Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn Hợp tác về Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
037VIE05
Thiết lập vườn ươm và đào tạo để nâng cao hiệu quả chất lượng
cây giống và thử nghiệm các mô hình trồng Macadamia
tại 3 tỉnh phía Bắc Việt Nam
Báo cáo MS11
Phần 1, 2, & 3 Phần 1. Xuất bản nghiên cứu/ Báo cáo kỹ thuật về các kết quả tạm thời từ các khu
trồng khảo nghiệm các loại giống hạt Macadamia (Ít nhất là 10 loại giống cây trồng
tại 3 tỉnh).
Phần 2. Báo cáo về việc đánh giá các loại giống cây trồng hiện có.
Phần 3. Quy trình nghiên cứu và quản lý, bao gồm việc phân công trách nhiệm đối
với việc duy trì quản lý, phân tích và báo cáo về
các khu trồng khảo nghiệm các loại
giống macadamia. Người viết Báo cáo: Ông Martin Novak
6.4 Nghiên cứu khảo nghiệm giống của các nhà nghiên cứu Thái Lan___________20
6.5 Nghiên cứu khảo nghiệm giống của các nhà nghiên cứu Nam Phi.___________23
7. Phần 3 Quy trình nghiên cứu và quản lý, bao gồm việ
c phân công trách nhiệm đối với
việc duy trì quản lý, phân tích và báo cáo về các khu trồng khảo nghiệm các loại giống
Macadamia. 24
7.1 Nghiên cứu về các giống Macadamia ___________________________________25
7.2 Tiêu chí lựa chọn những giống Macadamia tốt nhất và phù hợp ____________25
8. Các bước tiếp theo ______________________________________________________26
9. Kết luận _______________________________________________________________26 2
Các phụ lục đính kèm
Phụ lục 1 - Điểm trồng khảo nghiệm Văn Linh
Phụ lục - 1.1 Báo cáo khu trồng khảo nghiệm Văn Linh, tháng 5/2008
Phụ lục 2 - Điểm trồng khảo nghiệm Ba Vì.
Phụ lục 2.1 - Báo cáo khu trồng khảo nghiệm Ba Vì, tháng 5/2008.
Phụ lục 3 - Điểm trồng khảo nghiệm Yên Thủy.
Phụ lục 3.1 - Báo cáo khu trồng khảo nghiệm Yên Thủy nă
m 2008.
Phụ lục 4 - Kế hoạch trồng khảo nghiệm của Công ty Vinamaca
Phụ lục 5 - Các điểm trồng khảo nghiệm ở Úc.
Phụ lục 6 - Báo cáo đầy đủ của FSI.
Cơ quan đại diện phía Úc
Hiệp hội Trang trại Lâm nghiệp Á Nhiệt đới
Nhân sự phía Úc
Martin Novak, Kim Wilson
Ngày bắt đầu thực hiện
01 tháng 01 năm 2006
Ngày kết thúc (theo dự án gốc)
31 tháng 12 năm 2008
Ngày kết thúc (thay đổi)
15 tháng 12 năm 2010
Giai đoạn báo cáo
6 tháng Các địa chỉ liên lạc
Tại Úc: Trưởng nhóm
Tên:
Martin Novak
Điện thoại:
61 2 66895027
Chức vụ:
Chủ tịch
Fax:
61 2 66895227
Tổ chức
Hiệp hội Trang trại Lâm
nghiệp Á Nhiệt đới
Email:
4
2. Tổng quan về Báo cáo giai đoạn lần thứ 11
3. Tóm tắt báo cáo
14 giống Macadamia đã được lựa chọn cho 3 điểm trồng khảo nghiệm thuộc dự án. Các loại
giống này bao gồm 10 giống tốt nhất của Úc và 4 giống tốt nhất của Trung Quốc, bao gồm
264, 344, 741, 849, 816, 842, 814, A4, A16, A38 (từ Úc) và GY1, 695, 900, OC (từ Trung
Quốc). Các gi
trong báo cáo này.
Phần 2. Báo cáo về việc
đánh giá các loại giống cây trồng hiện có.
Vì sản lượng của nhân hạt là yếu tố quan trọng nhất trong việc đánh giá các giống cây, kết
quả của các điểm khảo nghiệm 3 năm của dự án sẽ không còn quá quan trọng đối với 3
đến 4 năm tới. Các điểm trồng khảo nghiệm của FSI và WASI – những nơi đang cung cấp
nhân hạt sẽ là những điểm để
đánh giá. Các điểm khảo nghiệm giống tổng thể ở Úc đã
cung cấp những đánh giá về các loại cây cho đến nay. Các điểm khảo nghiệm khác ở
Trung Quốc, Thái Lan, Hawaii và Nam Phi cũng bổ sung thêm những đánh giá.
Phần 3. Quy trình nghiên cứu và quản lý, bao gồm việc phân công trách nhiệm đối với
việc duy trì quản lý, phân tích và báo cáo về các khu trồng khảo nghiệm các loại giống
Macadamia. Hiệp hội Macadamia của Việt Nam cùng với các tổ
chức nghiên cứu đã cùng
tham gia, theo đó áp dụng cách tiếp cận của Úc và Nam Phi. Các tiêu chí lựa chọn về
chọn lựa cây được nêu chi tiết trong báo cáo này.
5
Việc phát triển ngành công nghiệp Macadamia ở Úc đã cho những kinh nghiệm quan trọng
đối với việc phát triển những giống cây tốt nhất. Ý tưởng về một giống cây Macadamia “xuất
sắc”, đáp ứng các yêu cầu có thể là một khái niệm hay mang tính mục tiêu nhưng không chắc
xảy ra trong thực tế. Nếu một loại cây được xem là hợp thời vụ và chỉ biến thể theo địa điểm
thì cầ
n phải lưu ý câu “cây nào, vụ nấy theo vùng phù hợp”.
Do vậy, ý tưởng xác nhận những giống cây phù hợp với Việt Nam cần được tiếp cận một cách
nhạy bén. Có thể có giá trị đối với việc xem xét xác nhận các vườn ươm trong việc sản xuất
các giống cây có chất lượng phù hợp với môi trường và các điều kiện, trong khi vẫn phát triển
Trung Quốc, Nam Phi và New Zealand trồng chủ yếu loạ
i M. tetraphylla. Nói chung, thị
trường thế giới chuộng loại integrifolia hơn vì màu nhân hạt trắng hơn. Những người trồng
Macadamia thích loại đó vì hạt tự rụng từ trên cây và các nhà chế biến cũng ưa chuộng giống
này vì hạt tròn hơn và vỏ dày hơn.
Lịch sử của việc sử dụng hạt cây Macadamia là những người thổ dân Úc, tuy nhiên việc lựa
chọn được các loại giống cây phù hợp cho đến ngày nay là t
ừ đầu thế kỷ 19 khi người Châu
Âu đến định cư ở vùng Bắc NSW và vùng đông bắc Queensland. Cây tự nhiên thuộc vùng
cận nhiệt đới của miền đông Úc và lúc đó những người nông dân trồng trồng giống cây này
với quy mô nhỏ - họ là những người đầu tiên lựa chọn những cây có sản lượng NIS cao nhất.
Ngày công nghiệp Hawaiian bắt đầu trên cơ sở nhập hạt giống từ Úc vào những n
ăm 80
(Trochoulias 1989). Những lần giới thiệu quan trọng được thực hiện vào cuối thế kỷ 19 bởi
W.H. Purvis (1881), Anh em nhà Jordan (1892) và Ban Nông nghiệp (1881-1895) (Shigeura
& Ooka 1984). Van Tassell là người tiên phong trong ngành công nghiệp của Hawaiian,
người đã vượt qua rất nhiều trở ngại để thành lập được Công ty nhân hạt Macadamia vào năm
6
1922 – công ty đầu tiên dám thử trồng những vườn Macadamia với hàng ngàn cây vì mục
đích kinh doanh (Agropress 3/94).
Ngành công nghiệp thương mại của Hawaii đã được thành lâp sớm hơn và với quy mô lớn
hơn so với ở Úc. Việc phát triển ngành công nghiệp Macadamia ở Hawaii rất được Chính phủ
khuyến khích. Việc phát triển ngành công nghiệp này phần lớn dựa vào nỗ lực của các nhà
khoa học ngành nông nghiệp thuộc Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA), Viện khảo nghiệm liên
bang và Viện khảo nghiệm nông nghiệp Hawaii (HAES) thuộc Trường Đại học tổng hợp
Hawaii (Shigeura & Ooka 1984). Nghiên cứu của HAES là lời giải đáp cho các giống tiêu
chuẩn của ngành công nghiệp này ở cả Úc và Hawaii.
đình Angus) – mà đã bắt đầu trong khoảng thời gian Thế chiến thứ hai.
Những nhà sản xuất và chế biến có quy mô lớn đầu tiên ở Úc là Nhà máy tinh chế đường
Commonwealth (C.S.R) Các đồn điền Macadamia của Úc (M.P.A.) và Các đồn điền Gray,
những người vào những năm 1960 và 1970 đã đem lại cho ngành công nghiệp này những
triển vọng trong tương lai lâu dài. Đó là sự phát triển kinh doanh, mang lại những động lực
cho cả những ngườ
i trồng cây và các nhà nghiên cứu. Đã có rất nhiều người tiên phong –
những người, bằng những cách khác nhau đã giúp cuộc sống của những người trồng cây
Macadamia trở nên dễ dàng hơn, ví dụ như Greber, Cottram, Hesslewood, Gowen, Ainsbury,
Spooner và Bell.
Ngành công nghiệp của Úc chỉ phát triển theo sau việc nhân rộng những dòng vô tính tốt nhất
của Hawaii. Trong nhiều năm qua, ngành công nghiệp của Úc dựa phần lớn vào những giống
cây đã được phát triển ở Hawaii, ví dụ như các gi
ống: HAES 246 (Keauhou), HAES 344
(Kau), HAES 741 (Mauka) và HAES 660 (Keaau) được trồng phần lớn ở các vườn cây. Tuy
nhiên, với sự phát triển các giống cây ở Úc trong những năm gần đây, ví dụ như các giống:
7
Hidden Valley A4 và A16 được phát triển bởi Henry Bell, phần lớn các vườn cây mới đều
trồng lẫn các loại giống của Úc và Hawaii. Trong khuôn khổ Dự án, một số giống thuộc
Hidden Valley đã được trồng khảo nghiệm, bao gồm A4, A 16 và A38. Để có thêm chi tiết về
các loại giống của Hawaiian và Úc, tham khảo Phần 2, mục 6 dưới đây của báo cáo và các
phụ lục 5 và 10.
Việc phát triển các giống mới cũng đang được th
ực hiện ở Trung Quốc, Nam Phi, Brazil và
Thái Lan. Một số thông tin về công việc này được đề cập chi tiết ở Phần 2, mục 6 dưới đây
của báo cáo và trong các tài liệu nghiên cứu đính kèm. Để biết thêm chi tiết về quá trình phát
nghiệm giống dưới đây phần [5.1] và các nghiên cứu sâu của FSI và WASI về khảo nghiệm
nghiên cứu giống trong phần [6]. Thông tin đánh giá tốt được lấy từ báo cáo của các cộng tác
viên dự án Trung Quốc và Thái Lan, cũng như từ nghiên cứu của Nam Phi trong phần [6] 5.2 Báo cáo về kết quả tạm thời từ các khảo nghiệm giống hạt Macadamia.
Dự án đã hỗ trợ thiết lập 3 điểm trồng khảo nghiệm ở Vân Linh, Ba Vì và Yên Thủy.
Thêm 2 điểm trồng khảo nghiệm mới đã được thiết lập ở Đắk Lắk vì mục tiêu phát triển
Macadamia đã xem xét vùng cao nguyên.
Điểm khảo nghiệm Vân Linh – các kế hoạch khảo nghiệm (tham khảo Phụ luc A1 và
các hình ảnh trong A13)
Mật độ – 7m x 4m, 14 giống, 5 cây / giống (3 loại đã được theo dõi), nhân gi
ống 4 lần
Yêu cầu đối với cây, 14 giống x 5 x 4 = 280
8
Các cây đệm = 108, tổng cộng 388 cây, tổng diện tích = 1.1 ha.
(Thông tin chi tiết, tham khảo Phụ lục 1.1 Báo cáo khảo nghiệm tháng 5 năm 2008 –
các báo cáo chi tiết được chuẩn bị trước khi dự án được mở rộng, tháng 12/2008)
Những tiến bộ đạt được tới thời điểm tháng 10/2008
0.62 Ha đã được trồng, tháng 3/2007, 5m x 4m = 500 cây / Ha. 312 cây đã được trồng.
Ghi chép sự phát triển của cây 3 tháng/ lần, Ghi chép cách bố trí và các loại giống trồng
khảo nghiệm
Cây đòi hỏi phải bón nhiều phân hơn.
Những tiến bộ đạt được tới thời điểm 02/8/2010
Điểm khảo nghiệm và vườn ươm Vân Linh (Canh).
triển tốt. H = 6-7 M. Lá xanh.
- Đã thu hoạch tháng 10/ 2009, tổng số hạt là 250 kg, 119 kg NIS. [So sánh với
điểm khảo nghiệm của trang trại ông Thu ở huyện Krông Năng, t
ỉnh Đắk Lắk,
cây 6 năm tuổi, tổng thu hoạch là 600 kg NIS. (Phụ lục 12). Điều này cho thấy
sự khác biệt về khí hậu, chất đất và việc chăm sóc mang lại ảnh hưởng đáng
kể.
Điểm khảo nghiệm 2:
- Năm 2007 đã trồng 1.000 cây, hiện nay H = 2 - 3m, 50% cây phát triển tốt, số
cây còn lại phát triển không được tốt lắm.
Điểm khảo nghiệm 3:
9
Tháng 1/ 2008 đã trồng 2 Ha (660 cây) ở Ba Vì, khoảng 50% cây phát triển tốt
H = 2 - 2,5 M, lá xanh. Những tiến bộ đã đạt được tới thời điểm tháng 3/ 2010
Các điểm khảo nghiệm
− Đã trồng cây trên diện tích 1 ha vào năm 2007 & đã có hoa.
− 600 cây được trồng vào năm 2008, 50% phát triển không được tốt.
− Năm 2009 thu hoạch từ 400 cây cho sản lượng 250 kg NIH, 119 NIS được sử dụng
làm hạt giống
− Thời gian ra hoa là vào tháng 4. 695 cây ra rất nhiều hoa.
− Nhìn chung không có nhiều hạt do thiếu nước và dinh dưỡng.
− Sẽ thu thập thêm số liệu về sản lượng hạt, tính toán về sự ra hoa và quả.
− Nhiều cây bị chết ở điểm khảo nghiệm 3.
Huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk
Tổng diện tích 1,3 ha, kể cả
tường bao khu trồng khảo nghiệm
Điểm khảo nghiệm
Chuyển từ vườn ươm Yên Thủy, tháng 11/ 2009
360 cây ghép, phần lớn đã được gắn biển tên.
Cần che phủ xung quanh cây.
Cần kiểm tra dây đeo biển tên nếu không dây sẽ quấn vòng quanh cây.
10
Màu sắc và cây trông có vẻ phát triển tốt. 5.3 Nhận xét chung đối với các điểm trồng khảo nghiệm dựa trên những kết
quả đã đạt được đến tháng 10/2008. Không xuất hiện sự khác biệt đáng kể nào giữa các giống tại giai đoạn này.
Điều rất quan trọng là tất cả thông tin được ghi chép giống nhau.
Các biểu ghi chép chuẩn đều đã được phân phát.
Tất cả các cây cần được uốn nắn để cải thiện hình dáng cây.
Cải thiện chương trình dinh dưỡng.
Đảm bảo các loại giống cây phải được xác định đúng và cẩn thận, do vậy duy trì vi
ệc đeo
biển tên. 5.4 Đề xuất đối với việc nhân bản các khảo nghiệm giống của Úc (Phụ lục 5)
giống cần tiếp tục được theo dõi.
Việc nghiên cứu tại các điểm khảo nghiệm và giữa các điểm khảo nghiệm cần được duy
trì. Ví dụ, tiến hành trồng xen và bón phân chỉ trên 1 phần diện tích của khu khảo nghiệm
để thấy được những sự biến đổi mà không cần thiết phải tiến hành trên cả khu khảo
nghiệm giống.
116. Phần 2. Báo cáo đánh giá các cây trồng hiện tại.
Vì sản lượng nhân hạt là nhân tố quan trọng nhất trong việc đánh giá các giống cây, do vậy,
kết quả của các cây 3 năm tuổi được trồng trong các điểm khảo nghiệm của dự án sẽ không có
ý nghĩa cho 3 đến 4 năm tiếp theo. Các điểm khảo nghiệm thuộc FSI và WASI – những nơi
đang sản xuất nhân hạt – có thể được sử dụng cho việc đánh giá. Các khảo nghiệm giống tổng
hợp ở Úc đưa ra những cơ hội tốt nhất để đánh giá các loại cây cho tới nay. Các khảo nghiệm
khác ở Trung Quốc, Thái Lan, Hawaii và Nam Phi cũng bổ sung thêm thông tin cho việc
nghiên cứu này. 6.1 Các kết quả nghiên cứu về khảo nghiệm giống của FSI.
Các trích đoạn báo cáo tại Hội thảo FSI tại Đắk Lắk năm 2009 (Phụ lục 6: báo cáo đầy
đủ của FSI)
FSI đã và đang thử nghiệm các loại giống tại 16 điểm trồng khảo nghiệm thuộc 6 tỉnh. FSI đã
thu thập được hàng loạt các số liệu về tỷ lệ sống, sự phát triển, tỷ lệ ra hoa và quả. Các bảng
biểu dưới đây là các ví dụ về
các loại số liệu đã thu thập được từ các điểm khảo nghiệm tại Ba
look at the
table
2,89 2,89 2,89
Sự phát triển của các giống Macadamia tại Krông Năng, Đắk Lắk. 12
Do (cm) H (m) Dt (m)
Tỷ lệ cây ra quả nă
m
2008 (%)
Tên
giống
Tỷ lệ
sống
(%)
X V% X V% X V% Thấp Trung
bình
Cao
800 87,5 13,4 100 4,4 100 3,0 100 - - 100
741 93,7 11,7 9,7 4,1 23,5 3,3 8,0 - 33,4 66,6
849 93,7 10,8 6,9 3,6 22,9 2,7 47,5 - 20 80
816 100 10,4 11,8 4,6 14,9 3,2 19,3 0 0 57,1
842 93,7 9,2 100 4,2 100 3,8 100 - - 100
246 93,7 9,1 31,6 4,4 14,9 3,7 22,2 5,9 5,9 70,6
OC 100 8,4 17,3 4,0 16,2 3,2 23,7 19,6 8,7 63,0
ĐC1 93,7 8,4 17,3 4,2 16,2 3,1 23,7 55,8 23,5 2,9
TB 94,5 10,17 4,18 3,25
F calculate 19,26 4,06 4,80
và tăng tỷ lệ đậu quả. Đối với những vườn cây có sản lượng cao, chúng ta nên trồng các
cây thuộc các loại giống khác nhau.
Loại giống 900 – giống 856 – giống 842 - giống 246 - giống 344.
13
Loại giống 800 - giống 788 – giống 816 - giống H2.
Loại giống NG8 - giống 800 – giống 856 - giống OC - giống Daddow - giống 816.
Loại giống 741 - giống OC - giống Daddow - giống 816 - giống 849
Bảng dưới đây cho thấy sự khác biệt về kích cỡ quả Macadamia
Đối với các loại giống: 344, 816 và 900 Kích thức quả theo ngày/ tháng
14
6.2 Các kết quả nghiên cứu về khảo nghiệm giống của WASI.
Nghiên cứu giống Macadamia của WASI.
Nghiên cứu của WASI tập trung vào sự phát triển và sản lượng hạt của các giống từ Trung
Quốc và Thái Lan. Nghiên cứu mới sẽ bao gồm một số giống lựa chọn của Úc. Dưới đây là
một số trích đoạn quan trọng về các loại giống lấy từ một báo cáo được trình bày tại Hội thảo
Macadamia tại Đắk Lắk năm 2009. (Báo cáo đầy đủ
được đính kèm trong phần phụ lục).
Nghiên cứu, lựa chọn các giống Macadamia trong vườn nhóm
Sau 6 năm trồng tất cả các giống đều ra hoa kết quả. Tuy nhiên khả năng đậu quả và trọng
lượng quả của các giống bước đầu cho thấy có sự khác nhau. Giống H2 có số quả đậu/gié cao
nhất (7 quả) trong khi đó giống 508, OC, 344 và 814 có số quả đậu/gié chỉ từ 2-4 quả. Nhìn
chung các giống có quả hình tròn, khi chín vỏ quả màu xanh. Trọng l
ượng 100 hạt của các
giống biến thiên từ 660 đến 915 gam, trong đó nhận thấy giống OC có cỡ hạt lớn nhất, các
giống còn lại có cỡ hạt trung bình.
Tên giống Quả/thân cây Hình dạng quả
Màu sắc quả
chín
Trọng lượng của
100 hạt (g)
H2
7
Tròn
Xanh 700
508
2
Tròn
Xanh 660
OC
4
Tròn
Xanh 915
344
508 6,6 9,6 360 11,7 208 10,1
660 4,95 27,0 270,5 18,8 143,3 25,2
344 6,0 13,8 319,1 17,6 168,3 18,9
741 6,2 2,4 386,6 12,0 171,6 7,3
246 6,4 16,1 355,7 20,7 176,4 34,1
TB 6,2 14,2 343 16,1 185,9 18,8
Variety
Số quả
đậu/gié
Số gié có
quả/cây
Tổng số
quả/cây
Trọng lượng
hạt (g)
Năng suất
(Kg/cây)
TL nhân
(%)
H2
7
70
490 7 3,43 30,5
508
3
80
Các nhà nghiên cứu Trung Quốc đã rất tích cực trong việc phát triển và lựa chọn các guống
cây phù hợp với các tỉnh phía Nam Trung Quốc. Một trong những giống đó là Guy Yan 1 hay
Gui Re 1 đã được trồng khảo nghiệm trong dự án. Dưới đây là các trích đoạn quan trọng từ 2
báo cáo nghiên cứu của Trung Quốc
Giống GUI RE 1 Hao đã được trồng ở Trung Quốc và được xem là giống tốt nhất. Giống này
đã được đưa vào khảo nghiệm trong khuôn khổ dự án này. Dưới đây là đoạn trích quan trọng
nói về giống cây này trong báo cáo được trình bày tại Hội thảo tại Đắk Lắk năm 2009 (Phụ
lục 8.1 8.2 – Các báo cáo đầy đủ)
Nghiên cứu Macadamia tại Long Châu về cải thiện các loại giống Macadamia đã mang lại kết
quả cho việc phát triển giống cây Gui Re 1 Hao.
Trạm Nhân giống Viện Nghiên cứu cây trồng Cận nhiệt
đới Guangxi bắt đầu nghiên cứu và
trồng hạt Macadamia từ những năm 1980. Trong nhiều năm qua, tiến hành lựa chọn các loại
giống và nay đã lựa chọn các giống tốt đã được cải tiến “Gui Re 1 Hao”.
Loại giống cải tiến này cho ra quả sớm hơn và bền vững, vụ mùa bội thu. Các hạt có kích
thước đồng đều và sản sinh các chùm quả như nhau, do vậy rất dễ thu hoạch. Đối chiếu chất lượng với những giống hạt Macadamia khác
Trọng lượng quả tươi:Kg
Giống
Năm
660 788 OC H2 GUI RE 1
Hao
2004 10.31 9.75 30.64 20.33 30.55
173 cm, độ dày trung bình của thân là 2,67 cm. Cây bắt đầu đậu quả vào năm thứ 3. Tỷ lệ sản
xinh hạt là 54%, nhân hạt là 37%, hạt loại 1 chiếm khoảng 99%. Hạt có kích cỡ đồng đều.
Trọng lượng trung bình của hạt có vỏ là 9,2 gram. Cây ghép giố
ng Gui Re 1 Hao có thể đậu
quả vào năm thứ 3 và vào năm thứ 10, sản lượng trung bình của 1 cây có thể đạt trên 15kg.
Dưới đây là những đoạn trích quan trọng từ một báo cáo có tiêu đề “Nghiên cứu Macadamia ở
Trung Quốc” của GS. Lu shaozhong, Viện Nghiên cứu cây trồng Nhiệt đới Nam Trung Quốc,
Zhanjiang đã được trình bày tại Hội thảo Macadamia ngày 24/10/2007 tại Ba Vì, Hà tây.
Sự khác nhau về sản lượng Macadamia giữa Trung Quốc, Hawaii và Úc
Năm 5 6 7 8 9 10 11
Trung Quốc kg/cây 0,7 1,4 2,5 3 6,5 2,4 6,6
kg/Ha 272 514 937 1116 2465 905 2475
Hawaii kg/cây 2,2 4,7 10,8 17,2 23,5 29,5 35,4
kg/Ha 393 824 1884 2982 4080 5100 6120
Úc kg/cây 1 2 4 6 8 10 12
kg/Ha 250 500 1000 1500 2000 2500 3000
Các giống được lựa chọn để trồng ở Trung Quốc:
(1)H2, tự lựa chọn (O.C)
(2)344, 788, 695, 333
Năm 1994, qua nghiên cứu cho thấy Trung Quốc có thể trồng Macadamia thành công. Chất
lượng nhân hạt có thể đạt ở mức trung theo tiêu chuẩn chất lượng quốc tế.
Tỷ lệ thành công
(%)
35-41 31-37 30-38
Tỷ lệ thành công trung bình theo địa bàn khảo nghiệm từ 5-12 năm Giống
Địa điểm/
Độ cao
Địa điểm/
Độ cao
Địa điểm/
Độ cao
Địa điểm/
Độ cao
Địa điểm
/
Độ cao
Địa điểm/
Độ cao
Địa điểm
/
1300 msl
246
25.6
27.6
20.0
19.3
25.2
30.3
25.9
333
23.9
26.6
21.7
21.4
22.4
28.9
29.6
29.9
660
29.8
28.5
27.9
24.3
30.8
37.0
34.4 20
741
27.5
30.0
27.7
22.6
21.4
25.8
30.0
25.3
HY
22.8
19.1
23.2
19.4
17.3
18.0
17.9
OC
Tỷ lệ hạt nhân trung bình khảo nghiệm địa điểm từ 5-12 năm Giống
Địa
điểm/ Độ
cao
Địa
điểm/ Độ
cao
Địa điểm/
Độ cao
Địa điểm/
Độ cao
Địa điểm/
Độ cao
Địa điểm/
Độ cao
Địa điểm/
Độ cao
1300 msl
246
29.8
30.8
26.5
29.7
34.7
35.9
33.2
333
28.3
28.4
24.0
27.6
28.3
33.9
33.4
33.1
660
31.7
30.3
27.8
32.7
36.4
39.0
36.1
741
30.4
32.0
31.1
28.2
28.4
29.3
31.5
29.0
HY
21.8
21.5
19.3
25.0
25.6
22.8
21.6
OC
32.3
21
6.5 Kết quả nghiên cứu khảo nghiệm giống của các nhà nghiên cứu Nam
Phi.
Dưới đây là những trích đoạn báo cáo về cây Macadamia của Nam Phi (Báo cáo đầy đủ trong
Phụ lục 10).
Đánh giá cây Macadamia tại Pietermaritzburg và việc xác nhận ở Nam Phi
P. Allan, Khoa học làm vườn, Đại học tổng hợp Natal, Nam Phi
Tóm tắt
Ban đầu, Macadamia được trồng ở Nam Phi là những cây Macadamia tetraphylla thực sinh,
đặc biệt là trong suốt giai đoạn đầu những năm 1960 (Allan, 1968; Reim, 1991). Tuy nhiên,
với kiến thức về cải thiện giống cây của M. integrifolia (Allan,1969a, b & c) và một số cây
ghép, cành ghép đã được nhập khẩu – có kiểm dịch vào Nam Phi trong suốt 35 năm qua. Trại
nghiên cứu Ukulinga, Trường Đại học Natal, Pietermaritzburg đã tiến hành đánh giá từ năm
1969. Các điểm khảo nghiệm giống đã
được thiết lập ở 5 vùng sinh thái khác nhau của Natal
(Allan, 1992), cũng như ở những vùng thảo nguyên thấp – hiện giờ là các tỉnh Mpumalanga
và Limpopo (Swanepoel và Hobson, 1999) và gần đây là ở KwaZulu/Natal (van Niekerk,
2001).
Những vấn đề trong việc phân biệt giữa các loại cây khác nhau đã dẫn tới việc phát triển các
giải pháp nhằm giúp xác định những giống cây khác nhau (Apostolides và Allan, 1997;
Simpson và Allan, 1998). Để tiếp tục hỗ trợ việc xác định các giống, một cuốn sách bao gồm
các hình ảnh nhiều màu v
ề các loại lá, hạt, hạt nhân, các chùm hoa và cây của 27 giống đại
diện ở Nam Phi và những giải pháp đã được xuất bản (Allan, 2001). Các kết quả đánh giá
giống cây tại Pietermaritzburg và mô tả ngắn gọn về các kỹ thuật xác định giống cây được
đưa vào tài liệu này.
KÉM
16.1 30
344 Kau 2.14 27.8 71.2 64 Tốt 43.7 25
508 Kakea 2.28 32.6 67.4 60 Tốt 24.9 30
660 Keaau 2.30 35.6 86.3 63 Xuất sắc 27.1 30
695 Beaumont 1.59 34.3 47.2 59 Tốt 4.3 8-25
741 Mauka (1 năm)
781
2.84 2.82
33.9 36.8
77.6 68.7 63 68 Rất tốt 0.1 22.4 3 20
788 Pahala 2.39 36.8 83.2 72 Xuất sắc 34.6 20
789 (1 năm) 2.38
33.9
94.0 53 Xuất sắc 0.9 3
790 Dennison 2.00 27.8 71.2 74 Xuất sắc 4.7 20
791 Fuji 2.56 31.5 60.9 58
KÉM
19.2 20
792 (chỉ trong 2002) 2.65 32.6 89.0 86 Tốt 0.1 5
800 Makai 2.43 32.9 77.7 66 Xuất sắc 16.6 10
812 mẫu nhỏ (1 năm) 2.24 39.0 96.7 50
KÉM
0.1 3
814 1.97 31.7 84.0 57 Tốt 24.5 7
816 2.72 35.1 68.3 72 Tốt 26.1 15
22
834 2.57 30.7 90.4 80 Xuất sắc 16.5 7
837 mẫu nhỏ (1 năm) 2.00 32.4 71.4 71 Tốt 0 3
suốt quá trình dự án và điều này nên tiếp tục được duy trì cho sự phát triển của ngành công
nghiệp Macadamia. Đây sẽ là vấn đề quan trọ
ng nhất và trách nhiệm quan trọng của những
người tham gia ngành công nghiệp này – những người đại diện cho Hiệp hội Macadamia Việt
Nam (MAV) và sự hỗ trợ của các tổ chức nghiên cứu và Bộ Nông nghiệp nhằm đảm bảo cho
sự phát triển của ngành công nghiệp này là những nhân tố chính. Báo cáo này gồm các phụ
lục là các quy trình quản lý và kết quả nghiên cứu chi tiết về các khảo nghiệm giống đã được
thiết kế
và thực hiện tại Úc và Nam Phi. (Phụ lục 5, 10 và 11). Tùy thuộc vào MAV trong
việc chỉ định Ủy ban Nghiên cứu và phát triển Macadamia đưa ra các ưu tiên nghiên cứu và
cơ cấu quản lý, với sự phối hợp của Bộ Nông nghiệp và hỗ trợ của các tổ chức nghiên cứu.
Bằng phương pháp hợp tác, dự án này đã hướng tới việc đề xuất và hỗ trợ mối quan hệ hợp
tác chặt chẽ gi
ữa các nhóm tham gia chính. Dự án cũng cung cấp những ví dụ cụ thể về mô
hình công nghiệp của Úc, cũng như tạo cơ hội xem xét các nước đang trồng Macadamia phát
triển ngành công nghiệp này như thế nào, đặc biệt là dưới góc độ nghiên cứu và phát triển.
Hiệp hội Macadamia ở Úc và Ủy ban Nghiên cứu và phát triển của Úc thành công trong việc
thúc đẩy và tham khảo các chương trình nghiên cứu xuất sắc, kể cả các khảo nghiệm giống
trên quy mô r
ộng. Họ đã có được hỗ trợ tài chính từ các thành viên, chính quyền địa phương
và chính quyền liên bang. Ngoài ra, họ cũng có sự hỗ trợ chuyên ngành của các tổ chức
nghiên cứu như CSIRO – nơi quản lý và tiến hành nghiên cứu trên cơ sở ưu tiên do AMS đưa
ra. Trang Web của AMS /> cung cấp thông tin chi tiết về viêc quản
lý và nghiên cứu đã tiến hành. Cũng có đường kết nối với các tổ chức tiến hành nghiên cứu và
hỗ trợ nghiên cứu.
7.1 Nghiên cứu về các giống Macadamia.
Sản lượng nhân hạt là nhân tố quan trọng nhất cho việc đánh giá và lựa chọn các giống tốt
nhất và phù hợp nhất đối với việc sản xuất hạt Macadamia kinh doanh.
quản lý phù hợp.
• Việc lựa chọn nên dựa vào tỷ lệ nhân hạ
t không vỡ cao, với tỷ lệ nhân hạt loại 1 đạt
trên 96%. Nhân hạt nên có màu đều, hình dạng tròn, ngay cả khi được sấy. Tỷ lệ nhân
hạt không vỡ nên khoảng trên 35% và đồng đều theo các năm, theo tỷ lệ cao, khoảng
trên 55% trong tổng số.
• Những đặc điểm mong đợi: cây chịu được gió, các cành không được sát vào nhau và
đậu quả sớm từ năm thứ 3 hoặc 4.
• Những sự khác biệt về
địa hình, cách thiết kế và hệ thống quản lý sẽ ảnh hưởng đến sự
phát triển của các giống cây.
• Khí hậu và các yếu tố thổ nhưỡng ảnh hưởng tới mỗi giống cây một cách khác nhau.
• Một số giống nên trồng xen trong các khu đất để giảm rủi ro và kéo dài thời gian thu
hoạch
• Xem xét thời gian thụ phấn và rụng hạt.
• Tính toán mật
độ trồng cây trên cơ sở kích thước cây (Cây tán rộng thì trồng thưa và
cây vút cao, hẹp tán thì trồng dày)
• Có thể xem xét tỷ lệ cao nhân hạt không vỡ trên diện tích 1 m2 vòm, đặc biệt đối với
việc trồng với mật độ cao. Điều này có thể cho biết về các sản lượng lâu dài.
• Có thể xem xét trồng mật độ dày đối với cây gốc ghép lùn.
ũng tham gia vào quá trình
lựa chọn các giống và có sự phối hợp với các cơ quan nghiên cứu. Bằng nguồn tài chính, mục
tiêu và động lực của những người tham gia này sẽ là điểm quan trọng cho sự phát triển ngành
công nghiệp Macadamia ở Việt Nam trong giai đoạn tới.
Vấn đề công nhận các giống phải không làm cản trở sự phát triển bền vững của ngành công
nghiệp Macadamia. Ngành công nghiệp này ở Úc không bị ảnh hưởng gì do vi
ệc không có
xác nhận giống. Giờ đây, chỉ cần xem xét chứng chỉ của các vườn ươm, quan trọng là có thêm
nhiều giống mới được cải thiện cho ngành công nghiệp này trong vòng 5 đến 10 năm tới.
Hiệp hội Macadamia Việt Nam và Bộ NN sẽ cần xây dựng chiến lược để giải quyết những
mối quan tâm chung và hỗ trợ ngành công nghiệp này tiếp tục phát triển trong tương lai.
9. Kết luận
Như là một kết quả trực tiếp của dự án, hiện nay Việt Nam đã có những giống Macadamia
thương mại tốt nhất được khảo nghiệm tại hơn 4 tỉnh phía Bắc Việt Nam và vùng tây nguyên.
Xin chân thành cảm ơn các cộng tác viên đã cung cấp cành ghép của các giống lựa chọn cho
việc khảo nghiệm này và để trồng ở các địa bàn dự án. Các cộng tác viên đó đến từ Úc, Trung
Quốc, Thái Lan và đã cung c
ấp 14 trong tổng số 17 giống đang được khảo nghiệm.
Rất tiếc thời gian khảo nghiệm quá ngắn nên không thể có được những khuyến nghị có giá trị
về những giống nào thích hợp nhất đối với Việt Nam. Cần phải có thêm 2 đến 3 năm nữa để
bắt đầu có được các số liệu ban đầu về loại giống nào là phù hợp nhất. Hiện nay, chưa có
thông số cho các loạ
i giống về các nhân tố ảnh hưởng tới cây Macadamia như sự sinh trưởng
và sức khỏe của cây (có thể đánh giá được), mà các số liệu này thường về vấn đề quản lý và
sự khác biệt về khí hậu.
FSI và WASI đang tiến hành một số công việc tốt trong theo dõi các điểm khảo nghiệm tại 10
tỉnh. Các số liệu và kết quả từ việc khảo nghiệm các giống (đặ
c biệt là những giống được