giá cảm quan ca cao, huấn luyện các hội đồng đánh
giá cảm quan và cài đặt các phần mềm để phân tích ở cả ba cơ quan tham gia.
3. Tập huấn các phương pháp phân tích về các khía cạnh của chất lượng ca cao tại QDPI&F,
Úc cho các nhà khoa học từ Trường ĐH Cần Thơ và Trường ĐH Nông Lâm dựa trên khả

năng phân tích sẵn có của họ.
4. Tối ưu hóa kỹ thuật lên men cho các hộ nông dân.
5. Giới thiệu kỹ thuật sấy bằng năng lượng mặt trời cho hai cơ quan nghiên cứu được lựa
chọn phía Việt Nam.
6. Cung cấp tài liệu khuyến nông cho các nông hộ.

Để đạt được các mục tiêu này, các phương pháp được phát triển, kiểm tra và mở rộng để
đánh giá chất lượng ca cao tại các c
ơ quan nghiên cứu và phát triển các kỹ thuật sơ chế phù
hợp cho các nông hộ nhỏ và các phương pháp đảm bảo chất lượng.
6
Mục 8 được xác định với mục tiêu là đánh giá năng lực của các cán bộ ở ĐH Cần Thơ, ĐH
Nông Lâm và WASI về:
• Thiết kế, lắp đặt và hướng dẫn nông dân sử dụng các thiết bị lên men và sấy khô phù
hợp.
• Các kỹ năng thiết lập và quản lý về hội đồng đánh giá mùi vị, phân tích cảm quan ca
cao và các tiến trình sinh trắc.
• Phân tích và báo cáo các thử nghiệm ở

mẫu ca cao từ Cần Thơ, Bến Tre và WASI được phân tích và tiến hành đánh giá cảm quan.
Các mẫu ca cao từ Tây Phi, Malaysia, Indonesia và Papua New Guinea cũng được phân tích
nhằm để so sánh. Các báo cáo về chuyến đi này đã được báo cáo trước đó trong phần báo cáo
mục 4 (Báo cáo 6 tháng định kỳ lầ
n 2). Một báo cáo đính kèm (2) có liên quan đến đợt tập
huấn này được kèm theo.
7
Hoạt động 3.3: Thiết lập các qui trình phân tích, sinh trắc và đánh giá cảm quan tại ĐH
Cần Thơ, ĐH Nông Lâm và WASI.
Sự hỗ trợ của các nhà công nghiệp ca cao có liên quan đến chất lượng ca cao của Việt Nam
và cách tiến hành dự án được thực hiện trong suốt chuyến công tác này. Đối tác phía Úc cũng
đã tham dự một hội thảo về chất lượng ca cao được tổ chức bởi Success Alliance (SA) và
MARS tại Trường ĐH Nông Lâm trong chuyến công tác vào tháng 4/2007. Ông ta c
ũng có
một bài báo cáo về lên men, sấy và các khía cạnh về chất lượng của ca cao tại hội thảo này.
Hoạt động 4.1: Hỗ trợ ĐH Cần Thơ, ĐH Nông Lâm và WASI mua các thiết bị cần thiết
cho các qui trình phân tích, sinh trắc và đánh giá cảm quan.
Trường ĐH Cần Thơ
Dự án không có đủ kinh phí để trang bị một máy hóa lỏng ca cao cho ĐH Cần Thơ nhưng đã
được thay bằng một máy rẻ hơn và có thể s
ản xuất được dịch lỏng ca cao. Đây là một bộ cối
và chày được dùng trong “nhà bếp” dùng để sản xuất các gia vị và dược thảo ở dạng bột.
Thiết bị này cho thấy có thể dùng để sản xuất cả dịch ca cao lỏng và sô-cô-la. Do đó, Trường
ĐH Cần Thơ có thể sản xuất được dịch ca cao lỏng và mẫu sô-cô-la để tiến hành tập huấn
đánh giá cảm quan.
Viện Khoa h
ọc Kỹ thuật Nông Lâm Nghiệp Tây nguyên (WASI)

Cô Trương Thục Tuyền đã có tham gia khóa tập huấn về “Đánh giá cảm quan ca cao” tại
Trường ĐH Nông Lâm vào tháng 9/2004 và khóa tập huấn về “Đánh giá cảm quan thực
8
phẩm” tại Trường ĐH Công nghệ TP. HCM vào tháng 3/2004 trước khi tham gia tập huấn tại
tại QDPI&F. Cô ta cũng đã quen thuộc với các qui trình sinh trắc và đánh giá cảm quan. Tại
Trường ĐH Nông Lâm đã có sẵn một hội đồng đánh giá cảm quan được quản lý bởi bà Lâm
Thanh Hiền trước khi thực hiện dự án này. Với việc hoàn thành tập huấn về đánh giá cảm
quan, ĐH Nông Lâm có khả năng thực hiện việ
c đánh giá cảm quan ca cao một cách toàn
diện và sẽ tiến hành đánh giá các mẫu ca cao từ các thử nghiệm lên men tại ĐH Nông Lâm.

Trường ĐH Cần Thơ
Ông Nguyễn Văn Thành đã tham gia khóa tập huấn về đánh giá cảm quan tại QDPI&F vào
tháng 8/2006. ĐH Cần Thơ thiếu thiết bị sản xuất ca cao lỏng nhưng sau đó đã được thay thế
bằng một thiết bị rẻ hơn. Với sự
tham gia tập huấn tại QDPI&F và được trang bị một thiết bị
sản xuất ca cao lỏng nên ĐH Cần Thơ hiện tại đã có đủ khả năng thực hiện đánh giá cảm
quan ca cao.
• Thiết kế, lắp đặt và hướng dẫn nông dân sử dụng các thiết bị lên men và sấy khô
phù hợp.
Mục tiêu 10:
Hoạt động 10.1: Xác định các kỹ thuật lên men và sấy thích hợp nhất tại
ĐH Cần Thơ,
ĐH Nông Lâm và WASI.
Hoạt động này đã được hoàn thành vào tháng 2/2008 và quyển sổ tay đã được biên soạn (mốc
thực hiện 5) và đã được báo cáo trước đó. Với các thử nghiệm lên men và sấy đã được thực
hiện, các cơ quan tham gia đã được tập huấn và trang bị các thiết bị cần thiết để phân tích các
chỉ tiêu theo yêu cầu. Các thử nghiệm này phần lớn được thực hiện bở
i các cán bộ của ĐH
Cần Thơ, ĐH Nông Lâm và WASI và đã được trình bày chi tiết trong phần báo cáo của điểm

Một tổng kết ngắn gần đây về các hộ nông trồng ca cao
ở Bến Tre theo SA vào năm 2004 cho
thấy cây ca cao 2 năm tuổi có thể cho 50 kg hạt/tháng/ha. Ở cây trồng 4 năm tuổi, sản lượng
tăng đến 200 kg hạt/tháng/ha. Với giá hiện tại là 21.000 đồng/kg cho hạt đã lên men, nông
dân có thể thu nhập 3,6 triệu đồng/tháng/ha (hay 235 USD/tháng/ha) đối với hạt ca cao có
chất lượng tốt.
Từ khi viết dự án này, giá hạt ca cao lên men khô đã tăng lên đến 38.000 đồng/kg và như thế
khoản thu nhập từ việc trồ
ng ca cao cũng đã được cải thiện thêm.
Những ảnh hưởng của việc áp dụng các phương pháp từ dự án này được trình bày trong phần
báo cáo kết quả khảo sát nông hộ đính kèm.
5.3 Xây dựng năng lực
Tập huấn trong việc bố trí các thử nghiệm lên men, sấy khô và phân tích các thông số có liên
quan hiện tại đang được hoàn thành ở mỗi cơ quan tham gia.
Huấn luyện sử dụng phương pháp HPLC phân tích axit hữu cơ và GC-MS phân tích các h
ợp
chất thơm, cho đội ngũ cán bộ Việt Nam của mỗi cơ quan tham gia, được diễn ra tại QDPI&F
vào tháng 8/2006. Các cơ quan tham gia, chỉ có ĐH Nông Lâm là có thiết bị để thực hiện các
phân tích này.
Tập huấn đánh giá cảm quan và sinh trắc học của các kết quả cũng được thực hiện trong hội
thảo này. Tiếp theo là khóa tập huấn được thực hiện bởi phía đối tác Úc trong chuyến công
tác vào tháng 12/2006 và vào tháng 04/2007. Thiết bị cố
i và chày cho sản xuất sô-cô-la và
dịch lỏng ca cao được gửi đến WASI và một máy chế biến sô-cô-la hay sản xuất dịch lỏng
được gửi tới ĐH Cần Thơ. ĐH Nông Lâm đã có thiết bị trước khi bắt đầu dự án.
5.4 Sự quảng bá
Các điểm sau có thể được áp dụng để quảng bá các liên quan về AusAID và CARD
• Các điểm tham quan và ký kết với các nơi thí điểm, các buổi hộ
i thảo và tập huấn (thiết bị
sấy năng lượng mặt trời và các thùng lên men được trình bày ở tỉnh Bến Tre trong “Hội

khác nhau như cây cho quả, hạt, cây bụi, dây leo và cây thuốc tạo nên sự đa dạng sinh học
cao.
6.2 Về giới tính và xã hội
Nhiều nông hộ trồng ca cao ở Việt Nam đã thực hiện việc lên men và sấy ca cao do chính các
hộ này thu hoạch và vì thế có nhiều kinh nghiệm trong các công đoạn này. Trong suốt thử
nghiệm tối ưu hóa kỹ thuật lên men, một nỗ lực để kết hợp chặt chẽ nhằm thu được kết quả
tốt nhất khi tiến hành các phương pháp do chúng tôi đề nghị. Sự kết hợp này bao gồm các kê
khai nguyên liệu sử dụng và môi trường, công việc thử nghiệm và yếu tố xã hội.
Một điều tra của Success Alliance vào năm 2005 cho thấy:
SA có 4 tỉnh tham gia gồm Bình Phước (1.095 hộ dân), Bà Rịa V
ũng Tàu (1.560), Tiền
Giang (1.600) và Bến Tre (1.679). Ở các tỉnh này, lao động phụ nữ chiếm từ 9% ở Bình
Phước đến 20% ở Bến Tre. Tiền Giang có 16% và Bà Rịa Vũng Tàu là 13%.

Hầu hết các nông hộ tham gia này thì việc canh tác là thu nhập chính. Số lượng người tham
gia có độ tuổi từ 26 - 55 được xem là lực lượng lao động có kinh nghiệm. Lượng người tham
gia thuộc một gia đình là 3 - 5 thành viên. Tỉ lệ nông dân có trình độ văn hóa cấp II và cấp III
là 69 - 77% trãi đều ở các t
ỉnh, vì thế tỉ lệ cao người có trình độ văn hóa rất thuận lợi cho
việc tiếp thu kiến thức, kỹ thuật mới.

Tại tỉnh Bình Phước có 90% nông dân thu nhập từ 12 - 100 triệu đồng/năm cho tất cả loại cây
trồng. Trung bình là 40 triệu đồng. Ở Bà Rịa Vũng Tàu, gần 90% nông dân thu nhập từ 1 - 45
triệu đồng, trung bình là 17 triệu đồng. Ở Bến Tre, 90% nông dân có thu nhập 1 - 10 triệu
đồng, trung bình là 4 triệu đồng.
Ở Tiền Giang là 2 - 10 triệu đồng, trung bình 5 triệu đồng. Ở
Cần Thơ chỉ có 1 hộ trồng ca cao có thu nhập hàng năm là 16 triệu đồng từ cacao.

Kếty quả các cuộc khảo sát nông dân, được tiến hành trong dự án này, đã được hoàn tất và
được trình bày trong phần tài liệu đính kèm.

có lượng mưa cao hơn so với vùng Đồng bằng Sông Cửu Long. Các kết quả cho thấy sàn sấy
có thể được sử dụng với khối lượng đến 100kg hạt ướt trên 1m
2
vào mùa khô. Điều đó có
nghĩa là với diện tích sàn sấy là 2x2 m
2
thì năng suất sấy là 400kg hạt ướt trong 4 - 5 ngày.
Như vậy với sự cải thiện rất lớn về năng suất sấy của các hộ nông dân trong quá trình sơ chế
ca cao thì phần kinh phí đầu tư này cũng hợp lý. Phần này sẽ được trình bày chi tiết hơn trong
phần báo cáo về kết quả khảo sát nông hộ đính kèm.

Các công việc đã thực hiện cho thấy các kỹ thuật như trữ trái, trả
i/ phơi hạt trước khi cho vào
thùng lên men và rửa hạt lên men trước khi sấy có thể cải thiện được chất lượng của ca cao.
Tất cả các kỹ thuật này có thể được thực hiện một cách dễ dàng bởi các hộ nông dân và được
trình bày chi tiết hơn trong quyển sổ tay như là phần đính kém của điểm mốc thực hiện 5.
7.2 Các chọn lựa
Tất cả các qui trình nói trên hiện tại đ
ã được kiểm tra một cách thích đáng và được đề cập
trong quyển sổ tay của nông dân.
7.3 Tính bền vững
Các thử nghiệm đã được tiến hành tại Cần Thơ cùng với sự huấn luyện chuyên môn để phân
tích hạt ca cao khô bởi đội ngũ các cán bộ thường xuyên từ CTU, NLU và WASI mang ý
nghĩa dự án có tính bền vững ở cấp độ cao.

Cùng với khóa tập huấn đánh giá chất lượng cả
m quan ở Brisbane, phân phát thiết bị, và các
huấn luyện tiếp theo của đối tác Úc, điều đó có nghĩa là chương trình sẽ có tính bền vững.
12
8. Các bước chính tiếp theo

ĐH Nông Lâm. Tuy nhiên, kết quả từ các thử nghiệm này cho thấy đượ
c nhiều khuyến cáo
có liên quan đến qui trình lên men mà nó chứng tỏ được tác dụng tốt đến chất lượng của ca
cao và có thể được thực hiện dễ dàng bởi các hộ nông dân.
Các khuyến cáo có hiệu quả đã được thực hiện nhưng điều này đã làm chậm trễ trong việc
tổng kết các thử nghiệm lên men và kết quả là làm chậm trễ trong việc hoàn chỉnh các tài liệu
khuyến nông. Do đó dẫn đế
n việc chậm trễ trong việc cung cấp thông tin đến các nông hộ và
các cán bộ chuyên môn ở các Sở Nông nghiệp và Phát trển nông thôn và Sở Khoa học và
Công nghệ. Kết quả là cũng bị chậm trễ trong việc sử dụng các khuyến cáo trong các thử
nghiệm trên đồng và sự đánh giá các tác động của chúng đến tập quán sản xuất của nông dân.
Các hoạt động của dự án, đặc biệt là các thử nghiệm trên đồng, việc kiểm soát các k
ỹ thuật và
việc đánh giá sự thích hợp của các khuyến cáo đến chất lượng ca cao gặp khó khăn do ở Cần
Thơ, nơi đặt cơ quan chủ trì của dự án, chỉ có duy nhất một hộ nông dân có trồng ca cao một
cách đáng kể. Địa phương gần nhất có diện tích trồng ca cao đáng kể với lượng lớn hộ nông
dân cũng cách Cần Thơ đến 80km. Điều này thì đố
i tác phía Úc không được biết trước đó khi
13
viết dự án nên đã không tính đến thời gian và chi phí cho các cán bộ để kiểm soát các thử
nghiệm trên đồng, các kỹ thuật của nông hộ và thu thập mẫu.
Hiện tại thấy rằng hội thảo tổng kết các kết quả đạt được đến nay sẽ được tổ chức sau thời
gian kết thúc dự án.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status