Nghiên cứu ảnh hưởng của biện pháp phòng trừ rệp myzus persicae đến năng suất, hàm lượng đường cao lương ngọt tại thái nguyên - Pdf 24


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

ĐẶNG NGỌC HIẾU

NGHIÊN CỨU ẢNH HƢỞNG CỦA BIỆN PHÁP
PHÕNG TRỪ RỆP MYZUS PERSICAE ĐẾN
NĂNG SUẤT, HÀM LƢỢNG ĐƢỜNG CAO
LƢƠNG NGỌT TẠI THÁI NGUYÊN

Ngành: Khoa học cây trồng
Mã số: 60.62.01.10 LUẬN VĂN THẠC SỸ
KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: 1. GS.TS Trần Ngọc Ngoạn
2. TS. Bùi Lan Anh

Thái Nguyên - Năm 2014

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu LỜI CẢM ƠN

Được sự nhất trí của Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái
Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Nông học và phòng Quản lý đào tạo sau Đại
học, tôi đã thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của biện pháp phòng
trừ rệp Myzus persicae đến năng suất, hàm lượng đường cao lương ngọt
tại Thái Nguyên”.
Trước hết tôi, xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu nhà trường, Ban
chủ nhiệm khoa cùng các thầy, cô giáo đã giảng dạy trong chương trình Thạc
sĩ ngành Khoa học cây trồng, những người đã truyền đạt cho tôi kiến thức quý
báu trong suốt thời gian học tập tại trường.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến GS.TS Trần Ngọc Ngoạn và
TS. Bùi Lan Anh đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực
hiện đề tài cũng như hoàn chỉnh luận văn.
Để hoàn thành khóa học này, tôi còn nhận được sự động viên hỗ trợ rất
lớn từ gia đình, bạn bè đã tạo điều kiện về vật chất và tinh thần để tôi học tập
và nghiên cứu.
Do thời gian có hạn và kinh nghiệm nghiên cứu khoa học chưa nhiều nên
luận văn không tránh khỏi thiếu sót, tôi rất mong được sự tham gia đóng góp ý
kiến của các thầy cô và các bạn để chuyên đề của tôi được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 30 tháng 10 năm 2014
Tác giả Đặng Ngọc Hiếu

2.4.1. Phương pháp xác định thành phần, tần suất xuất hiện và
diễn biến của các loài rệp hại cao lương ngọt 24
2.4.2. Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học của rệp Myzus persicae
hại trên cao lương ngọt 26

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu 2.4.3. Nghiên cứu hiệu lực của thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) trong
phòng trừ rệp Myzus persicae hại cao lương ngọt 28
2.4.4. Nghiên cứu ảnh hưởng của việc sử dụng thuốc BVTV trong phòng trừ rệp
Myzus persicae đến năng suất và hàm lượng đường trong cao lương ngọt 31
2.5. Phương pháp xử lý số liệu 31
Chƣơng 3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 32
3.1. Thành phần, tần suất xuất hiện và diễn biến của các loài rệp hại
trên cao lương ngọt tại Thái Nguyên 32
3.1.1. Thành phần, tần suất xuất hiện của các loài rệp hại trên cao lương
ngọt tại Thái Nguyên 32
3.1.2. Diễn biến mật độ rệp Myzus persicae qua các kỳ điều tra 32
3.2. Đặc điểm sinh vật học của rệp Myzus persicae hại trên cao lương
ngọt tại Thái Nguyên 34
3.2.1. Đặc điểm hình thái của rệp Myzus persicae hại trên cao lương
ngọt tại Thái Nguyên 34
3.2.2. Thời gian phát dục của rệp Myzus persicae 36
3.2.3. Khởi điểm phát dục (t
o
), tổng tích ôn hữu hiệu (K) và số lứa lý thuyết
(Y) của rệp Myzus persicae trên cao lương ngọt 39
3.2.4. Sức sinh sản của rệp Myzus persicae trên cao lương ngọt 41
3.2.5. Nhịp điệu sinh sản của rệp Myzus persicae trên cao lương ngọt 43


BVTV
IPM
KLT
KLTL
NLSH
NSLT
NSTT
ICRISAT

SAS
Food and Agriculture Organization of the United
Nations - Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên
Hiệp Quốc.
Bảo vệ thực vật
Quản lý dịch hại tổng hợp
Khối lượng thân tươi
Khối lượng thân lá tươi
Nhiên liệu sinh học
Năng suất lý thuyết
Năng suất thực thu
Viện nghiên cứu cây trồng vùng khô hạn và bán
khô hạn quốc tế
Statistical Analysis System - Phần mềm thống kê và
xử lý số liệu SAS Số hóa bởi Trung tâm Học liệu
rệp Myzus persicae đến năng suất cao lương ngọt 49
Bảng 3.11. Ảnh hưởng của việc sử dụng thuốc BVTV trong phòng trừ r
ệp Myzus persicae đến hàm lượng trong cao lương ngọt 50 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 2.1. Sơ đồ chọn điểm điều tra 25
Hình 3.1. Diễn biến mật độ rệp 34
Hình 3.2. Chiều dài của rệp có cánh và rệp không có cánh
tại các pha phát dục 35
Hình 3.3. Chiều rộng của rệp có cánh và rệp không có cánh
tại các pha phát dục 36
Hình 3.4. Sức sinh sản của rệp Myzus persicae hại cao lương ngọt
ở 2 mức nhiệt độ 25
o
C, 30
o
C và ẩm độ 83,0% 42
Hình 3.5. Nhịp điệu sinh sản của rệp Myzus persicae hại cao lương ngọt
ở mức nhiệt độ 25
o
C và ẩm độ 83,0% 44
Hình 3.6. Hiệu lực tiêu diệt rệp của thuốc BVTV trong phòng thí nghiệm (%) 45
Hình 3.7. Hiệu lực tiêu diệt rệp của thuốc BVTV ngoài đồng ruộng (%) 47
Hình 3.8. Ảnh hưởng của việc sử dụng thuốc BVTV trong phòng trừ rệp
Myzus persicae đến các yếu tố cấu thành năng suất cao lương ngọt 48

ăn, rệp phát triển thành loại hình không cánh (aptera); còn trong điều kiện thời
tiết khắc nghiệt và khan hiếm thức ăn, rệp phát triển thành loại hình có cánh
(alate) (Boerner C. und Heize K., 1957) [11]
. Rệp không cánh (aptera) có
khả năng sinh sản cao hơn so với loại hình rệp có cánh (alate) 70%
(Dixon,
A.F.G. & Wratten, S.D., 1971) [15].

Rệp có 2 hình thức sinh sản (hữu tính và vô tính) (Ross Piper, 2007) [32]
.

Ở những nơi có nhiệt độ cao (vùng nhiệt đới, trong nhà kính hay mùa xuân và
mùa hè ở vùng ôn đới), rệp sinh sản vô tính và đẻ con. Còn ở những nơi có

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu 2
nhiệt độ thấp (mùa thu và mùa đông ở các nước ôn đới), rệp sinh sản hữu tính
(có thụ tinh) và đẻ trứng (Hales Dinah F. et al., 2002; Navdeep S. Mutti, 2006)
[23], [27].
Trước thực tế đó, để có cơ sở cho việc nghiên cứu biện pháp phòng trừ
rệp đạt hiệu quả cao góp phần phát triển ổn định và bền vững cây cao lương
ngọt làm nguyên liệu sản xuất ethanol sinh học tại Việt Nam
: “Nghiên cứu ảnh hưởng của biện pháp phòng trừ rệp
Myzus persicae đến năng suất, hàm lượng đường cao lương ngọt tại Thái
Nguyên”
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học và hiệu quả phòng trừ của rệp
Myzus persiace hại cao lương ngọt.

khác nhau theo chu kỳ năm. Đây cũng là nguyên nhân rệp gây hại một số cây
thứ yếu nay trở thành chủ yếu, đặc biệt là cây cao lương. Chúng không chỉ tập
trung thành từng đàn hút các chất dinh dưỡng ở nõn, bẹ lá và bông của cây cao
lương ngọt mà còn là môi giới truyền bệnh virus gây khảm lá và bệnh đốm lá
trên cây làm giảm năng suất và hàm lượng đường của cao lương ngọt
(Wicklow D.T. et al., 2009) [37].
Ở nước ta, đã có nhiều nhà khoa học nghiên cứu về các loài rệp hại cây
trồng như: Quách Thị Ngọ (2000), Nguyễn Viết Tùng (1991), Phạm Văn Lầm
(2002) [4], [6], [5] đều cho rằng tác hại của loài rệp ngày càng to lớn, vì rệp
sinh sản vô tính đẻ con. Tuy khả năng sinh sản của rệp không lớn, nhưng vòng
đời của rệp ngắn nên chúng có khả năng tích lũy số lượng lớn, mật độ tăng
nhanh và gây hại lớn. Nhiều công trình nghiên cứu về rệp đã đề cập tới các đặc
điểm sinh học, đặc tính gây hại của từng loài, ảnh hưởng của các yếu tố môi
trường đến sức tăng quần thể, để làm cơ sở cho việc nghiên cứu các biện
pháp phòng trừ rệp có hiệu quả. Trong các biện pháp phòng chống rệp, biện
pháp mà người dân quan tâm nhất là sử dụng thuốc hóa học. Biện pháp này
không những gây ô nhiễm môi trường, tiêu diệt rất nhiều loài thiên địch trong
vườn trồng cao lương ngọt mà còn hình thành tính kháng thuốc, chống thuốc
của rệp.
Hiện nay các nhà khoa học quan tâm đến biện pháp sinh học, trong đó
để kiểm soát được rệp hại thì người dân phải thường xuyên thăm đồng và bảo
vệ kẻ thù tự nhiên là trọng điểm.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu 4
1.2. Tình hình nghiên cứu về cây cao lƣơng
1.2.1. Nguồn gốc, phân bố và 1 số đặc điểm nông sinh học của cây cao
lƣơng

khô hạn và bán khô hạn và là cây trồng chính ở châu Phi, châu Á, Nam Mỹ và
châu Đại Dương, những nơi quá nóng và khô không phù hợp sản xuất ngô.
Đây cũng là cây trồng lấy hạt chính ở những vùng khô hạn và bán khô hạn.
Cây cao lương có xuất xứ từ vùng nhiệt đới nên điều kiện khí hậu nóng ẩm là
điều kiện thuận lợi cho phát triển. Cao lương có ngưỡng nhiệt phát triển 15 -
37
0
C, nhiệt độ tối thích là 27
0
C. Đa số các giống cao lương hiện nay không
phản ứng với ánh sáng, tuy nhiên cao lương là cây trồng ngắn ngày.
Cao lương ngọt (Sweet sorghum) là một cây thuộc họ hòa thảo, chiều
cao trung bình từ 0,6 - 5m tùy thuộc vào giống, điều kiện canh tác và môi
trường. Đặc điểm thực vật học cũng như thời gian sinh trưởng của cây cao
lương tương tự cây ngô và các cây ngũ cốc khác.
Cao lương là cây thân thẳng, chứa nhiều nước. Tùy từng giống và điều
kiện sinh trưởng mà chiều cao cây thay đổi từ 0,5 - 5m, cũng có giống cao tới
6m. Đa số là cây hàng năm nhưng có các giống cây lâu năm tùy thuộc vào tổng
tích ôn của từng giống trong điều kiện trồng cụ thể, do vậy mà thời gian sinh
trưởng của chúng cũng khác nhau.
Thân cao lương gồm các lóng và đốt, lá mọc ra từ đốt, chồi có thể mọc
ra từ các đốt thân. Thời gian đẻ nhánh sớm hay muộn tùy thuộc vào giống, thời
vụ và kỹ thuật canh tác. Cao lương có khả năng đẻ nhánh, nhánh được sinh ra
từ các đốt trên thân, các đốt sát mặt đất ra nhánh trước, nếu thân chính bị chết
đi thì các nhánh con sẽ mọc ra thay thế thân chính. Cao lương có sức tái sinh
rất mạnh, trồng một vụ có thể thu hoạch liên tiếp 2 - 3 lần, có khi tới 4 lần tùy
vào mức độ thâm canh. Nếu chăm sóc tốt, năng suất vụ gốc không kém vụ tơ,
thậm chí cao hơn. Mỗi mắt trên thân cao lương có những chồi mầm, khi đã thu
hoạch thân được chặt đi, những mầm ở phần gốc sẽ tiếp tục phát triển cho ra
những cây mới ở vụ sau. Nên thu hoạch vụ tơ đúng lúc khi hạt vừa cứng, nếu

có cấp 3, từ các nhánh này sinh ra các chùm hoa nhỏ. Chiều dài và khoảng
cách của những nhánh hoa quyết định hình dạng của chùm, từ hình nón hoặc
hình ô van kín.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu 7
Cao lương là cây tự thụ phấn, đôi khi xảy ra hiện tượng giao phấn, tỷ lệ
giao phấn thường nhỏ hơn 6%.
Hạt cao lương có dạng tròn hoặc ô van có kích thước từ 4 - 8mm, có
nhiều màu sắc, hình dạng khác nhau tùy từng giống. Thường hạt được bao phủ
bởi lớp mày. Vỏ hạt cao lương cứng, có màu sẫm hoặc màu nâu đậm, có tính
kháng bệnh và các tác động gây hại nhưng làm gia súc khó tiêu hóa hơn
(Icrisat, 1996) [40]. Một kilogram giống chứa 25.000 đến 61.740 hạt. Hạt cao
lương có nhiều màu sắc khác nhau từ màu vàng nhạt, màu nâu đỏ nhạt đến
màu nâu sẫm tùy thuộc vào từng loại hạt nhiều tanin làm cho hạt có vị đắng.
Hạt cao lương khá nhỏ, đường kính khoảng 3 - 4mm, màu sắc hạt thay
đổi từ vàng nhạt đến nâu đỏ và nâu sẫm tùy thuộc vào giống. Các loài cao
lương hoang dại phân biệt bởi vòng đặc trưng với lông dài tại những mấu.
Chúng dễ nở hoa và nở trên nhiều nhánh, nhánh hoa có hình xoắn ốc. Đầu hoa
mang hai loại hoa, một loại không có cuống và có cả hoa đực lẫn hoa cái, loại
còn lại có cuống và thông thường là hoa đực.
Cũng như ngô, cao lương là cây C4 có khả năng sử dụng ánh sáng cao hơn
các loại cây khác, dưới điều kiện ánh sáng cao và nhiệt độ nóng, chúng có thể
quang tổng hợp mạnh hơn (nhiều nghiên cứu cho thấy hơn 90% chất khô tích lũy
được là do quang hợp) và sản xuất nhiều sinh khoáng, có khả năng thích nghi và
tiến hóa trong những vùng bị hạn chu kỳ (Trần Văn Hòa, 2003) [3]. Phần lớn các
loài cây cao lương có khả năng chịu khô hạn và chịu nóng cao, đóng vai trò quan
trọng trong các khu vực có khí hậu khô cằn. Chúng tạo thành một phần quan trọng

0
C. Cao lương có
thể thích ứng tốt trong các điều kiện nóng và lạnh của các vùng thuộc khu vực
nhiệt đới và cận nhiệt đới.
Như vậy cao lương cho thấy khả năng chịu hạn, úng, nóng, lạnh và mặn
hơn hẳn những cây trồng khác. Đây là ưu điểm mới để cho phép canh tác cao
lương ở những vùng đất khó khăn, đặc biệt là trong điều kiện khô hạn.
Thời gian từ gieo đến thu hoạch hạt là một trong những yếu tố quan
trọng để phân loại các giống cao lương, bố trí mùa vụ. Thời gian sinh trưởng
thường ít thay đổi tuy nhiên nó cũng phụ thuộc vào điều kiện thời tiết, mùa vụ,
cùng một giống nếu trồng sớm thường có thời gian sinh trưởng dài hơn nếu
trồng muộn.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu 9
Bảng 1.1. Bảng phân loại giống căn cứ theo thời gian từ gieo
đến hạt chín sinh lý
Nhóm giống
Thời gian sinh trƣởng
Nhóm chín sớm
90 - 119 ngày
Nhóm chín trung bình
120 - 139 ngày
Chín muộn
140 - 179 ngày
Chín rất muộn
180 ngày
Cách phân loại này dựa trên điều kiện thời tiết bình thường, dưới điều

cao lương có thể đạt tới 20 tấn/ha (cây lâu năm) hoặc 30 tấn/ha (cây hàng
năm). Như vậy, năng suất chất khô của cây cao lương thay đổi rất lớn tùy
thuộc vào điều kiện đất đai khí hậu, kỹ thuật chăm sóc, thu hái và giống.
Điều này đã ảnh hưởng tới chất lượng và sản lượng thức ăn khi sử dụng cho
mục đích làm thức ăn gia súc. Cao lương sử dụng làm thức ăn gia súc, ở 120
ngày sau trồng tại California có tốc độ sinh trưởng trung bình đạt
23g/m
3
/ngày sẽ cho năng suất đạt 27,6 tấn/ha; tại Australia cao lương 83
ngày sau trồng có tốc độ sinh trưởng trung bình đạt 17g/m
3
/ngày sẽ cho
năng suất 14,1 tấn/ha.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu 11
Hiện nay, cao lương làm thức ăn thô xanh cho gia súc có thể được lấy từ
nhóm cây cao lương lấy hạt (thường gọi là milo) nhưng năng suất chất khô
nhóm này thấp. Nhóm giống cao lương chuyên dùng để làm thức ăn gia súc có
năng suất chất xanh cao và tỷ lệ sử dụng thường 80 - 90%.
Bảng 1.2. Tình hình sản xuất cao lƣơng trên thế giới trong 5 năm gần đây
Năm
Diện tích
(triệu ha)
Năng suất
(tạ/ha)
Sản lƣợng
(triệu tấn)

cao lương vẫn để dùng làm thực phẩm.
1.2.3. Tình hình nghiên cứu và sản xuất về cao lương ngọt ở Việt Nam
.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu 12
Tuy nhiên, cây cao lương chỉ phát triển khi nước ta du nhập những giống
mới từ năm 1962. Trong giai đoạn vừa qua nước ta đã nhập nội 210 mẫu giống
cao lương từ ICRISTAT, Pacific Seed, Philippin, Nhật Bản bao gồm cả hai dòng
lai và dòng thuần, một số giống địa phương cũng được thu thập. Mẫu giống
được tiến hành đánh giá, thử nghiệm tại nhiều vùng và đã cho nhiều kết quả khả
quan. Việc nghiên cứu sử dụng cây cao lương làm thức ăn xanh còn rất hạn
chế, đặc biệt là thức ăn xanh trong vụ đông. Một số nghiên cứu đã theo dõi trên
ruộng thí nghiệm 36 giống cao lương nhập từ Liên Xô. Kết quả cho thấy có sự
biến động lớn về tốc độ sinh trưởng, năng suất chất xanh và thành phần dinh
dưỡng giữa các giống. Có những giống cho năng suất chất xanh khá cao (30 -
33 tấn/ha/lứa). Kết quả trồng cao lương tại Nông trường Ba Vì cùng thời điểm
cũng cho kết quả tương tự. Có những giống có hàm lượng protein thô cao
(12,61; 13,65 và 15,81%). Tuy nhiên, các nghiên cứu này còn hạn chế về quy
mô và lượng mẫu phân tích. Hơn nữa, nghiên cứu này không định hướng tuyển
chọn giống cao lương làm thức ăn chăn nuôi (có năng suất và chất lượng cao)
trong mùa đông khô hạn.
.


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu

14
7 – -
.
Nhìn chung, những nghiên cứu về cây cao lương trên thế giới rất đa dạng.
Đối với nước ta, nghiên cứu về cây cao lương chỉ mới bắt đầu phát triển ở một số
khía cạnh nhưng chỉ là đánh giá sơ bộ chưa có nghiên cứu nào đi sâu. Sự tác động
của biến đổi khí hậu làm cho những nơi lượng mưa giảm đi và khả năng tưới
không đáp ứng nhu cầu của các cây trồng truyền thống, dẫn tới đất bị bỏ hoang
không thể canh tác được. Cũng chịu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu nhưng theo
hướng ngược lại là do băng tan, nước biển dâng cao làm cho diện tích đất có thể
trồng trọt kéo dài theo 3260 km bờ biển của nước ta bị nhiễm mặn. Do vậy, tìm ra
cây trồng mới tham gia cơ cấu cây trồng để đáp ứng được yêu cầu thực tiễn là hết
sức cần thiết và quan trọng với Nông nghiệp Việt Nam.
Theo Quyết định 177/2007/QĐ-TTg ngày 10/11/2007 của Thủ tướng chính
phủ về việc phê duyệt Đề án phát triển nhiên liệu sinh học đến năm 2015, tầm
nhìn 2020, với mục tiêu sản xuất xăng E10 (10% ethanol trong xăng) và dầu sinh
học nhằm thay đổi một phần nhiên liệu truyền thống hiện nay. Theo Đề án này,
trong giai đoạn 2006 - 2010, Việt Nam sẽ tiếp cận công nghệ sản xuất NLSH từ
sinh khối, xây dựng mô hình thí điểm phân phối nhiên liệu tại một số tỉnh, thành,
quy hoạch vùng cây nhiên liệu cho năng suất cao, đào tạo cán bộ chuyên sâu về
kỹ thuật. Giai đoạn 2010 - 2015 sẽ phát triển mạnh mẽ sản xuất và sử dụng NLSH
thay thế một phần nhiên liệu truyền thống mở rộng quy mô sản xuất và mạng lưới
phân phối phục vụ giao thông và các ngành công nghiệp khác, đa dạng hóa nguồn
nguyên liệu.
Trong những năm gần đây, một số tổ chức đã tiến hành nghiên cứu cao
lương ngọt làm NLSH, trong đó điển hình là đề tài cấp Nhà nước “Nghiên cứu
tuyển chọn một số giống cao lương ngọt có năng suất cao, chất lượng tốt cho
sản xuất ethanol nhiên liệu” với mục tiêu tuyển chọn và xây dựng quy trình
thâm canh cao lương ngọt. Tuy nhiên bộ giống sử dụng là những giống thuần

nay hầu hết đều chỉ tập trung vào việc chọn lựa giống và các biện pháp canh
tác mà chưa có đề tài nào nghiên cứu chuyên sâu về tình hình sâu, bệnh nói
chung và rệp hại cao lương ngọt nói riêng.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu 16
1.3. Tình hình nghiên cứu về rệp và biện pháp phòng trừ rệp
1.3.1. Tình hình nghiên cứu về rệp và biện pháp phòng trừ rệp trên thế giới
1.3.1.1. Đặc điểm chung của rệp
Rệp là côn trùng thuộc họ rệp muội (Aphididae), bộ cánh đều
(Homoptera). Đây là loài côn trùng đa thực hại trên 40 họ thực vật khác nhau
(Blackman & Eastop, 2000) [10].
Rệp là loại côn trùng đặc biệt, chúng có 2 loại hình sinh sản (đơn tính
và hữu tính). Hình thức sinh sản đơn tính của rệp diễn ra ở hầu hết các vùng
khí hậu nhiệt đới và mùa hè ở các vùng ôn đới; ở hình thức sinh sản này là rệp
cái trưởng thành đẻ ra con. Còn ở hình thức sinh sản lưỡng tính của rệp chỉ
diễn ra ở mùa thu và mùa đông ở những vùng ôn đới và ở hình thức sinh sản
này, rệp cái trưởng thành sau khi giao phối thì đẻ ra trứng và trứng sẽ nở thành
rệp non vào mùa xuân năm sau (Blackman and Eastop, 2000) [10].
Ở các điều kiện khí hậu khác nhau, loại hình thức ăn và chất lượng thức
ăn khác nhau thì vòng đời của rệp rất khác nhau. Vòng đời của rệp ở những
điều kiện khác nhau dao động từ 15 – 50 ngày (Toba, 1964) [35].
Các giai đoạn phát triển của cây khác nhau, xuất hiện loại hình rệp khác
nhau. Theo Suarez et al (1991) [34], sau trồng 2 – 3 tuần, rệp cái trưởng thành
có cánh (alate) xuất hiện, sau đó 1-2 tuần rệp cái trưởng thành không cánh
(aptera) mới xuất hiện và gây hại.
1.3.1.2. Phương thức gây hại và tác hại của rệp
Rệp thường tập trung ở các bộ phận non của cây để hút dịch, gây hiện


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status