TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
NGUYỄN THỊ DƯƠNG
ẢNH HƯỞNG CỦA KHỐI LƯỢNG HEO NÁI
ĐẺ LỨA 1 ĐẾN NĂNG SUẤT SINH SẢN
Ở GIAI ĐOẠN NUÔI CON
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH: CHĂN NUÔI - THÚ Y
2013
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
Cần Thơ, ngày…tháng…năm2013 Cần Thơ, ngày… tháng…năm2013
CÁN BỘ HƯỚNG
DẪN
DUYỆT BỘ
MÔN
Ths. TRƯƠNG CHÍ SƠN
Cần Thơ, ngày… tháng… năm 2013
DUYỆT KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG
DỤNG
i
LỜI CẢM TẠ
Tôi xin chân thành biết ơn:
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cha mẹ và chị hai trong gia đình đã tạo
mọi điều kiện cho tôi hoàn thành tốt công việc học tập.
Ban giám hiệu trường Đại học Cần Thơ cùng quý thầy cô bộ môn Chăn Nuôi,
bộ môn Thú y đã tạo điều kiện và truyền đạt kiến thức kinh nghiệm quý báu
trong suốt thời gian học tập tại trường Đại học Cần Thơ.
Thầy Trương Chí Sơn là thầy hướng dẫn cũng đồng thời là Cố vấn học tập đã
tạo mọi điều kiện, tận tình hướng dẫn và truyền đạt những kinh nghiệm quý
báu giúp tôi hoàn thành luận văn này.
iii
LỜI CAM KẾT KẾT QUẢ
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân. Các số liệu, kết
quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong
bất kỳ công trình nghiên cứu nào trước đây.
Tác giả luận văn Nguyễn Thị Dương
iv
MỤC LỤC
Tóm tắt ii
Chương 1: Giới thiệu 1
Chương 2: Tổng quan tài liệu 2
2.1 Đặc điểm các giống heo 2
2.1.1 Giống heo ngoại thuần 2
2.1.2 Giống heo nội 4
2.1.3 Giống heo lai 6
2.2 Đặc điểm sinh lý sinh sản của heo nái 6
2.2.1 Tuổi động dục đầu tiên 6
2.2.2 Sự thành thục về thể vóc 7
2.7.3 Các chất bổ sung 33
2.8 Một số bệnh thường gặp ở heo con 34
2.8.1 Tiêu chảy ở heo con 34
2.8.2 Bệnh đường hô hấp 34
2.8.3 Bệnh ghẻ 34
2.8.4 Bệnh về khớp 34
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu 35
3.1 Phương tiện thí nghiệm 35
3.1.1 Thời gian và địa điểm thí nghiệm 35
3.1.2 Chuồng trại 36
3.1.3 Đối tượng thí nghiệm 37
3.1.4 Dụng cụ thí nghiệm 37
3.1.5 Thức ăn dùng trong thí nghiệm 38
3.1.6 Nước uống cho heo trong thí nghiệm 40
3.1.7 Thuốc thú y dùng trong thí nghiệm 41
3.1.7 Công tác thú y tiêm phòng cho cái hậu bị, nái mang thai và heo con theo mẹ . 41
3.2 Phương pháp thí nghiệm 42
3.2.1 Bố trí thí nghiệm 42
3.2.2 Phương pháp tiến hành 42
3.2.3 Các chỉ tiêu theo dõi 44
3.2.5 Xử lý số liệu 45
Chương 4: Kết quả và thảo luận 46
4.1 Kết quả trên heo con theo mẹ 46
4.1.1 Khảo sát số heo con qua các thời điểm 46
4.1.2 Khảo sát trọng lượng heo con qua các thời điểm 50
4.1.3 Khảo sát tỷ lệ heo con tiêu chảy 55
4.1.4 Lượng thức ăn tiêu tốn và tiêu tốn thức ăn/kg tăng trọng cho heo con 56
Bảng 3.5: Bố trí thí nghiệm 42
Bảng 4.1: Số heo con qua các thời điểm 46
Bảng 4.2: Trọng lượng heo con qua các thời điểm 50
Bảng 4.3: Tỷ lệ tiêu chảy (%) 55
Bảng 4.4: TTTĂ và TTTĂ/kg tăng trọng heo con 56
Bảng 4.5: Thể trọng của heo nái trước và sau khi nuôi con và khả năng sinh sản 59
Bảng 4.6: Chi phí TĂ cho kg tăng trọng heo con 61
Bảng 4.7: Hiệu quả kinh tế về mặt thứ ăn của toàn thí nghiệm 62
vii
DANH SÁCH HÌNH
Hình 2.1: Heo giống Yorkshire 2
Hình 2.2: Heo giống Landrace 2
Hình 2.3: Heo giống Duroc 3
Hình 2.4: Heo giống Pietrain 3
Hình 2.5: Heo giống Ba Xuyên 4
Hình 2.6: Heo giống Thuộc Nhiêu 5
Hình 2.7: Lượng thức ăn hằng ngày cho heo nái sinh sản theo thời kỳ sản xuất 19
Hình 3.1: Bản đồ hành chính tỉnh Cần Thơ 35
Hình 3.2: Sơ đồ tổng quát trại nuôi heo tại Nông trường Cờ Đỏ 36
Hình 3.3: Dãy chuồng heo thí nghiệm 37
Hình 3.4: Heo thí nghiệm 37
Hình 3.5: Cân dùng trong thí nghiệm 38
Hình 3.6: Thức ăn dùng trong thí nghiệm 38
Hình 4.1: Số heo con qua các thời điểm 47
Hình 4.2: Trọng lượng heo con qua các thời điểm 51
Hình 4.3: Tăng trọng heo con qua các thời điểm 54
Hình 4.4: Tỷ lệ tiêu chảy ở heo con 55
Hình 4.5: Khối lượng hao mòn và tỷ lệ hao mòn của heo nái thí nghiệm 59
bảo có nhiều con đẻ ra còn sống ở lứa đẻ đầu (9 con trở lên). Các nghiên cứu
tại Úc đề nghị heo cái hậu bị nên có độ dày mỡ lưng ở vị trí P2: 18-20mm vào
lần phối giống đầu để đủ năng lượng dự trữ cho gia đoạn nuôi con. Ở Thụy
Điển người ta thường phối giống cho heo ở trọng lượng đạt 120kg.
Thể trọng của heo lúc đẻ sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến giai đoạn nuôi con
sau này, heo đẻ con lúc trọng lượng đạt chuẩn khuyến cao của các nhà nghiên
cứu sẽ giúp heo mẹ nuôi con tốt hơn như khả năng tiết sữa nuôi con và chăm
con khéo. Theo Nguyễn Thiện (1996), thể trạng của nái quá béo thì sức tiết
sữa kém, những nái có tầm vóc vừa phải thì sức tiết sữa cao. Khả năng nuôi
con của heo mẹ thông qua tỷ lệ hao hụt thấp, tăng trọng heo con và trọng
lượng cai sữa heo con. Mặc khác, hậu quả sau việc nuôi con là sự hao mòn cơ
thể heo mẹ, chính vì thế khi trọng lượng heo đạt chuẩn sẽ giúp heo nái duy trì
sức sản xuất ở các lứa đẻ kế tiếp. Từ những vấn đề nêu trên, được sự hướng
dẫn của thầy Trương Chí Sơn và được sự đồng ý của Bộ môn Chăn nuôi, đề
tài nghiên cứu “Ảnh hưởng của khối lượng heo nái đẻ lứa 1 trên năng suất
sinh sản ở giai đoạn nuôi con” được tiến hành. Mục tiêu đề tài: Xác định sự
ảnh hưởng của khối lượng heo nái lúc đẻ trên năng suất sinh sản của heo nái
thông qua chất lượng đàn heo con và khả năng sản xuất ở lứa đẻ tiếp theo. Từ
đó, khuyến cáo người chăn nuôi chăm sóc nuôi dưỡng heo nái đúng kỹ thuật
để heo đạt thể trọng lớn khi đẻ, góp phần giúp heo nuôi con tốt và năng cao
thời gian sử dụng con nái lâu bền về sau.
2
Hình 2.2: Heo giống Landrace
Hình 2.1: Heo giống Yorkshire
CHƯƠNG 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Đặc điểm các giống heo
2.1.1 Giống heo ngoại thuần
sơ sinh 1,3-1,4 kg/con. Heo được nhập nuôi trong điều kiện ở nước ta thì khả
(http://ttgiongvatnuoipy.co
m)
(http://ttgiongvatnuoipy.co
m)
3
Hình 2.3: Heo giống Duroc
Hình 2.4: Heo giống Pietrain
năng sinh trưởng, sinh sản thấp hơn. Giống Landrace được nuôi theo hướng
thuần là lai (ngoại x ngoại) hoặc (ngoại x nội) để thực hiện chương trình nạc
hóa đàn heo (Lê Hồng Mận, 2002).
2.1.1.3 Giống heo Duroc
Theo Nguyễn Thiện (2008). Giống heo Duroc (Hình 2.3) có nguồn gốc
từ vùng Đông Bắc nước Mỹ. Heo có màu lông đỏ hung, mõm màu đen, chân
có 4 móng màu đen, lưng vồng, ngắn đòn.
Theo Lê Hồng Mận (2002), Đực giống
trưởng thành 250-280 kg, nái 200-230 kg,
thích ứng chịu đựng cao với điều kiện khí
hậu, ít nhạy cảm với stress. Khả năng sinh
trưởng và phẩm chất thịt trung bình, năng
suất sinh sản vừa phải trên 9 con/ổ, tiết sữa
kém. Con lai của Duroc trong phép lai kinh tế
có khả năng tăng trọng nhanh, tỷ lệ nạc cao.
Theo Nguyễn Ngọc Tuân và Trần Thị Dân (2000), heo Duroc là loại heo
hướng nạc, phẩm chất thịt tốt. Cho nên việc lai tạo heo con nuôi thịt ta thường
sử dụng con đực Duroc lai với heo nái lai tạo con lai nuôi mau lớn, chịu đựng
stress, heo cho nhiều nạc và phẩm chất thịt tốt. Heo đạt 100 kg khoảng 6 tháng
da có nhiều vết đỏ và đen không đều. Khi cho lai với heo có màu trắng thì màu
trắng sẻ trội. Heo Pietrain là một điển hình về vết loang đen trắng không cố
định trên lông da, nhưng năng suất thì rất ổn định. Heo Pietrain hiện nay đã có
ở nước ta nhưng chưa nhập chính thức vào Việt Nam, (Nguyễn Thiện, 2008).
Theo Lê Hồng Mận (2006), heo Pietrain sinh sản không cao từ 8-10
con/lứa, nuôi con không khéo. Mặt khác, heo Pietrain nuôi thịt đến 6 tháng
tuổi đạt 90-100 kg với tỉ lệ nạc cao 60-62%. Tuy nhiên, nhược điểm đáng chú
ý của giống Pietrain là mẫn cảm với stress, tăng trưởng chậm, khó nuôi, chất
lượng thịt thường gặp là PSE (Pale, Soft, Exudative) liên quan tới gene
Halothan chiếm tỉ lệ cao. Hướng chăn nuôi heo Pietrain làm dòng đực cuối
cùng nhằm nâng cao năng suất thịt đùi và tỉ lệ thịt nạc.
2.1.2 Giống heo nội
2.1.2.1Giống heo Ba Xuyên
Heo Ba Xuyên (Hình 2.5) là nhóm heo
nuôi rộng rãi ở miền Tây Nam Bộ, nhất là
vùng nhiễm phèn như Gò Công (Tiền
Giang), Cầu Ngang (Trà Vinh), Ô Môn (Hậu
Giang), Mỹ Xuyên (Sóc Trăng)…
Theo Nguyễn Ngọc Tuân và Trần Thị
Dân (2000), Nhóm giống heo Ba Xuyên bao gồm những heo bông với nền da
đen và trắng. Đặc điểm của heo Ba Xuyên là có tầm vóc trung bình, mõm hơi
cong và gẫy, tai đứng hơi ngã về trước, lưng phẳng, thân mình hơi lép, đùi
không nở nang, chân to cứng cáp, má nọng hơi xệ. Heo có sức chịu đựng cao,
thích nghi tốt với hoàn cảnh chăn nuôi khắc khổ ở miền Đồng bằng sông Cửu
Long.
Khi heo nuôi đến 10 tháng tuổi có thể đạt thể trọng khoảng 80-90 kg.
Heo trưởng thành đạt khoảng 160-180 kg. Mỗi năm nái đẻ được 1,6 lứa,
khoảng 10-12 con/lứa. Heo nái có đặc tính tốt nuôi con giỏi, tỷ lệ nuôi sống rất
cao, tốt sữa (Võ Văn Ninh, 2001).
(http://tiepnguyen.wordpress
độ dày mỡ lưng 30-34 mm (Nguyễn Ngọc Tuân và Trần Thị Dân, 2000).
Theo Nguyễn Thiện (2008), Giống heo Thuộc Nhiêu với khả năng sinh
sản chỉ đạt mức trung bình, các chỉ tiêu của heo đực ở mức trung bình cao:
Heo Thuộc Nhiêu có khả năng làm việc từ lúc khoảng 6-7 tháng tuổi với khối
lượng cơ thể khoảng 50-60 kg. Lượng tinh xuất trung bình là 90-100 ml/lần.
Hoạt lực tinh trùng đạt 80%, nồng độ tinh trùng đạt khoảng 175 triệu/ml.
(tc08ty.blogspot.com)
6
2.1.3 Giống heo lai
2.1.3.1 Heo lai 2 máu
Theo hội chăn nuôi Việt Nam (2002), công thức thông dụng nhất là đực
Landrace x cái Yorkshire, đực Duroc x cái Yorkshire. Hai công thức lai này áp
dụng ở các tỉnh phía Nam.
Heo lai giữa Yorkshire và Landrace: con lai có đặc điểm lông màu trắng,
tròn mình, lưng thẳng, bụng thon, mông xuôi, chân và đầu thanh, con lai nuôi
thịt lớn nhanh, 6-7 tháng tuổi đạt khoảng 100 kg, chi phí 3,8-4,1 đơn vị thức
ăn cho 1 kg tăng trọng. Tỷ lệ nạc 52-57%. Con lai nên được nội dưỡng tốt và
đúng kĩ thuật có thể đạt được các yêu cầu về chất lượng sản phẩm, đáp ứng thị
hiếu của người tiêu dùng và lưu thông xuất khẩu (Phạm Hữu Doanh và ctv,
2004).
2.1.3.2 Heo lai 3 máu
Theo Hội chăn nuôi Việt Nam (2003), ở các trại chăn nuôi quy mô công
nghiệp thường dùng nái lai F
1
giữa giống Yorkshire và Landrace để lai với đực
cuối cùng giống Duroc. Con lai lớn nhanh cho nhiều nạc, ít mỡ và thịt có chất
lượng thơm ngon. Với chăn nuôi nông hộ, có thể dùng nái địa phương lai với
đực địa phương tạo con lai F
Đây là đặc điểm cần chú ý trong chăn nuôi không nên cho gia súc sinh sản quá
sớm. Vì nếu phối giống quá sớm khi cơ thể mẹ chưa thành thục về thể vóc sẽ
ảnh hưởng xấu như trong thời gian có chửa có sự phân tán chất dinh dưỡng
của cơ thể mẹ, do đó sự phát triển của bào thai cũng bị ảnh hưởng. Kết quả mẹ
yếu, con nhỏ, khung xương chậu phát triển chưa hoàn toàn làm cho con vật đẻ
khó. Do đó, việc quyết định tuổi phối giống lần đầu đối với gia súc có ý nghĩa
rất lớn trong chăn nuôi (Võ Trọng Hốt và ctv, 2001)
2.2.3 Tuổi đẻ lứa đầu
Heo nội (Ỉ, Móng Cái) có tuổi đẻ lứa đầu từ 11-12 tháng tuổi. Heo lai và
heo ngoại cho đẻ lứa đầu lúc 12 tháng tuổi, nhưng không quá 14 tháng tuổi.
như vậy, phải phối giống lứa đầu ở heo lai lúc 8 tháng tuổi với khối lượng lớn
không dưới 65-70 kg. Đối với heo ngoại thích nghi ở Việt Nam cho phối ở 9
tháng tuổi với khối lượng không dưới 80-90 kg. (Phạm Hữu Doanh và Lưu
Kỷ, 2004).
Theo Hội Chăn nuôi Việt Nam (2004), tuổi đẻ lứa đầu của heo nái ngoại
tốt nhất ở 12 tháng tuổi và không vượt quá 18 tháng tuổi.
2.2.4 Chu kỳ động dục của heo nái
Theo Lê Hồng Mận (2002), chu kỳ động dục trung bình của heo nái là 21
ngày, dao động từ 18-24 ngày. Ở heo nái tơ thường có chu kỳ động dục ngắn
hơn nái rạ. Giai đoạn nang noãn, kích thích tố FSH giảm nhanh. Cuối giai
đoạn nang noãn, kích thích tố LH tăng cao nhất, kết quả là có sự rụng trứng
xảy ra. Hàm lượng hormone LH tăng cao cực đại là do nồng độ hormone
Estrogen trong máu được sản xuất bởi nang noãn cao. Nồng độ hormone
Estrogen trở nên rất thấp sau khi rụng trứng. Trong khi trứng rụng hormone
LH tăng nhanh và khi đó cao gấp 3 lần hormone FSH; khi trứng rụng nếu
không cho phối giống thì chu kỳ động dục của heo nái sẽ được lặp lại.
2.2.5 Tỷ lệ hao mòn heo mẹ khi nuôi con
Theo Hội Chăn nuôi Việt Nam (2004), tỷ lệ hao mòn ở heo nái nuôi con
so với lúc heo nái chửa chiếm 15-20%, trường hợp tỷ lệ hao mòn cao hơn
khoảng 15-20% thì chúng ta cần xem xét lại chế độ nuôi dưỡng, dinh dưỡng
(Nguyễn Thiện và Võ Trọng Hốt, 2008) (2.1)
2.3 Các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật trong chăn nuôi heo nái sinh sản
2.3.1 Khả năng sinh sản của heo nái
Theo Nguyễn Ngọc Tuân và Trần Thị Dân (2000), heo là loài động vật
ăn tạp, có khả năng sinh sản cao và nuôi con giỏi. Heo có nhiều vú (12 vú hay
nhiều hơn) nên có thể nuôi 10-16 heo con ở một lứa đẻ. Số lượng bầu vú, khả
năng tiết sữa của heo, số heo con cai sữa và trọng lượng heo cai sữa, tất cả
chúng đều có mối quan hệ mật thiết nhau. Heo nái có thể sản xuất khoảng
250-400 kg sữa trong một lứa nuôi và bình quân khoảng 4 kg sữa sẽ cho 1 kg
tăng trọng của heo con. Do đó, heo nái nuôi con cần phải được cho ăn uống
đầy đủ số lượng và chất lượng, uống nước sạch tự do để heo nái sản xuất được
nhiều sữa, tránh được trường hợp heo mẹ cắn đuổi con vì đói khát và ít sụt
cân. Heo hậu bị động dục sớm. Heo giống nội đạt tuổi thành thục về sinh dục
vào lúc 3-5 tháng tuổi, tuy nhiên heo giống ngoại bắt đầu động dục khoảng 5-8
tháng tuổi.
2. 3.1.1 Số lứa đẻ/nái/năm
Theo Nguyễn Thiện và Đào Đức Thà (2007), khoảng cách giữa hai lứa
đẻ thể hiện hiệu suất sinh đẻ của heo. Nếu khoảng cách giữa hai lứa đẻ quá dài
làm cho số lứa đẻ/năm của heo thấp, dẫn tới khả năng sinh sản của đàn heo
không tốt.
TL heo nái chuẩn bị đẻ – TL heo mẹ khi tách con
TL heo mẹ chuẩn bị đẻ
9
Theo Phạm Hữu Doanh và Lưu Kỷ (2004), lứa đẻ hiệu quả và tốt nhất là
từ lứa 2 đến lứa thứ 6-7. Tuổi sinh sản ổn định của heo từ năm tuổi thứ 2 đến
năm tuổi thứ 4. Khi bước sang năm tuổi thứ 5, heo có thể còn đẻ tốt nhưng heo
con đẻ ra bị còi cọc chậm lớn hơn so với các lứa trước.
Số lứa đẻ/nái/năm được tính bằng công thức (2.2) theo Lê Hồng Mận
(2006) như sau.
Thời gian chữa: 114 ngày (112-116 ngày)
Thời gian nuôi con: 55 ngày (50-60 ngày)
Thời gian chờ phối sau tách con: 7 ngày (5-8 ngày)
Tổng cộng: 176 ngày x 2 lứa = 352 ngày
2.3.1.2 Số con sơ sinh trên ổ
Theo Trần Văn Phùng (2005), chỉ tiêu này nói lên khả năng đẻ nhiều hay
ít con của giống, nói lên kỹ thuật thụ tinh và kỹ thuật chăm sóc heo nái chửa.
365
số ngày mang thai + số ngày nuôi con + số ngày lên giống và
phối giống đậu thai lại sau khi tách con.
10
Theo Vũ Đình Tôn và ctv. (2005), heo con được sinh ra trong vòng 24h
chịu ảnh hưởng của yếu tố ngoại cảnh rất lớn. Vì lúc này là lúc heo con thay
đổi hoàn toàn môi trường sống, từ trong bụng mẹ tất cả trao đổi chất đều thông
qua nhau thai, nay chuyển sang môi trường mới hoàn toàn khác. Heo con chưa
thích nghi kịp thời nên chưa nhanh nhẹn, dễ bị mẹ đè chết, hoặc heo mẹ đẻ
vào ban đêm không có sự can thiệp kịp thời của kỹ thuật viên nên heo bị chết
rét hoặc chết ngạt do không bóc tách kịp thời màng bọc.
Tỷ lệ sống (%) = x 100
(Nguyễn Thiện, 2008) (2.3)
2.3.1.3 Số heo con cai sữa trên lứa
Thời gian cai sữa heo ở nước ta thường là 60 ngày (2 tháng). Ở các nước
khác trên thế giới thường là 8 tuần (56 ngày). Thời gian cai sữa sớm muộn phụ
thuộc vào chất lượng thức ăn heo con tập ăn và nuôi dưỡng và nhiều trang trại
chăn nuôi đã cai sữa sớm heo con vào 21-28 ngày tuổi. Cai sữa sớm cho heo
con tăng được số lứa đẻ của heo mẹ và hạn chế một số bệnh lây từ heo con
sang heo mẹ nuôi con (Lê Hồng Mận, 2006).
Theo Nguyễn Thiện và ctv. (2008), khả năng tiết sữa của heo mẹ là chỉ
tiêu nói lên đặc điểm của giống. Giống khác nhau thì khả năng tiết sữa cũng
khác nhau.
Theo Nguyễn Ngọc Tuân và Trần Thị Dân (2000), sự tiết sữa của heo nái
phụ thuộc vào: giống, tuổi hay lứa đẻ của nái, thời kỳ tiết sữa trong một chu
kỳ và số lượng heo con trong lứa đẻ. Heo nái thường cho sữa từ 6-8 tuần và sự
sản xuất sữa cao điểm ở giữa tuần thứ 3 và thứ 5 của chu kỳ cho sữa. Trung
bình trọng lượng sữa sản xuất trong 8 tuần là 300-400 kg. Năng suất sữa hàng
ngày tăng theo số con bú, từ 0,9-1,0 kg cho mỗi heo con của ở có 8 heo con và
0,7-0,8 kg cho ổ có 9-12 heo con. Việc đo lường sữa sản xuất của heo nái rất
khó khăn nên thường được tính dựa theo sự tăng trọng của heo con. Mỗi
kilogam tăng trọng heo con cần 3-3,5 kg sữa mẹ.
Theo Lê Hồng Mận (2002), sản lương sữa trong 1 lứa đẻ ở các lứa là
khác nhau và được trình bày qua Bảng 2.3 như sau:
Bảng 2.3: Sản lượng sữa theo lứa đẻ của heo nái nuôi con
Lứa đẻ
Sản lượng sữa trong 1 lứa đẻ (kg)
Số heo con (con)
1
246
7,8
2
337
9,1
3
316
8,1
4
309
8,0
khi sanh. Hàm lượng kháng thể trong sữa đầu gia tăng theo lứa đẻ. Heo nái đẻ
lứa lứa một có hàm lượng kháng thể thấp nhất trong sữa đầu. Thành phần sữa
sau khi sinh của heo nái được trình bày qua Bảng 2.4.
Bảng 2.4: Thành phần sữa sau khi sinh của heo nái
Thành phần (%)
Hàm lượng
Béo
7,2
Đường sữa
4,7
Protein
5,7
Năng lượng (MJ/kg)
5
(Nguyễn Ngọc Tuân và Trần Thị Dân, 2000)
2.3.3 Chất lượng đàn của đàn heo con
2.3.3.1 Trọng lượng sơ sinh toàn ổ
Theo Nguyễn Thiện và Võ Trọng Hốt (2009), trọng lượng sơ sinh là
trọng lượng được cân sau khi heo được đẻ ra, cắt rốn, lau khô và chưa cho bú
sữa đầu. Khối lượng sơ sinh toàn ổ phản ánh khả năng nuôi dưỡng thai của
heo mẹ, kỹ thuật chăm sóc chăn nuôi heo nái mang thai của người chăn nuôi.
Việc cân khối lượng sơ sinh là cần thiết để có kế hoạch chăm sóc cho từng con
ngay từ đầu như cố định đầu vú chẳng hạn.
Khối lượng sơ sinh càng cao thì khả năng sinh trưởng càng nhanh, khối
lượng cai sữa sẽ cao và khối lượng khi xuất chuồng sẽ lớn cho nên heo có
13
chửa cần được chăm sóc nuôi dưỡng tốt để đàn con có khối lượng sơ sinh cao
(Trần Văn Phùng, 2005).
2.3.3.2 Trọng lượng 21 ngày tuổi toàn ổ
(Nguyễn Thiện và Võ Trọng Hốt, 2007)
Trọng lượng con thấp nhất (kg)
Trọng lượng con cao nhất (kg)
14
2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến heo nái trong giai đoạn nuôi con
Khả năng sinh sản của heo nái được đánh giá thông qua khả năng nuôi
con, chất lượng đàn heo con và tầm vóc cũng như thời gian lên giống lại sau
tách con. Các yếu tố dưới đây sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến heo nái trong thời
gian nuôi con và ảnh hưởng gián tiếp đến đàn con theo mẹ thông qua khả năng
tiết sữa và chăm con của heo nái.
2.4.1 Giống
Theo Nguyễn Thiện (2008), Giống heo là yếu tố quyết định tới sức sản
xuất của heo nái. Giống với đặc tính sản xuất của nó gắn liền với năng suất.
Giống khác nhau cho năng suất khác nhau. Ngoài ra, theo Vũ Đình Tôn và ctv.
(2005), giống là nhân tố ảnh hưởng rõ nhất đến tuổi thành thục về tính của heo
nái. Giống khác nhau thì heo nái có khả năng tiết sữa cũng khác nhau, thường
các giống heo lai, heo ngoại cho năng suất sữa cao hơn.
Ví dụ:
Heo Ỉ đẻ: 08-10 con/lứa
Heo Móng Cái đẻ: 12-14 con/lứa
Heo Yorkshire đẻ: 10-13 con/lứa
2.4.2 Lứa đẻ
Theo Lê Hồng Mận (2002), heo đẻ tốt từ lứa thứ 2 đến lứa thứ 6-7, tuổi
sinh sản ổn định từ năm tuổi thứ 2 đến thứ 4, vào năm tuổi thứ 5 heo con đẻ ra
thường yếu còi, chậm lớn. Heo nái già có hiện tượng đẻ khó, chết thai, cắn
con. Lứa đẻ và số heo con/lứa:
Năm thứ nhất: lứa đầu 7-8 con
Năm thứ 2: lứa 2: 9-10 con; lứa 3: 9-11 con