Nghiên Cứu Ảnh Hưởng Của Biện Pháp Phòng Trừ Rệp Myzus Persicae Đến Năng Suất, Hàm Lượng Đường Cao Lương Ngọt Tại Thái Nguyên - Pdf 35

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

ĐẶNG NGỌC HIẾU

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA BIỆN PHÁP
PHÒNG TRỪ RỆP MYZUS PERSICAE ĐẾN
NĂNG SUẤT, HÀM LƯỢNG ĐƯỜNG CAO
LƯƠNG NGỌT TẠI THÁI NGUYÊN
Ngành: Khoa học cây trồng
Mã số: 60.62.01.10

LUẬN VĂN THẠC SỸ
KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: 1. GS.TS Trần Ngọc Ngoạn
2. TS. Bùi Lan Anh

Thái Nguyên - Năm 2014


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là
trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ một công trình khoa học
nào khác. Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và
các thông tin trích dẫn, sử dụng trong luận văn được ghi rõ nguồn gốc.

Tác giả

Đặng Ngọc Hiếu


MỞ ĐẦU ........................................................................................................ 1
1. Đặt vấn đề.................................................................................................... 1
2. Mục tiêu nghiên cứu .................................................................................... 2
3. Yêu cầu của đề tài........................................................................................ 2
4. Ý nghĩa của đề tài ........................................................................................ 2
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU............................................................ 3
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài.......................................................................... 3
1.2. Tình hình nghiên cứu về cây cao lương..................................................... 4
1.2.1. Nguồn gốc, phân bố và 1 số đặc điểm nông sinh học
của cây cao lương ............................................................................................ 4
1.2.2. Tình hình nghiên cứu và sản xuất về cao lương ngọt trên thế giới .......... 9
1.2.3. Tình hình nghiên cứu và sản xuất về cao lương ngọt ở Việt Nam......... 11
1.3. Tình hình nghiên cứu về rệp và biện pháp phòng trừ rệp............................... 16
1.3.1. Tình hình nghiên cứu về rệp và biện pháp phòng trừ rệp trên thế giới .......... 16
1.3.2. Tình hình nghiên cứu về rệp và biện pháp phòng trừ rệp hại
cây trồng nông nghiệp ở Việt Nam ................................................................ 18
1.4. Nhận xét chung từ tổng quan và những vấn đề cần phải tiến hành
nghiên cứu về rệp Myzus persicae hại cao lương ngọt ................................... 23
Chương 2. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU ............................................................................................. 24
2.1. Đối tượng và vật liệu nghiên cứu ............................................................ 24
2.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu............................................................ 24
2.3. Nội dung nghiên cứu............................................................................... 24
2.4. Phương pháp nghiên cứu......................................................................... 24
2.4.1. Phương pháp xác định thành phần, tần suất xuất hiện



diễn biến của các loài rệp hại cao lương ngọt................................................. 24
2.4.2. Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học của rệp Myzus persicae

Myzus persicae đến năng suất và hàm lượng đường cao lương ngọt
tại Thái Nguyên ............................................................................................ 47


3.4.1. Ảnh hưởng của việc sử dụng thuốc BVTV trong phòng trừ rệp Myzus
persicae đến năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất cao lương ngọt ...... 47
3.4.2. Ảnh hưởng của việc sử dụng thuốc BVTV trong phòng trừ rệp
Myzus persicae đến hàm lượng đường trong các giai đoạn sinh trưởng
của cao lương ngọt......................................................................................... 50
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ .......................................................................... 52
4.1. Kết luận .................................................................................................. 52
4.2. Đề nghị ................................................................................................... 53


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

FAO

Food and Agriculture Organization of the United
Nations - Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên
Hiệp Quốc.

BVTV

Bảo vệ thực vật

IPM

Quản lý dịch hại tổng hợp



DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1. Bảng phân loại giống căn cứ theo thời gian từ gieo
đến hạt chín sinh lý .......................................................................................... 9
Bảng 1.2. Tình hình sản xuất cao lương trên thế giới trong 5 năm gần đây ... 11
Bảng 3.1. Thành phần, mức độ phổ biến của rệp hại cao lương ngọt
ở Thái Nguyên trong thời vụ xuân hè năm 2013 ............................................ 32
Bảng 3.2. Diễn biến mật độ rệp Myzus persicae qua các kỳ điều tra vụ xuân hè
2013 tại Thái Nguyên .................................................................................... 33
Bảng 3.3. Thời gian phát dục của rệp Myzus persicae ở nhiệt độ 25oC .......... 37
Bảng 3.4. Thời gian phát dục của rệp Myzus persicae ở nhiệt độ 30oC .......... 38
Bảng 3.5. Sức sinh sản của rệp Myzus persicae hại cao lương ngọt
ở 2 mức nhiệt độ 25oC, 30oC và ẩm độ 83,0% ............................................... 41
Bảng 3.6. Nhịp điệu sinh sản của rệp Myzus persicae hại cao lương ngọt
ở mức nhiệt độ 25oC và ẩm độ 83,0% ............................................................ 43
Bảng 3.7. Hiệu lực tiêu diệt rệp của thuốc BVTV (TN trong phòng) ............ 45
Bảng 3.8. Hiệu lực phòng trừ rệp (TN ngoài đồng ruộng).............................. 46
Bảng 3.9. Ảnh hưởng của việc sử dụng thuốc BVTV trong phòng trừ
rệp Myzus persicae đến các yếu tố cấu thành năng suất cao lương ngọt......... 48
Bảng 3.10. Ảnh hưởng của việc sử dụng thuốc BVTV trong phòng trừ
rệp Myzus persicae đến năng suất cao lương ngọt.......................................... 49
Bảng 3.11. Ảnh hưởng của việc sử dụng thuốc BVTV trong phòng trừ r
ệp Myzus persicae đến hàm lượng trong cao lương ngọt................................ 50


DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 2.1. Sơ đồ chọn điểm điều tra................................................................ 25
Hình 3.1. Diễn biến mật độ rệp ...................................................................... 34

McGavin, 1993) [21]. Ngoài ra, rệp còn có mối quan hệ cộng sinh với một số loài
kiến (Detrain C. et al, 2010; Francois J.V. et al., 2012; Verheggen F.J.et al., 2009)
[13], [20], [36], tạo điều kiện cho nấm muội đen phát sinh, phát triển bao phủ mặt
lá làm cản trở khả năng quang hợp của lá, làm cho cây chậm lớn, giảm năng suất và
hàm lượng đường (Williams I.S. et a., 2000) [38]. Rệp còn có khả năng thích nghi
cao với sự biến đổi của điều kiện ngoại cảnh bằng cách liên tục chuyển đổi giữa
sinh sản đơn tính với sinh sản hữu tính (Dubnik H., 1991) [16]. Bên cạnh đó, các
chất đường do rệp tiết ra có tác dụng làm giảm hiệu quả của thuốc trừ nấm bệnh
cây trồng (Dik A.J. and van Pelt A.J., 1992) [14].
Rệp có 2 loại hình (có cánh và không có cánh) tùy thuộc vào điều kiện
thời tiết khí hậu, thức ăn. Trong điều kiện thời tiết khí hậu thuận lợi và đủ thức
ăn, rệp phát triển thành loại hình không cánh (aptera); còn trong điều kiện thời
tiết khắc nghiệt và khan hiếm thức ăn, rệp phát triển thành loại hình có cánh
(alate) (Boerner C. und Heize K., 1957) [11]. Rệp không cánh (aptera) có
khả năng sinh sản cao hơn so với loại hình rệp có cánh (alate) 70% (Dixon,
A.F.G. & Wratten, S.D., 1971) [15].
Rệp có 2 hình thức sinh sản (hữu tính và vô tính) (Ross Piper, 2007) [32].
Ở những nơi có nhiệt độ cao (vùng nhiệt đới, trong nhà kính hay mùa xuân và
mùa hè ở vùng ôn đới), rệp sinh sản vô tính và đẻ con. Còn ở những nơi có


2

nhiệt độ thấp (mùa thu và mùa đông ở các nước ôn đới), rệp sinh sản hữu tính
(có thụ tinh) và đẻ trứng (Hales Dinah F. et al., 2002; Navdeep S. Mutti, 2006)
[23], [27].
Trước thực tế đó, để có cơ sở cho việc nghiên cứu biện pháp phòng trừ
rệp đạt hiệu quả cao góp phần phát triển ổn định và bền vững cây cao lương
ngọt làm nguyên liệu sản xuất ethanol sinh học tại Việt Nam, chúng tôi tiến
hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của biện pháp phòng trừ rệp

trung thành từng đàn hút các chất dinh dưỡng ở nõn, bẹ lá và bông của cây cao
lương ngọt mà còn là môi giới truyền bệnh virus gây khảm lá và bệnh đốm lá
trên cây làm giảm năng suất và hàm lượng đường của cao lương ngọt
(Wicklow D.T. et al., 2009) [37].
Ở nước ta, đã có nhiều nhà khoa học nghiên cứu về các loài rệp hại cây
trồng như: Quách Thị Ngọ (2000), Nguyễn Viết Tùng (1991), Phạm Văn Lầm
(2002) [4], [6], [5] đều cho rằng tác hại của loài rệp ngày càng to lớn, vì rệp
sinh sản vô tính đẻ con. Tuy khả năng sinh sản của rệp không lớn, nhưng vòng
đời của rệp ngắn nên chúng có khả năng tích lũy số lượng lớn, mật độ tăng
nhanh và gây hại lớn. Nhiều công trình nghiên cứu về rệp đã đề cập tới các đặc
điểm sinh học, đặc tính gây hại của từng loài, ảnh hưởng của các yếu tố môi
trường đến sức tăng quần thể,... để làm cơ sở cho việc nghiên cứu các biện
pháp phòng trừ rệp có hiệu quả. Trong các biện pháp phòng chống rệp, biện
pháp mà người dân quan tâm nhất là sử dụng thuốc hóa học. Biện pháp này
không những gây ô nhiễm môi trường, tiêu diệt rất nhiều loài thiên địch trong
vườn trồng cao lương ngọt mà còn hình thành tính kháng thuốc, chống thuốc
của rệp.
Hiện nay các nhà khoa học quan tâm đến biện pháp sinh học, trong đó
để kiểm soát được rệp hại thì người dân phải thường xuyên thăm đồng và bảo
vệ kẻ thù tự nhiên là trọng điểm.


4

1.2. Tình hình nghiên cứu về cây cao lương
1.2.1. Nguồn gốc, phân bố và 1 số đặc điểm nông sinh học của cây cao
lương
Cây cao lương (Sorghum bicolor L. Moench) thuộc chi lúa miến hay chi
Cao lương (chi Sorghum) một trong 30 loài thực vật họ hòa thảo (họ Poaceae).
Theo Evelyn (1951) [19], cao lương có nguồn gốc từ miền Trung Phi cách đây

điều kiện thuận lợi cho phát triển. Cao lương có ngưỡng nhiệt phát triển 15 370C, nhiệt độ tối thích là 270C. Đa số các giống cao lương hiện nay không
phản ứng với ánh sáng, tuy nhiên cao lương là cây trồng ngắn ngày.
Cao lương ngọt (Sweet sorghum) là một cây thuộc họ hòa thảo, chiều
cao trung bình từ 0,6 - 5m tùy thuộc vào giống, điều kiện canh tác và môi
trường. Đặc điểm thực vật học cũng như thời gian sinh trưởng của cây cao
lương tương tự cây ngô và các cây ngũ cốc khác.
Cao lương là cây thân thẳng, chứa nhiều nước. Tùy từng giống và điều
kiện sinh trưởng mà chiều cao cây thay đổi từ 0,5 - 5m, cũng có giống cao tới
6m. Đa số là cây hàng năm nhưng có các giống cây lâu năm tùy thuộc vào tổng
tích ôn của từng giống trong điều kiện trồng cụ thể, do vậy mà thời gian sinh
trưởng của chúng cũng khác nhau.
Thân cao lương gồm các lóng và đốt, lá mọc ra từ đốt, chồi có thể mọc
ra từ các đốt thân. Thời gian đẻ nhánh sớm hay muộn tùy thuộc vào giống, thời
vụ và kỹ thuật canh tác. Cao lương có khả năng đẻ nhánh, nhánh được sinh ra
từ các đốt trên thân, các đốt sát mặt đất ra nhánh trước, nếu thân chính bị chết
đi thì các nhánh con sẽ mọc ra thay thế thân chính. Cao lương có sức tái sinh
rất mạnh, trồng một vụ có thể thu hoạch liên tiếp 2 - 3 lần, có khi tới 4 lần tùy
vào mức độ thâm canh. Nếu chăm sóc tốt, năng suất vụ gốc không kém vụ tơ,
thậm chí cao hơn. Mỗi mắt trên thân cao lương có những chồi mầm, khi đã thu
hoạch thân được chặt đi, những mầm ở phần gốc sẽ tiếp tục phát triển cho ra
những cây mới ở vụ sau. Nên thu hoạch vụ tơ đúng lúc khi hạt vừa cứng, nếu
thu hoạch trễ các chồi mầm sẽ già yếu đi.


6

Bộ rễ cao lương phát triển rộng, rễ chính đâm sâu với nhiều rễ phụ và rễ
bên, rễ chủ yếu xuất hiện ở tầng đất mặt. Rễ chính có thể đâm sâu tới 1,5m
dưới mặt đất nhưng thông thường tập trung ở độ sâu 0,9m hoặc có thể tăng lên
gấp 2 lần chiều sâu đó. Rễ cao lương là rễ chùm với rất nhiều rễ bên có khả

nhiều màu sắc, hình dạng khác nhau tùy từng giống. Thường hạt được bao phủ
bởi lớp mày. Vỏ hạt cao lương cứng, có màu sẫm hoặc màu nâu đậm, có tính
kháng bệnh và các tác động gây hại nhưng làm gia súc khó tiêu hóa hơn
(Icrisat, 1996) [40]. Một kilogram giống chứa 25.000 đến 61.740 hạt. Hạt cao
lương có nhiều màu sắc khác nhau từ màu vàng nhạt, màu nâu đỏ nhạt đến
màu nâu sẫm tùy thuộc vào từng loại hạt nhiều tanin làm cho hạt có vị đắng.
Hạt cao lương khá nhỏ, đường kính khoảng 3 - 4mm, màu sắc hạt thay
đổi từ vàng nhạt đến nâu đỏ và nâu sẫm tùy thuộc vào giống. Các loài cao
lương hoang dại phân biệt bởi vòng đặc trưng với lông dài tại những mấu.
Chúng dễ nở hoa và nở trên nhiều nhánh, nhánh hoa có hình xoắn ốc. Đầu hoa
mang hai loại hoa, một loại không có cuống và có cả hoa đực lẫn hoa cái, loại
còn lại có cuống và thông thường là hoa đực.
Cũng như ngô, cao lương là cây C4 có khả năng sử dụng ánh sáng cao hơn
các loại cây khác, dưới điều kiện ánh sáng cao và nhiệt độ nóng, chúng có thể
quang tổng hợp mạnh hơn (nhiều nghiên cứu cho thấy hơn 90% chất khô tích lũy
được là do quang hợp) và sản xuất nhiều sinh khoáng, có khả năng thích nghi và
tiến hóa trong những vùng bị hạn chu kỳ (Trần Văn Hòa, 2003) [3]. Phần lớn các
loài cây cao lương có khả năng chịu khô hạn và chịu nóng cao, đóng vai trò quan
trọng trong các khu vực có khí hậu khô cằn. Chúng tạo thành một phần quan trọng
của các bãi chăn thả gia súc tại nhiều khu vực nhiệt đới.
Theo báo cáo từ các khu vực Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Tây Á, Địa
Trung Hải… thì cây cao lương là cây trồng chống chịu được với các loại đất từ
chua đến kiềm, đất ngập nước hay khô hạn, nồng độ muối cao, các loại nấm
bệnh cũng như cỏ dại (Duke, 1983) [17]. Cao lương có các đặc điểm về hình
thái và sinh lý cho phép nó có thể sinh trưởng và tồn tại trong điều kiện hạn


8

như: bộ rễ ăn sâu và lan rộng, bộ rễ phụ nhiều gấp 2 lần so với ngô, trên phiến

Nhóm giống

Thời gian sinh trưởng

Nhóm chín sớm

90 - 119 ngày

Nhóm chín trung bình

120 - 139 ngày

Chín muộn

140 - 179 ngày

Chín rất muộn

 180 ngày

Cách phân loại này dựa trên điều kiện thời tiết bình thường, dưới điều
kiện thời tiết khắc nghiệt hoặc rất thuận lợi có thể kéo dài hoặc rút ngắn thời
gian sinh trưởng đến 25 ngày so với cách phân loại trên.
1.2.2. Tình hình nghiên cứu và sản xuất về cao lương ngọt trên thế giới
Cao lương ngọt (Sorghum) còn được gọi là lúa miến, bo bo hay mía ôn
đới. Cao lương là một trong những loại cây ngũ cốc hàng đầu thế giới, cung
cấp thực phẩm, thức ăn, chất xơ, nhiên liệu, sợi.... Cung cấp lương thực cho
750 triệu người trên hành tinh, đặc biệt là ở những vùng nhiệt đới và cận nhiệt
đới của châu Phi, châu Á và châu Mỹ La Tinh. Cao lương thích nghi rất tốt với
vùng đất bán khô hạn và là một trong những cây trồng chuyển hóa CO2 thành

Irac 24 - 28 tấn/ha; 2,5 - 25 tấn/ha ở Oklahoma; 12 tấn/ha ở CuBa; 6 - 8 tấn/ha
ở Ấn Độ 14 - 33 tấn/ha ở Louisiana. Trong khi đó năng suất chất khô của cây
cao lương có thể đạt tới 20 tấn/ha (cây lâu năm) hoặc 30 tấn/ha (cây hàng
năm). Như vậy, năng suất chất khô của cây cao lương thay đổi rất lớn tùy
thuộc vào điều kiện đất đai khí hậu, kỹ thuật chăm sóc, thu hái và giống.
Điều này đã ảnh hưởng tới chất lượng và sản lượng thức ăn khi sử dụng cho
mục đích làm thức ăn gia súc. Cao lương sử dụng làm thức ăn gia súc, ở 120
ngày sau trồng tại California có tốc độ sinh trưởng trung bình đạt
23g/m3/ngày sẽ cho năng suất đạt 27,6 tấn/ha; tại Australia cao lương 83
ngày sau trồng có tốc độ sinh trưởng trung bình đạt 17g/m3/ngày sẽ cho
năng suất 14,1 tấn/ha.


11

Hiện nay, cao lương làm thức ăn thô xanh cho gia súc có thể được lấy từ
nhóm cây cao lương lấy hạt (thường gọi là milo) nhưng năng suất chất khô
nhóm này thấp. Nhóm giống cao lương chuyên dùng để làm thức ăn gia súc có
năng suất chất xanh cao và tỷ lệ sử dụng thường 80 - 90%.
Bảng 1.2. Tình hình sản xuất cao lương trên thế giới trong 5 năm gần đây
Diện tích

Năng suất

Sản lượng

(triệu ha)

(tạ/ha)


14,95

57,03

2013

42,12

14,57

61,38

Năm

(Nguồn FAO.2014) [41]
Ngoài mục đích sử dụng làm thức ăn gia súc, thân cao lương còn được sử
dụng để sản xuất mật cao lương, đường, đồ uống chứa cồn, ethanol... Các bộ phận
của cây là nguồn nguyên liệu cho nấu nướng. Chất nhuộm màu được chiết ở cao
lương hạt được sử dụng ở phía đông châu Phi. Ở Mỹ, tinh bột của cao lương được
chế biến bằng quy trình nghiền ướt làm thành đường dextro, các giống cao lương
hạt sáp sử dụng làm keo dán giấy và vải. Ở Trung Quốc người ta đã ước tính giá
thành sản xuất cồn từ cây cao lương chỉ có 3.500 NDT/tấn. Cứ 16 tấn cây cao
lương có thể sản xuất được một tấn cồn, phần bã còn lại có thể chiết suất được
500kg dầu diesel sinh học, người ta chỉ chế biến nhiên liệu từ thân cây, phấn hạt
cao lương vẫn để dùng làm thực phẩm.
1.2.3. Tình hình nghiên cứu và sản xuất về cao lương ngọt ở Việt Nam
Ở Việt Nam, cao lương (lúa miến, cù làng) được trồng rải rác chủ yếu ở khu
vực miền núi như: Hà Giang, Cao Bằng, Điện biên,… hay khu vực Tây Nguyên
để làm thức ăn chăn nuôi. Mỗi hecta chỉ đạt 32 tấn thân lá và 3 tấn hạt.




13

giống 4C và 7C có năng suất 35 – 50 tấn/ha và hàm lượng đường trong thân 15
– 17 độ Brix. Ngoài ra, công ty Secoin cũng đang tiến hành thử nghiệm một số
giống cao lương ngọt nhập nội từ ICRRISAT, Trung Quốc ở vùng Quảng
Ninh, Hà Tĩnh.
Các thí nghiệm so sánh và khảo sát về các giống triển vọng ở các vùng
sinh thái khác nhau gồm có các giống thời gian sinh trưởng ngắn, năng suất
cao, chống chịu sâu bệnh. Các nghiên cứu tiến hành ở Hà Nội, Bắc Thái, Hải
Dương, Thừa Thiên Huế, Cần Thơ, Minh Hải đã thu được kết quả chung là
giống có thời gian sinh trưởng trung bình là 115 - 125 ngày, thì khả năng
chống bệnh đốm lá, mốc hồng nhạt, chống độc tố và năng suất cao như các
giống: ICSV (5,8 tấn/ha), ICSR - 9075 (4,8 tấn/ha). Các giống được trồng tại
Hà Nội, Hải Dương và Cần Thơ là cho kết quả đáng chú ý hơn, có thể mở rộng
diện tích trồng các loại cây này phổ biến trong các nông hộ.
Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội đã tiến hành thu thập và đánh giá
một số giống cao lương ở các địa phương trong cả nước như Bản Phố (Bắc HàLào Cai), Vũ Nông (Hà Quảng-Cao Bằng), Lũng Nặm (Hà Quảng-Cao Bằng),
Kéo Yên (Hà Quảng-Cao Bằng). Một số giống cao lương cũng đã được nhập
nội từ Ấn Độ và Nhật Bản. Phạm Văn Cường (2006) [2] đã tiến hành mô tả các
đặc tính thực vật học của các giống cao lương đồng thời đánh giá đặc tính
nông sinh học qua các vụ trồng khác nhau tại Đại học Nông nghiệp Hà Nội.
Bước đầu tác giả cũng đã đánh giá năng suất và đặc tính sinh lý liên quan đến
khả năng chịu hạn của cao lương.
Từ năm 2008 đến nay, nhóm nghiên cứu của trường Đại học Nông lâm
Thái Nguyên đã nghiên cứu tính khả thi của một số giống cao lương ngọt ở các
địa phương như: Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Tuyên Quang... Một số giống cao
lương cũng đã được nhập nội từ Nhật Bản: EN 4, EN 6, EN 8, EN 16, EN 19…
Bước đầu tác giả cũng đã đánh giá năng suất và đặc tính sinh lý liên quan đến

tuyển chọn một số giống cao lương ngọt có năng suất cao, chất lượng tốt cho
sản xuất ethanol nhiên liệu” với mục tiêu tuyển chọn và xây dựng quy trình
thâm canh cao lương ngọt. Tuy nhiên bộ giống sử dụng là những giống thuần


15

nhập nội từ ICRISAT (Ấn Độ) năng suất chỉ đạt 30 - 35 tấn/ha. Ngoài ra cũng
có một vài nơi thử nghiệm các giống khác nhau nhưng năng suất thấp, chưa đạt
được hiệu quả như mong muốn.
Từ những năm 1990, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên cũng đã
tiến hành nghiên cứu cao lương lấy hạt trên quy mô nhỏ, những giống này
được nhập từ ICRISAT. Tuy nhiên chưa có quy trình nghiên cứu tổng thể về
điều kiện sinh thái trong quá trình chọn tạo giống, quy trình kỹ thuật trồng nên
những giống nhập nội này chưa thực sự phù hợp với điều kiện sinh thái vùng
trung du miền núi phía Bắc, cho năng suất rất thấp.
Hiện nay, công ty Sacoin đang thực hiện Dự án sinh học thực vật ứng dụng
mới ở giai đoạn nghiên cứu định hướng được thực hiện trên 4ha, gồm 2 phòng thí
nghiệm và một số vườn ươm. Các kết quả thực nghiệm sẽ được áp dụng trên 170
ha thực địa tại Quảng Ninh, Hà Tĩnh. Dự án này đã được sự ủng hộ nhiệt tình của
các địa phương, sự hợp tác hào hứng của các kỹ sư, nhà khoa học ngoài công ty,
đặc biệt là sự tham gia của công ty Hanhwa Rerources (Hàn Quốc) và tư vấn của
các nhà khoa học Mỹ, Australia, Trung Quốc, Ấn Độ...
Năm 2011, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã ký kết bản ghi
nhớ hợp tác nghiên cứu và bản thỏa thuận nghiên cứu phát triển cây cao lương
ngọt làm nguyên liệu sản xuất xăng sinh học tại Việt Nam. Trường đã có buổi
làm việc và thảo luận cơ hội hợp tác nghiên cứu với đại diện Công ty TNHH
Earth Note Nhật Bản. Theo bản thỏa thuận nghiên cứu, phía công ty TNHH
Earth Note sẽ hỗ trợ giống, kỹ thuật và một số kinh phí để tiến hành nghiên
cứu thí nghiệm tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên và một số tỉnh

Rệp thường tập trung ở các bộ phận non của cây để hút dịch, gây hiện
tượng mất nước, làm cho cây bị héo và giảm khả năng sinh trưởng. Cây bị rệp
hại kéo dài, làm giảm năng suất của cây. Sự gây hại của rệp còn làm biến dạng
lá non và gây hiện tượng rụng hoa, rụng quả, thậm chí mất mùa.
Rệp còn là môi giới truyền bệnh virus cho nhiều loại cây trồng
(Blackman & Eastop, 2000) [10]. Cả ấu trùng và rệp trưởng thành đều có khả
năng truyền lan bệnh virus cho cây trồng, nhưng rệp trưởng thành hoạt động



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status