ảnh hưởng của chế độ và phương thức nuôi dưỡng đến năng suất và hiệu quả
kinh tế chăn nuôi bò sữa nông hộ
trong mùa hè tại Ba Vì
Đinh Văn Tuyền,
1
Nguyễn Hữu Lương, Nguyễn Viết Đôn, Nguyễn Xuân Thành
Bộ môn Dinh dưỡng, Thức ăn Chăn nuôi và Đồng cỏ;
1
Trung tâm nghiên cứu Bò và Đồng cỏ Ba Vì
Tãm t¾t
Một thí nghiệm nhằm tìm hiểu ảnh hưởng của chế độ và phương thức nuôi dưỡng đến năng suất và hiệu
quả kinh tế chăn nuôi bò sữa nông hộ trong mùa hè tại Ba Vì đã được tiến hành trêntrên 15 bò cái lai HF ở lứa sữa
thứ 2 -5 và tháng vắt sữa 3-7. Bò thí nghiệm có khối lượng trung bình 487,5 kg và năng suất sữa 15,2 lít/ngày.
Trước khi ăn khẩu phần thí nghiệm bò ở tất cả các lô được theo dõi năng suất và đánh giá chất lượng sữa trong vòng
2 tuần làm số liệu đồng tham số (covariate) đối với các chỉ tiêu này.
Kết quả cho thấy: Phương thức và chế độ dinh dưỡng không có ảnh hưởng đáng kể đến hiệu quả sinh học
đối với bò vắt sữa giai đoạn 3-7 tháng của chu kỳ sữa nuôi tại các nông hộ ở Ba Vì trong điều kiện mùa hè. Tuy
nhiên với giá cả nguyên liệu và thu mua sữa như hiện nay thì việc nuôi theo chế độ dinh dưỡng được xây dựng dựa
trên tiêu chuẩn của NRC (2001) kết hợp với tiêu chuẩn của NARO (2006) trong điều kiện mùa hè cho hiệu quả kinh
tế cao hơn nuôi theo chế độ dinh dưỡng do các hộ chăn nuôi tự xây dựng.
1. §Æt vÊn ®Ò
Kinh tế ngày càng phát triển kéo theo nhu cầu tiêu thụ sữa ngày càng tăng. Để đáp ứng
nhu cầu tiêu thụ sữa trong nước, hàng năm chúng ta phải chi phí hàng trăm triệu đô la để nhập
khẩu từ nước ngoài. Trong khi đó năng suất và chất lượng sữa sản xuất trong nước vẫn còn thấp
và có tiềm năng lớn để phát triển thông qua cải tiến chế độ dinh dưỡng và phương thức chăn
nuôi. Với mục tiêu nâng sản lượng sữa sản xuất trong nước lên 701.200 tấn vào năm 2015 (Bộ
NN&PTNT, 2008), ngoài việc tăng cường nghiên cứu và sản xuất con giống thì việc nghiên cứu
để cải tiến dinh dưỡng và phương thức cho ăn nhằm làm tăng năng suất của đàn bò là việc làm
cấp thiết.
nhm ỏnh giỏ hiu qu ca cỏc ch v phng thc nuụi dng khỏc nhau ỏp dng cho n
bũ sa nụng h ti Ba Vỡ, H Ni trong iu kin mựa hố.
2. Vật liệu và ph-ơng pháp nghiên cứu
2.1. i tng, a im v thi gian thớ nghim
Thớ nghim tin hnh ti cỏc hc chn nuụi bũ sa thuc Trung tõm Nghiờn cu bũ v
ng c Ba Vỡ trong thi gian 2 thỏng, t thỏng 7 n thỏng 9 nm 2009 trờn 15 bũ cỏi lai HF
la sa th 2 -5 v thỏng vt sa 3-7. Bũ thớ nghim cú khi lng trung bỡnh 487,5 kg v nng
sut sa 15,2 lớt/ngy. Trc khi n khu phn thớ nghim bũ tt c cỏc lụ c theo dừi nng
sut v ỏnh giỏ cht lng sa trong vũng 2 tun lm s liu ng tham s (covariate) i vi
cỏc ch tiờu ny.
2.2. Thit k thớ nghim
Thớ nghim c thit k theo dng ụ vuụng latin khuyt vi 3 nghim thc v 2 t thớ
nghim. Mi t thớ nghim kộo di 30 ngy gm 2 giai on l giai on thớch nghi trong 20
ngy u v giai on thu thp s liu trong 10 ngy cui. Trong mi t thớ nghim gia sỳc
c b trớ theo dng khi nhu nhiờn hon chnh (CRBD) trong ú bũ thớ nghim c phõn
chia vo 5 khi, mi khi 3 con da vo yu t thỏng sa v nng sut sa. Gia sỳc thớ nghim
trong mi khi li c phõn ngu nhiờn vo 1 trong 3 nghim thc (lụ thớ nghim) khỏc nhau v
ch dinh dng hoc phng thc cho n. Bũ lụ 1 c n khu phn i chng (gi
nguyờn khu phn v cỏch cho n hin ang c c s chn nuụi s dng); bũ lụ 2 n khu
phn cú mc nng lng v protein ỏp ng nhu cu cho tng cỏ th theo tiờu chun ca
NRC (2001) cú tham kho tiờu chun ca Nht Bn (NARO, 2006) v AFRC (1993) nhng cho
n theo phng thc truyn thng (tinh thụ riờng bit); v bũ lụ 3 n khu phn cú mc nng lượng và protein đáp ứng đủ nhu cầu cho từng cá thể theo tiêu chuẩn của NRC (2001) có tham
khảo tiêu chuẩn của Nhật Bản (NARO, 2006) và AFRC (1993) và áp dụng phương thức cho ăn
khẩu phần dạng thức ăn hoàn chỉnh TMR. Bò ở tất cả các lô thí nghiệm được nuôi nhốt cá thể,
mỗi con có máng ăn và máng uống riêng. Sơ đồ bố trí gia súc thí nghiệm vào các lô trong mỗi
đợt thí nghiệm được trình bày ở Bảng 1.
Bảng 1. Sơ đồ bố trí gia súc thí nghiệm
chứng chỉ được xác định sau khi kết thúc thí nghiệm còn khẩu phần lô 2 và lô 3 được xây dựng
trước khi bắt đầu thí nghiệm.
Khẩu phần ăn của bò trong các lô thí nghiệm (trừ lô đối chứng) được xây dựng dựa trên
năng suất, chất lượng sữa và khối lượng cơ thể tại thời điểm bắt đầu mỗi đợt thí nghiệm và kết
quả xác định thành phần hóa học của các nguyên liệu thức ăn. Thành phần hóa học của các
nguyên liệu thức ăn sử dụng trong thí nghiệm được trình bày ở Bảng 2 còn công thức khẩu phần
(tính trung bình cho cả 2 đợt thí nghiệm) của các nghiệm thức được trình bày tại Bảng 3. Do bò ở
lô 1 được cho ăn theo hiện trạng của các hộ trong đó có hộ không cho ăn bã bia còn có hộ không
cho ăn bột ngô nên giá trị trung bình nhỏ hơn giá trị độ lệch chuẩn. Cách trộn thức ăn và cho ăn
được tiến hành giống như trong thí nghiệm của Nguyễn Hữu Lương và cộng sự (2010). Các chỉ
tiêu theo dõi bao gồm lượng thức ăn ăn vào, năng suất sữa, chất lượng sữa, thay đổi khối lượng
cơ thể, chi phí thức ăn cho sản xuất sữa và hiệu quả kinh tế; cách xác định như trong báo cáo của
Nguyễn Hữu Lương và cộng sự (2010).
Bảng 2. Thành phần hóa học các nguyên liệu thức ăn dùng trong thí nghiệm
1
(%)
Tên mẫu
DM
CP
Mỡ
Xơ
NDF
ADF
Khoáng
Ca
P
ME Cỏ voi
0,19
12,8
Bột sắn
89,2
2,9
1,6
8,5
25,6
8,7
4,7
0,15
0,21
12,8
Bã bia
22,7
30,6
7,1
15,6
31,9
25,1
4,0
0,15
0,63
10,7
Đậu tương
91,2
41,8
15,5
8,5
14,9
43,0±8,69
45,6±14,03
Cám 005
6,20±1,48
3,1±0,67
3,1±0,44
Bã bia
1,9±1,82
3,1±0,22
2,9±0,22
Ngô
1,4±1,92
0,4±0,65
0,3±0,48
Đậu tương
-
1,1±0,85
1,4±0,41
Sắn
-
1,9±1,09
1,8±0,9
Rĩ mật
-
1,0±0,0
1,0±0,0
Dầu ăn
-
0,10±0,12
0,13±0,05
3.1. Thu nhận thức ăn của bò thí nghiệm
Bảng 4. Lượng thức ăn thu nhận của bò ở các lô thí nghiệm
Lô 1
Lô 2
Lô 3
SEM
LSD
P
Vật chất khô (kg/ngày)
14,65
15,72
15,05
0,777
2,394
0,624
Vật chất khô (% KLCT)
3,04
3,33
3,11
0,27
0,831
0,735
Protein thô (kg/ngày)
1,45
a
1,77
ab
7,93
b
6,20
a
0,536
1,577
0,042
Chất khô thức ăn thô (kg/ngày)
7,57
7,79
8,85
0,797
2,454
0,592
Tỷ lệ thức ăn tinh (% tổng DMI)
48,9
a
50,0
a
41,6
b
2,51
6,88
0,046
phần cho ăn. Kết quả này phù hợp với nhận xét của Snowdon (1991), Neitz và Dugmore (2005)
và Lammer và cộng sự (2007), rằng phương thức sử dụng TMR trong chăn nuôi bò sữa cao sản
làm tăng hiệu quả sử dụng thức ăn so với phương thức cho ăn các loại thức ăn riêng biệt.
Tương tự như trong nghiên cứu của Nguyễn Hữu Lương và cộng sự (2010), mức protein
và ME tiêu thụ cao hơn so với nhu cầu của NRC (2001) và NARO (2006) áp dụng cho bò HF
thuần có mức khối lượng, năng suất sữa và tăng trọng tương tự. Theo các tiêu chuẩn này thì bò
khối lượng 450-500 kg cho năng suất sữa và tăng trọng như ở lô 1 sẽ cần 1,373 kg protein thô và
111,89 MJ ME, lô 2 cần 1,645 kg CP và 117,8 MJ ME còn lô 3 cần 1,793 kg CP và 127,6 MJ
ME để tăng trọng 0,07; 0,43; 0,41 kg/ngày và sản xuất lượng sữa tiêu chuẩn 12,8; 11,6 và 13,7
kg tương ứng cho lô 1, 2 và 3. Thực tế cho thấy bò ở lô 1 ăn vào 144,2 MJ và 1,45 kg protein thô
(nhiều hơn so với tiêu chuẩn là 32,3 MJ và 0,076 kg CP), còn bò lô 2 là 152,3 MJ và 1,77 kg CP
(cao hơn lần lượt 34,5 MJ và 0,125 kg CP) và bò lô 3 là 146,6 MJ và 1,95 kg CP, nhiều hơn 19
MJ ME và 0,159 kg CP so với tiêu chuẩn. Nếu tính trung bình cho cả 3 lô thì hàm lượng ME
thực tế ăn vào cao hơn xấp xỉ 24% so với nhu cầu, trong khi nếu tính riêng cho bò ở từng lô thì
tỷ lệ này cao nhất ở lô 2 (29,3%), tiếp đến là lô 1 (28,9%) và cuối cùng là lô 3 (14,9%). Như vậy
kết quả thí nghiệm này góp phần củng cố thêm cho nhận định của Nguyễn Hữu Lương và cộng
sự rằng nhu cầu năng lượng và protein của bò sữa lai HF nuôi tại Ba Vì cao hơn so với các nhu
cầu đưa ra bởi các tiêu chuẩn trên và nguyên nhân là do sự khác nhau về kiểu gen và vùng sinh
thái giữa bò ở thí nghiệm này và bò được sử dụng để xác định nhu cầu dinh dưỡng trong các tiêu
chuẩn trên. Agnew và cộng sự., (2003) cho rằng quá trình chọn giống đã dẫn đến nhu cầu năng
lượng trao đổi cho duy trì của bò sữa hiện nay cao hơn 25% so với giá trị xác định cách đây
khoảng 20 năm bởi AFRC (1993). Ngoài ra điều kiện nắng nóng trong mùa hè tại Ba Vì cũng có
thể là một phần nguyên nhân dẫn đến nhu cầu của bò sữa ở đây cao hơn so với tiêu chuẩn. NRC
(2001) ước tính tùy vào mức độ nặng nhẹ mà stress nhiệt có thể làm tăng nhu cầu năng lượng
cho duy trì từ 7 đến 25%.
3.2. Năng suất và chất lượng sữa của bò thí nghiệm
Năng suất sữa của bò ở các lô thí nghiệm được trình bày ở Bảng 5 cho thấy mặc dù có sự
khác nhau về trị số tuyệt đối nhưng không có sự sai khác về mặt thống kê ở bất cứ chỉ tiêu phân
tích nào giữa các lô thí nghiệm. Tính trung bình cả ngày bò lô 1 có năng suất 12,5 kg/con trong
khi bò ở lô 2 là 12,9 kg và lô 3 là 13,3 kg/con. Khi qui ra sữa tiêu chuẩn (4% mỡ sữa) thì năng
SEM
LSD
P
Năng suất sữa sáng (kg)
5,9
6,0
6,3
0,53
1,23
0,97
Năng suất sữa chiều (kg)
6,7
6,9
7,0
0,18
0,57
0,98
Năng suất sữa ngày (kg)
12,5
12,9
13,3
0,33
1,10
0,97
Năng suất sữa tiêu chuẩn (kg
sữa 4% mỡ/ngày)
11,9
12,5
13,5
0,67
0,482
0,577
Chi phí protein thô (kg/kg sữa
tiêu chuẩn)
0,122
0,142
0,156
0,015
0,045
0,267
Chi phí năng lượng (MJ ME/kg
sữa tiêu chuẩn)
12,2
12,2
11,8
1,39
4,30
0,568
Kết quả phân tích chất lượng sữa trình bày ở Bảng 6 cho thấy trong thí nghiệm này chế
độ và phương thức nuôi dưỡng không gây ảnh hưởng đáng kể đến hàm lượng mỡ, protein và chất rắn không mỡ của bò thí nghiệm. Tính trung bình, bò ở lô 3 cho hàm lượng mỡ sữa (4,02%) cao
hơn bò lô 1 (3,95%) và lô 2 (3,96%). Tuy nhiên hàm lượng chất rắn không mỡ của bò ở lô 2 lại
cao hơn so với 2 lô còn lại do đó tỷ lệ chất khô trong sữa của lô 2 là cao nhất (12,12%), còn của
lô 1 là thấp nhất (11,85%). Hàm lượng chất khô trong sữa là chỉ tiêu chất lượng có ảnh hưởng
đáng kể đến giá thu mua sữa của công ty Vinamilk. Do đó mặc dù không có sự sai khác về mặt
thống kê nhưng sự khác nhau về trị số tuyệt đối của chỉ tiêu này giữa các lô thí nghiệm vẫn được
coi là yếu tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả kinh tế của chăn nuôi bò sữa ở mức độ
0,312
0,94
Tỷ lệ vật chất khô sữa (%)
11,85
12,12
12,06
0,298
0,929
0,91
Tỷ trọng sữa
27,5
28,1
27,5
0,63
1,95
0,722
3.3. Mức thay đổi khối lượng và hiệu quả kinh tế
Kết quả xác định mức thay đổi khối lượng cơ thể của bò ở các lô thí nghiệm cho thấy bò
ở lô đối chứng tăng trung bình 2,0 kg/con/tháng còn bò lô 2 tăng 13,0 kg/con/tháng và bò lô 3
tăng 12,4 kg/con/tháng (Bảng 7). Mức tăng khối lượng này cao hơn đáng kể so với dự kiến ban
đầu, trong đó bò ở lô 2 có mức tăng trung bình 2,4 kg/con/tháng còn bò lô 3 không tăng trọng.
Như vậy một phần đáng kể chất dinh dưỡng trong khẩu phần đã được bò ở các lô thí nghiệm 2 và
3 sử dụng để tăng trọng lượng thay vì sản xuất sữa. Mức tăng trọng thực tế cao hơn dự kiến cho
thấy dinh dưỡng không phải là nguyên nhân dẫn đến việc năng suất sữa của bò trong giai đoạn
thí nghiệm (12-13,9 kg/ngày; Bảng 4) giảm đi khá nhiều so với giai đoạn trước khi thí nghiệm
(15,2 kg/ngày). Yếu tố thời tiết có thể là tác nhân chính gây nên hiện tượng này. Trong thời gian
thí nghiệm chúng tôi quan sát thấy vào những ngày nắng nóng, bò thường có biểu hiện stress
nhiệt và cho năng suất sữa thấp hơn đáng kể so với những ngày thời tiết mát mẻ. Tuy nhiên việc
đánh giá mức độ ảnh hưởng của stress nhiệt đến năng suất sữa nằm ngoài phạm vi của nghiên
cứu này.
Mức tăng khối lượng dự kiến (kg/tháng)
2,4
0,0
Chênh lệch giữa mức tăng dự kiến so với
thực tăng (kg)
10,6
12,4
Để xác định hiệu quả kinh tế của việc nuôi dưỡng theo chế độ và phương thức TMR so
với chế độ nuôi theo kinh nghiệm của các hộ bò sữa tại Ba Vì trong điều kiện mùa hè, chúng tôi
tiến hành xác định chi phí thức ăn cho 1 con/ngày (Bảng 8) và hiệu quả về kinh tế cho mô hình 5
bò vắt sữa như trong thí nghiệm này (Bảng 9). Kết quả cho thấy với chế độ cho ăn như trong
nghiên cứu này thì chi tiền thức ăn cho bò ở lô 1 là 61.958 đồng/ngày, ở lô 2 là 61.822
đồng/ngày và lô 3 là 64.856 đồng/ngày; chi phí tiền thức ăn cho bò ở lô 3 cao hơn lô 1 là 2898
đồng và cao hơn lô 2 là 3.034 đồng/con/ngày. Với năng suất sữa trung bình của các lô lần lượt là
12,8; 12 và 13,9 kg/con/ngày thì chi phí tiền thức ăn trung bình là 5206,6 đồng, 4945,8 đồng và
4804,1 đồng/kg sữa cho bò ở các lô 1, 2, 3 tương ứng. Như vậy mặc dù tổng chi phí tiền thức ăn
trên ngày cho bò ở lô 3 cao hơn lô 1 và lô 2 nhưng giá thành thức ăn khi tính trên 1 kg sữa lại
thấp hơn đáng kể với lần lượt là 402 đồng và 142 đồng thấp hơn.
800
1,9±1,82
3,1±0,22
2,9±0,22
1.520±1.453
2.480±179
2.320±179
Bột ngô
5.500
1,4±1,92
0,4±0,65
0,3±0,48
7.590±10.539
2.200±3.586
1.870±2.626
Đậu tương
11.000
-
1,1±0,85
1,4±0,41
-
12.540±9.321
15.180±4.562
Bột sắn
1800
-
1,9±1,09
1,8±0,9
-
3.348±1.966
61.958±20.882
61.822±21.352
64.856±13.052
Với giả thiết chi phí cố định (con giống, chuồng trại) của các lô thí nghiệm là như nhau,
thì để nuôi theo phương thức cho ăn TMR người chăn nuôi phải đầu tư thêm máy thái cỏ và máy
trộn TMR với tổng chi phí khoảng 30 triệu đồng. Nếu tính khấu hao máy trong thời gian 6 năm
và mức lãi suất vay ngân hàng 14%/năm thì chi phí cố định ở lô 3 sẽ cao hơn 2 lô còn lại là
25.205 đ/ngày (bao gồm khấu hao máy móc 13.698 đ và lãi suất ngân hàng 11.507 đ/ngày).
Ngoài ra việc vận hành các loại máy này cũng làm chi phí tiền điện cho bò ở lô 3 tăng thêm 1073
đ/con/ngày (ở mức giá điện 1000 đ/KWh). Như vậy tổng các khoản chi phí phải đầu tư thêm khi
nuôi bằng phương thức TMR ở qui mô 5 bò vắt sữa so với lô 1 (chế độ dinh dưỡng của hộ chăn
nuôi tự xây dựng và cho ăn theo phương thức truyền thống tinh-thô riêng biệt) và lô 2 (chế độ
dinh dưỡng theo tiêu chuẩn NRC và cho ăn theo phương thức truyền thống tinh-thô riêng biệt)
lần lượt là 45.060 đ/ngày và 45.740 đ/ngày. Với giá bán sữa theo cơ chế thu mua của Công ty
sữa Vinamilk có tính đến chất lượng sữa là khoảng 7950 đ/kg đối với sữa bò lô 1 (mỡ trên 3,5%
và chất khô dưới 12%), 8300 đ/kg sữa bò lô 2 (3,5% <mỡ <4%) và chất khô trên 12%) và 8400
đồng/kg sữa bò lô 3 (mỡ trên 4% và chất khô trên 12%) thì tổng thu từ bán sữa của lô 3 cao hơn
lô 1 và lô 2 lần lượt là 61.720 đồng và 23.250 đồng/ngày. Như vậy với hiệu số tăng thu trừ tăng
chi của lô 3 so với lô 1 và lô 2 lần lượt là 16.650 đồng và -22.490 đồng/ngày (Bảng 9), việc đầu
tư máy móc và cho ăn theo phương thức TMR không đem lại hiệu quả kinh tế cho hộ chăn nuôi
bò sữa tại khu vực Ba Vì trong mùa hè khi qui mô đàn nhỏ (5 bò vắt sữa). Kết quả ở Bảng 9
cũng cho thấy mặc dù tổng chi phí biến động (thức ăn và năng lượng) cho bò ở lô 2 thấp hơn
680đ/ngày nhưng tổng thu tiền bán sữa lại cao hơn 38.475 đồng/ngày so với lô 1. Do đó với qui
mô 5 con vắt sữa/ngày thì việc xây dựng khẩu phần theo tiêu chuẩn của NRC (2001) và NARO
(2006) có thể làm tăng lợi nhuận cho hộ chăn nuôi bò sữa.
Kết quả nghiên cứu này cũng phù hợp với nghiên cứu trước của Nguyễn Hữu Lương và
cộng sự (2010) khi tiến hành thí nghiệm tương tự tại các hộ chăn nuôi bò sữa ở Ba Vì trong mùa
334.645
Chi phí điện (đ/ngày)
5000
5000
10366
Thu bán sữa (đ/ngày)
2
496.875
535.350
558.600
Tăng chi cố định (đ/ngày)
0
0
25205
Tăng chi biến động (TĂ + năng lượng; đ/ngày)
Lô 3 (TMR) so với lô 2 20.535
Lô 3 (TMR) so với lô 1 19.855
23.250
Lô 3 (TMR) so với lô 1 61.725
Lô 2 so với lô 1
38.475
Tăng thu – Tăng chi (đ/ngày)
Lô 3 (TMR) so với lô 2 -22.490
Lô 3 (TMR) so với lô 1 16.665
Lô 2 so với lô 1
3. ARC (1984). The Nutrient Requirements for Ruminant Livestock. Suppl 1. Commonwealth Agricultural
Bureau, Slough, UK.
4. Bộ NN&PTNT. 2008. Chiến lược phát triển chăn nuôi đến năm 2020. Hà Nội, 2008.
5. INRA (1989). Ruminant Nutrition recommended allowance and Feed Tables, INRA, Paris, France.
6. Kearl, L. C. (1982). Nutrient Requirements of Ruminants in Developing Countries. International Feedtuffs Institute.
Utah Agricultural Experiment Station. Utah State University, Logan, USA.
7. Lammers, B.P., Heinrichs, A.J., Ishler, V.A (2007). Use of total mixed rations (TMR) for dairy cows.
www.das.psu.edu/dairynutrition/documents/tmr.pdf .
8. Lawes Agricultural Trust (2007). Genstat Discovery Edition 3.
9. NARO (2006). Japanese Feeding Standard for Dairy Cattle. Japan Livestock Industry Association.
10. Neitz, M.H and Dugmore, T. J (2005). Total mixed rations for dairy cattle.
http://agriculture.kzntl.gov.za/portal/Publications/ProductionGuidelines/DairyinginKwaZuluNatal/TotalMi
xedRationsforDairyCattle/tabid/254/Default.aspx
11. NRC (1989). Nutrient requirements of dairy cattle: Sixth Revised Edition. National Academy Press
Washington D.C.
12. NRC (2001). Nutrient requirements of dairy cattle: Seventh Revised Edition. National Academy Press
Washington D.C.
13. Pozy, P., Dehareng, D và Vũ Chí Cương (2002). Nuôi dưỡng bò ở Miền Bắc Việt nam; Nhu cầu dinh
dưỡng của bò và giá trị dinh dưỡng của thức ăn. 124 trang, Nhà xuất bản Nông nghiệp. 14. Snowdon, M (1991). Total Mixed Rations for Dairy Cattle. Livestock Nutrition. Issue 91.3, July, 1991.
www.gnb.ca/0170/01700007-e.asp
15. Viện Chăn nuôi (2001). Thành phần hoá học và giá trị dinh dưỡng thức ăn gia súc gia cầm Việt nam. Nhà
xuất bản Nông nghiệp.
16. Nguyễn Hữu Lương, Đinh Văn Tuyền, Ngô Đình Tân, Nguyễn Xuân Thành (2010). Ảnh hưởng của chế độ
dinh dưỡng và phương thức cho ăn đến hiệu quả sinh học và hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi bò sữa nông
hộ tại Ba Vì. Báo cáo khoa học trình bày tại Hội nghị khoa học năm 2009 của Viện Chăn nuôi.