1
Hiệu quả kinh tế chăn nuôi bò sữa (CNBS) của các hộ nông dân
đồng bằng sông Hồng
TS. Nguyễn Văn Song*
TÓM TẮT
Chương trình phát triển đàn bò sữa được phát động từ năm 2000. Số đầu bò sữa trong toàn quốc đã tăng
đáng kể từ năm 2001 đến giữa năm 2004. Nhưng từ cuối năm 2004 đến nay, số đầu bò sữa giảm tương
đối nhanh. Nguyên nhân nào dẫn tới tình trạng này? Nghiên cứu này được tiến hành ở năm (5) tỉnh
Đồng Bằng Sông Hồng xung quanh thành phố Hà Nội với số mẫu điều tra là 449 hộ nông dân chăn nuôi
bò sữa. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, hầu hết các hộ nông dân chăn nuôi bò sữa hiện đang không có
lãi. Bắc Ninh, Hà Nội và Vĩnh Phúc là các tỉnh mà các hộ nông dân chỉ đạt được điểm hoà vốn hoặc có
lãi nhưng lãi rất thấp. Hà Nam và Hà Tây là hai (2) tỉnh ở đó, các hộ nông dân chăn nuôi bò sữa đang bị
lỗ, số đầu bò sữa giảm mạnh. Nghiên cứu cũng cho phép kết luận, quy mô đàn bò có thể có lãi phải từ 4
con trở lên. Có nhiều nguyên nhân dẫn tới hiện tượng nuôi bò sữa không mang lại hiệu quả kinh tế,
nhưng nguyên nhân quan trọng nhất đó là các hộ nông dân thiếu hiểu biết về kỹ thuật chọn giống, chăm
sóc và thị trường trong chăn nuôi bò sữa.
1. Đặt vấn đề
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn đang diễn ra mạnh mẽ trong
những năm gần đây. Chăn nuôi bò sữa đã góp phần nâng cao thu nhập của các hộ nông
dân đồng thời thúc đẩy quá trình sản xuất hàng hoá trong nông thôn. Chương trình phát
triển chăn nuôi bò sữa quốc gia lập kế hoạch phát triển đàn bò sữa từ 38,000 con năm
2001 tới 200,000 con vào năm 2010. Đồng thời tăng sản lượng sữa bò từ 64,000 tấn
năm 2001 đến 350,000 tấn năm 2010 (09/2000/NQ-CP). Để đạt những mục đích phát
triển đàn bò sữa và sản lượng sữa đến năm 2010, chương trình phát triển phụ thuộc vào
rất nhiều nhân tố. Trong đó hiệu quả kinh tế cuả chăn nuôi bò sữa là nhân tố quan trọng
nhất phát triển chương trình bền vững.
Mục đích của nghiên cứu: Đánh giá hiệu quả kinh tế của nông dân nuôi bò sữa vùng
châu thổ sông Hồng, phân tích những thuận lợi, khó khăn của các hộ chăn nuôi bò sữa
nhằm nâng cao thu nhập của các hộ gia đình và chương trình chăn nuôi bò sữa phát
Hà
Nội
Hà
Tây
Vĩnh
Phúc
Bình
quân
Tổng thu
ngàn đ
27.305 24.818 16.562 23.786 33.819 25.298
T
ổng chi
ngàn đ
26.312
25.425
14.895
26.670
31.370
24.963
Giá trị công LĐ gia
đình
ngàn đ
380
0
0
Giá trị công LĐ gia đình
3.420
2.720
760
Lãi (+)
; L
ỗ (
-
)
710
-723
-1.205
Nguồn: Tổng hợp từ số liệu điều tra 2005
Quan tâm tới hiệu quả kinh tế hiện nay, chỉ có hộ giàu có lãi do quy mô đàn lớn hơn,
còn hộ khá không và hộ nghèo đang bị lỗ trong CNBS. Hộ khá và hộ nghèo CNBS bị
Gi
á tr
ị SP/1ng
ày công LĐ
1000 đ 162
127
174
170
258
173
Thu nhập HH/1 ngày công LĐ
1000 đ 26
17
38
-1
39
22
-0,02
0,11
-0,11
0,08
0,01
Nguồn: Tổng hợp từ số liệu điều tra 2005
Xét hiệu quả của chi phí sản xuất ta thấy, giá trị sản phẩm tính trên 1 đồng chi phí sản
xuất bình quân chung là 1,01 đồng. Nghĩa là khi bỏ ra 1 đồng chi phí sản xuất sẽ tạo ra
1,01 đồng giá trị sản phẩm. Hay nói cách khác 1 đồng chi phí sản xuất sẽ cho 0,13
đồng thu nhập hỗn hợp. Trong số các tỉnh nghiên cứu thì lãi/1 đồng chi phí của Bắc
Ninh là 0,04 đồng, Hà Nam lỗ 0,02 đồng, Hà Nội lãi 0,11 đồng, Hà Tây lỗ 0,11 đồng,
Vĩnh Phúc lãi 0,08 đồng, (xem bảng 3).
Người chăn nuôi bò sữa ở các địa phương nếu có lấy công làm lãi là lấy từ giá trị của
bê cái đẻ ra chứ không phải chăn nuôi bò sữa để lấy sữa bán. Tuy nhiên, chăn nuôi bò
sữa vẫn tồn tại bởi một số lý do. Thứ nhất, bò sữa là tài sản cố định có giá trị khá lớn,
thời gian sử dụng khá lâu (khoảng 10 năm) cho nên không dễ gì người chăn nuôi nay
đầu tư, mai bị lỗ lại có thể bán ngay được. Thứ hai, trong điều kiện thiếu việc làm
nghiêm trọng như hiện nay ở khu vực nông thôn, bò sữa dù sao cũng đã tạo được một
số việc làm ổn định cho người dân, cho dù chăn nuôi bò sữa không có lãi hoặc lãi suất
thấp thì người dân vẫn coi tiền thu nhập từ bán sản phẩm của bò sữa là khoản thu nhập
"bỏ ống" để giải quyết những việc thật cần thiết của gia đình khi mà họ không hề có
một khoản tích luỹ nào khác. Dù sao khoản tiền này không lớn nhưng có còn hơn là
ngồi chơi không có tiền. Thứ ba, chăn nuôi bò sữa ít lãi nhưng nếu gia đình tự sản xuất
được một số thức ăn cho bò sữa thì phần thu nhập từ sản xuất thức ăn cũng được coi là
một khoản thu nhập cho họ. Thứ tư, khi mà trình độ hạch toán sản xuất của người dân
Trong điều kiện hiện nay, giá thức ăn hỗn hợp tăng nhanh hơn sự tăng lên của giá sữa
và chi phí cố định quá cao nên CNBS hiện không có lãi, có nhiều địa phương bị thua
lỗ. Quy mô về số lượng bò sữa bình quân/hộ hiện nay từ 4 con trở lên mới bắt đầu có
hiệu quả điều này ảnh hưởng chủ yếu từ hiệu quả phân phối (hiệu quả giá). Hộ giàu
CNBS có hiệu quả, hộ khá và hộ nghèo hiện đang bị lỗ. Tỉ lệ số hộ nghèo tham gia
chăn nuôi bò sữa còn rất thấp, chỉ chiếm 18,2% số hộ nuôi bò sữa và hầu hết bị lỗ do
kinh nghiệm, kỹ thuật và quy mô đàn không hợp lý, do vậy chương trình chăn nuôi bò
sữa đang và chưa phải là chương trình cho người nghèo. TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. K. Suzuki and et el. _____. Comparison of the characteristics of dairy and non-dairy farming
households in a rural smallholder community in northern Vietnam. Unpublished.
2. Luong Tan Nho and et el. 2004. Study on competition capacity of dairy cattle production sector of
Vietnam. Unpublished.
3. Pham Quang Dieu and Nguyen Trung Kien. 2004. From martial base development toward rural
industrialization: The case of nestle and Dairy Household in Hatay Province. Unpublished.
4. Resolution No. 09/2000/NQ-CP Dated June 15, 2000.