TÀI LIỆU HUẤN LUYỆN DÀNH CHO CÁN BỘ KHUYẾN NÔNG - Pdf 15


1PHẦN 1
TÀI LIỆU HUẤN LUYỆN DÀNH CHO CÁN BỘ KHUYẾN NÔNG

THÁNG 04- 2010

GIỚI THIỆU

Nứt gãy hạt là một trong những nguyên nhân trực tiếp làm giảm thu nhập và nguồn lương thực chủ yếu
của nông dân Đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) do hiệu suất thu hồi gạo nguyên và giá trị thành
phẩm gạo giảm. Hiện tượng gãy hoặc nứt hạt riêng phần có thể xảy ra ngay trên đồng ruộng do thời
gian/phương pháp thu hoạch cũng như điều kiện sấy và quy trình xay xát lúa sau thu hoạch không thích
hợp.

Giai đoạn thu hoạch và sau thu hoạch lúa gạo là một chuỗi các hoạt động có liên quan với nhau. Hình 1
biểu diễn sơ đồ hệ thống sau thu hoạch lúa gạo tại ĐBSCL, Việt Nam. Mỗi giai đoạn đều góp phần vào
tổn thất chung. Ở đây chúng ta xem xét hai khía cạnh:

1. Tổn thất hạt (Grain loss - G): Tổn thất thu hoạch do không thu hồi hết hạt trong quá trình thu
hoạch trên đồng ruộng.
2. Tổn thất giá trị (Value loss - V): Nứt gãy hạt và giảm hiệu suất gạo nguyên làm giảm chất
lượng hạt gạo, như nứt gãy do xay xát. Giá trị gạo có thể giảm đến 50% hoặc thấp hơn.

Do đó, tài liệu này được chia thành 4 phần chính như sau:



Sấy lúa
Phơi đồng G+V
Phơi sân G+V
Sấy bằng máy sấy Sấy đúng G
Sấy sai G+V
Vận chuyển G

Bảo quản V

Vận chuyển G

Xay xát
Qui mô nhỏ V+++
Qui mô vừa V++
Qui mô lớn V+

Hình 1: Hệ thống sản xuất lúa gạo sau thu hoạch ở ĐBSCL, Việt Nam và các thành phần tổn
thất. G là tổn thất hạt, V là tổn thất giá trị, +, ++ và +++ cho biết mức độ tổn thất.
Tổng
(%)
Phơi đồng V=8.7%) 13.1
Phơi sân (V=4%) 8.4
Đúng (0%) 4.4
Gặt tay/ Gặt
xếp dãy
(G=2.9%)

(V=1.5%)
Sai (V=5%) 9.4
Phơi sân (V=4%) 6.7
Đúng (0%) 4.2
Đúng
(V=0%)
Gặt đập
liên hợp
(G=1.2%
V = 1.5%)
Không
(0%)
Sai (V=5%)
Chất
lượng
tốt
(0%)
7.9
Phơi đồng (V=8.7%) 20.6
Phơi sân (V=4%) 15.9
Đúng (0%) 11.9

hoạ
ch đúng (hoặc trễ), cắt tay, đập, phơi sân và sử dụng hệ thống xay xát trung bình.

4
1. ẢNH HƯỞNG CỦA THỜI GIAN THU HOẠCH LÊN SỰ NỨT GÃY
HẠT GẠO VÀ TỔN THẤT CHẤT LƯỢNG

Tổn thất hạt tự nhiên trong suốt quá trình thu hoạch có thể chia thành nhiều loại khác nhau tùy vào
từng giai đoạn và thiết bị sử dụng.

Tổn thất trong quá trình cắt:
• Tổn thất do rơi vãi: hạt chín bị rơi vãi từ bông lúa do các loại chim, gió, chuột và thao tác cắt.
• Tổn thất do ngã đổ: lúa chín bị ngã, do đó rất khó thu hồi hạt trên những cây này.
• Tổn thất do gặt sót: lúa chín chưa gặt còn sót lại trên đồng sau khi thu hoạch.
Tổn thất trong quá trình tuốt và làm sạch
• Tổn thất do phân riêng: hạt bị lẫn với rơm trong quá trình làm sạ
ch.
• Tổn thất do rơi vãi: hạt bị rơi vãi trên đất trong quá trình đập và làm sạch.
• Tổn thất do quá trình đập hoặc do chưa phân riêng: một số hạt vẫn còn dính trên bông lúa trong phần rơm sau khi
đập xong.
Tổn thất do thao tác
• Tổn thất do thao tác: hạt chín bị thất thoát trong quá trình bốc dỡ, chuyên chở, chất hàng, tháo liệu và nhập liệu.

Thời điềm thu hoạch không phù hợp sẽ làm tăng tổn thất thu hoạch. Nguyên nhân chính là do thu
hoạch trễ vì khi đó sẽ làm tăng tổn thất do rơi vãi, ngã đổ và gặt sót.

Thời điểm thu hoạch không phù hợp là một trong những nguyên nhân chính gây tổn thất do nứt gãy

trổ và cộng thêm số ngày để hạt ngậm sữa. Trong mùa khô, thời gian tối ưu là 28 đến 35 ngày sau khi
trổ. Trong mùa mưa, thời điểm tối ưu là 32 đến 38 ngày sau trổ. (This needs to be converted to
Vietnamese seasons I will find the data and add to this paragraph)

Khi vụ lúa gần đến thời điểm tối ưu dự tính cho thu hoạch, chúng ta cần phải quan sát tiếp để xác định
chính xác thời gian thu hoạch. Đô ẩm hạt lý tưởng để thu hoạch là khoảng 20 – 25% (cơ sở ướt). Hạt
phải cứng nhưng không bị nát khi cắn trong miệng. Tuy nhiên, do mưa thường xuyên trong vụ Hè Thu
ở ĐBSCL nên hàm ẩm của lúa tươi thường vào khoảng 28-30%. Do đó cần phải sấy lúa ngay nhằm
tránh hạt bị gãy nứt, nảy mầm hay nấm mốc gây hư hỏng.

Xung quanh thời điểm này, nên thu hoạch lúa khi 80 – 85% hạt chuyển sang màu vàng rơm ( xem ảnh).

Việc thu hoạch cũng cần được tính toán sao cho có thể tiến
hành đập (tuốt) sớm nhất sau khi gặt nhằm tránh hiện tượng
hồi ẩm và giảm nứt gãy hạt. Vì vậy, gặt đập liên hợp là
phương pháp thu hoạch tốt nhất.

Nếu cây lúa có quá nhiều ẩm bề mặt (do cơn mưa trước
hoặc do sương sớm), thì nên chờ đến khi bề mặt lúa khô ráo
mới tiến hành gặt.

Trên cơ sở các thí nghiệm với 7 giống lúa trong 3 vụ từ năm
2006 đến 2008, thời điểm thu hoạch thu hợp tối ưu đối với mỗi giống cho mỗi mùa (khô/mưa) được
trình bày trong Bảng 4. Hầu hết đều rơi vào khoảng ngày đã đề nghị trong Bảng 3. Tuy nhiên một số
trường hợp nằm ngoài khoảng này, đó là giống OM2517 (94 ngày trong mùa mưa), AG24 (94 ngày
trong mùa mưa) và OM2718 (88 ngày trong mùa mưa).
Bảng 4: Thời điểm sinh trưởng tối ưu cho tỉ lệ thu hồi gạo nguyên cao nhất
(các số màu đỏ là thời gian sinh trưởng tối ưu cho thu hoạch)
Giống lúa Mùa
Thời gian sinh trưởng (ngày)

Khô
87 89
91
93 95 97
Jasmine Mưa
94 96
98
100 102 104
AG 24 Mưa
86 88 90 92
94
96
IR50404
Khô
88 90
92
94 96 98
Tổn thất sản lượng

Chọn thời điểm thu hoạch thích hợp rất quan trọng nhằm tránh tổn thất. Tổn thất hạt có thể do chuột,
chim, côn trùng, lúa ngã đổ và do rơi vãi. Thời điểm thu hoạch đảm bảo chất lượng hạt tốt cũng như giá
trị thương mại cao.

6
51.06
52.3
50.73
47.99
42.23
36.51

3.20
9.60
4.80
10.80
15.20
23.60
0
4
8
12
16
20
24
-6 -4 -2 0 +2 +4 +6
Harvesting time (days from maturity)
Grain cracks (%)
0.40 0.40
1.20
2.80
10.80
4.00
5.20
0
2
4
6
8
10
12
-6 -4 -2 0 +2 +4 +6

Head Rice Recovery (%
)

Giống:OM 1490 (Mùa mưa 2006) Giống: OM2718 (Mùa mưa 2006)

Hình 3: Ảnh hưởng cua thời điểm thu hoạch đến tỉ lệ thu hồi gạo nguyên.
Trục X biểu diễn ngày thu hoạch sớm và trễ so với ngày chín sinh lý (ngày 0).
7 Bảng 5 tổng kết các tổn thất do thu hoạch trễ đối với các giống khác nhau trong các mùa khác nhau ở
ĐBSCL từ 2006 đến 2008. Hiệu suất gạo nguyên gỉam 5-28% nếu thu hoạch trễ 6 ngày. Giả sử rằng
giảm 1% hiệu suất gạo nguyên tương đương với 0.5% tổn thất (tổn thất giá trị 50%), thì thu hoạch trễ
sẽ gây tổn thất 2.5-14%. Các giống AG24 và IR50404 tổn thất dưới 2.5%, trong khi các giống
OM1490, OM2517 và OM2718 có tổn thất cao trên 5% (trễ 6 ngày). Những giống này cần thu hoạch
sớm hơn.
Bảng 5: Tổn thất hiệu suất thu hồi gạo nguyên (%) do thu hoạch trễ hoặc sớm
Giống lúa Mùa
Tổn thất gạo nguyên (%) so với ngày thu hoạch tối ưu
Khô
0
1.57 4.31 10.07 15.79 17.77
OM1490
Mưa

Jasmine Mưa
0.71 3.54
0
0.77 7.21 6.2
AG 24 Mưa
6.23 4.48 3.49 0.66
0
4.27
IR50404
Mưa
-0.25 0.89
0
5.97 1.29 2.16
Ghi chú: 0 là ngày thu hoạch tối ưu. Sau (trước) ngày này là thu hoạch trễ (sớm). Ngày thu hoạch của các ô liền kề nhau
cách nhau 2 ngày.
Số liệu điều tra cho thấy hầu hết nông dân thu hoạch trễ từ 1 đến 3 ngày. Ví dụ, có đến 80%, 90%, 55%
và 50% nông dân thu hoạch trễ lần lượt cho các giống OM1490, OM2718, Jasmine và AG24.

ĐỪNG thu hoạch trễ sau ngày
chín để tránh nứt gãy hạt và
gia tăng tỉ lệ gạo nguyên.
Thí nghiệm trên đồng cho thấy:
Thu hoạch trễ từ 4-6 ngày làm
tăng nứt gãy hạt 24%, và giảm
tỉ lệ gạo nguyên 28%.

8
1. Thời điểm thu hoạch là một trong những nhân tố quan trọng kiểm soát sự nứt gãy hạt và thậm
chí cả tỉ lệ thu hồi gạo nguyên. Khuynh hướng rõ ràng là thu hoạch sớm hơn vài ngày (trước
ngày chín sinh lý) sẽ tốt hơn thu hoạch trễ.

Nhiều dụng cụ thu hoạch được dùng như dao, liềm, động vật, máy đập tĩnh, máy đập liên kết với máy
kéo, máy gặt đập liên hợp. Ở Việt Nam bao gồm ĐBSCL, hệ thống phổ biến nhất để gặt lúa là: 9
1. Gặt tay, gom lúa bằng tay và sau đó đập bằng máy (không còn đập tay ở Việt Nam)

Gặt tay Gom tay Đập máy 2. Thu hoạch bằng máy gặt xếp dãy, thu gom bằng tay, sau đó đập bằng máy.
Gặt xếp dãy Gom tay Đập máy
Cần rất nhiều nhân công thu gom sau khi thu hoạch bằng máy gặt xếp dãy. 3. Gặt bằng máy gặt xếp dãy, sau đó gom – đập bằng máy liên hợp. Gặt xếp dãy Thu gom và đập bằng máy

Cắt lúa và xếp lúa trên rơm rạ khô bằng máy gặt xếp dãy, sau đó thu gom và đập bằng máy. 10
4. Gặt đập liên hợp

Hạt nảy mầm sau 20
giờ kể từ khi thu
hoạch do mưa ẩm
ướt (vụ Xuân Hẻ)

+ Thu hoạch bằng máy gặt xếp
dãy, phơi đồng, chất đống, đập
- Máy gọn nhẹ, năng suất cao (1-6
ha/ngày); máy có thể vận hành
trên nền đất xốp.
- Độ bền của máy gặt xếp dãy vừa
phải và ít khi hư hỏng nặng. Phụ
tùng thay thế sẵn có tại địa
phương.
- Khối lượng thân lúa nhiều (cao hơn 2-
3 lần so với gặt tay) làm tăng công
chất đống và tuố
t lúa; rất khó thu hoạch
lúa ngã đổ. Đó là những hạn chế chính
của máy gặt xếp dãy.
- Tổn thất trong quá trình thu hoạch và
chất đống do hạt quá chín.

11

- Độ sạch của lúa gặt cao.
- Tính cơ động cao.
- Chi phí đầu tư vừa phải.
- Chất lượng hạt không tốt bằng hạt gặt

đồng ruộng.
- Khó thu hoạch lúa ngã đổ.
- Cấu tạo máy khá phức tạp để vận
hành và duy tu bảo dưỡng.
- Độ sạch không cao khi ẩm độ hạt cao.
- Tính cơ động không cao nếu sử dụng
bánh xích.
- Chi phí đầu tư cao.

Ước tính tổn thất thu hoạch
Tổn thất thu hoạch bao gồm tổn thất do rơi vãi và do đập. Bảng 7 liệt kê các thành phần tổn thất và
tổng tổn thất thu hoạch. Tổng tổn thất thu hoạch có thể cao đến 4.4%. Tổn thất 1% do máy gặt đập liên
hợp là do nhà sản xuất ước tính. Ở mức trung bình, gặt máy làm giảm các tổn thất thu hoạch.

Bảng 7: Ảnh hưởng của phương pháp thu hoạ
ch lên tổn thất thu hoạch
Phương pháp thu hoạch
Tổn thất do
rơi vãi (%)
Tổn thất
do đập (%)
Tổn thất
thu hoạch (%)
Gom tay chất đống tức thời 1.4 2.6-4.4
Bằng tay
Phơi mớ (1 ngày)
1.2-3.0
1.2 2.4-4.2
Gặt máy chất đống tức thời 1.1 1.8 Máy gặt xếp
dãy

quá trình đập
(% cs ướt)
Khối lượng hạt
rơi vãi trên
25m
2
(g)
Năng suất
(kg/1000m
2
)
% tổn
thất
1 OM 2517 23.4 28.9 445 550 2.6
2 20.4 26.5 320 450 2.2
3 24.5 29.3 182 380 1.6
4 23.8 27.9 290 440 2.2
5 22.9 28.4 220 480 1.5
6
AG 24

18.9 19.4 538 400 5.2
7 22.5 24.8 285 350 3.6
8
OM 1490

20.3 23.7 298 300 4.6
9 22.8 19.4 262 380 2.3
10 27.6 22.1 305 400 2.4
11


Tầm quan trọng của sấy

Sấy là quá trình tách nước ra khỏi hạt nhằm đạt đến hàm ẩm an toàn để bảo quản hạt.
Lúa được thu hoạch ở ẩm độ khoảng 20 đến 30% (cơ sở ướt), tùy vào mùa thu hoạch.
Nếu không sấy, gạo thường bị hư hỏng do hoạt động của vi sinh vật và bị biến màu.
Tùy vào thời gian lưu trữ mong muốn mà gạo cần đạt đế
n ẩm độ nhất định để tồn trữ
an toàn (Bảng 10). Bảng 10: Thời gian lưu trữ an toàn của gạo tại những ẩm độ khác nhau.

Thời gian bảo quản Ẩm độ yêu cầu (w/w) Nguy cơ xảy ra
ở ẩm độ cao hơn
2 đến 3 tuần 14 - 18% Mốc, biến màu, tổn thất do
hạt hô hấp
8 đến 12 tháng 13% hay thấp hơn Côn trùng phá hoại
Hơn 1 năm 9 % hay thấp hơn Sấy trễ, sấy không đầy đủ hay sấy không đều sẽ gây tổn thất về chất lượng lẫn số
lượng:

• Gạo bị biến màu hay ngả vàng do nấm phát triển và do nhiệt của quá trình hạt
hô hấp.
• Độ gãy gạo tăng kết quả là giảm hiệu suất xay xát do nhiệt độ cao và do hiện
tượng hồi ẩm của hạt.
• Hạt không n
ảy mầm và mất sức sống do các hoạt động hô hấp, nấm mốc phát

quá trình xay xát.

 Hồi ẩm trong đêm do ẩm độ cao gây nứt h
ạt và hiệu suất xay xát thấp.

 Sấy không đều do trải đống không đều. Các hạt nằm bên ngoài khô nhanh hơn
các hạt nằm bên trong đống.

Kết quả thí nghiệm trong Bảng 11 cho thấy hiệu suất thu hồi gạo nguyên giảm do
phơi đồng và phơi sân.

Bảng 11: Tổn thất hiệu suất gạo nguyên quy ra tổn thất lúa (kg/100 kg thu hồi)
đối với các giống khác nhau ở ĐBSCL do tập quán phơi đồng và phơ
i sân hiện
nay của nông hộ

Giống OM1490 OM2718 Jasmine AG24
Tổn thất gạo nguyên (%)
7.32 8.97 10.45 7.87

Phơi sân

Phơi sân là phương pháp phổ biến ở Việt Nam nói chung và ĐBSCL nói chung. Sau
khi đập, đống hạt được trải rộng ra dưới nắng trời. Thông thường lúa được phơi trên
sân xi măng, đường nhựa hay trên bạt ni lông. Đây là phương pháp sấy có chi phí thấp
nhưng tốn công lao động. Ngoài ra, việc kiểm soát nhiệt độ hạt khó. Lớp lúa ở bề mặt
sẽ khô hơn các lớp bên trong. Do vậy phải thường xuyên đả
o trộn để giảm sự chênh
lệch ẩm giữa các lớp hạt.


OM1490
OM2517
Jasmine
Sticky rice
49.1
48.7
50.4
50.6
49.6
49.1
50.7
51.3
47.5
45.3
44.6
48.2
2.1
3.8
6.0
3.1
Ghi chú: Ts là nhiệt độ bề mặt hạt.

Ước tính trung bình tổn thất do phơi đồng và phơi sân khoảng 8.7% (Bảng 11). Giá trị
tổn thất này tính theo vụ Đông-Xuân. Tổn thất trong mùa mưa (vụ Thu – Đông, tháng
4 đến tháng 8) sẽ cao hơn do thay đổi của thời tiết mưa và bão.

Sấy nhân tạo

Sấy nhân tạo nhanh hơn các phương pháp truyền thống trong những điều kiện được
kiểm soát. Xét về chất lượng hạt và hiệu suất xay xát thì sấy nhân t


Sấy Thùng (Si lô)

Đây là phương pháp sấy nhiệt độ thấp. Lúa có hàm ẩm khoảng dưới 18% có thể được
sấy chậm trong thùng chứa với tác nhân sấy là không khí được đốt nóng nhẹ. Do
không có đảo trộn khối hạt nên phần hạt gần nơi không khí sấy vào sẽ khô nhanh hơn
so với vùng bên trong. Nếu nhiệt độ hơi cao và ẩm độ của không
khí rất thấp có thể gây nứt gãy hạt tại vị trí tác nhân sấy đ
i vào.
Phương pháp sấy này không thông dụng ở ĐBSCL.
Sấy vỉ ngang

Đây là thiết bị sấy phổ biến nhất ở ĐBSCL. Sấy vĩ ngang còn gọi là sấy lớp tĩnh.

Trong thiết bị sấy này, không khí được đốt nóng và
thổi xuyên qua khối hạt. Lúa được giữ cố định
trong thùng chứa cho đến khi sấy xong. Năng suất
sấy có thể linh động, dao động từ 1 đế
n 10 tấn. 10
tấn /mẻ là kích thước lớn nhất về mặt quản lý nhân
công. Thời gia sấy trung bình từ 7-10 giờ, tùy vào
độ ẩm đầu. Hình dáng của vỉ trong thiết bị sấy theo
mẻ có thể có dạng hình chữ nhật, nằm nghiêng một
góc để dễ tháo liệu hoặc đảo trộn. Nhiệt độ sấy
thích hợp vào khoảng 43 - 45
o
C.

• Tăng dòng tác nhân sấy sẽ rút ngắn quá trình sấy và giảm hàm ẩm nhưng tăng
chi phí năng lượng.
• Đảo trộn hạt trong quá trình sấy giúp giảm sự chênh lệch hàm ẩm.

Sơ đồ cấu tạo buồng đốt Buồng đốt trấu với bộ phận thu hồi tro hình trụ.

Buồng đốt trấu tự động.

Do chiều cao lớp lúa lớn và tác nhân sấy đi qua lớp lúa chỉ một chiều nên hàm ẩm
giữa lớp trên bề mặt và lớp dước đáy sẽ khác nhau. Có thể tiến hành đảo trộn để giảm
sự khác biệt này, nhưng đảo trộn không hiệu quả và tốn nhiều công lao động. Để đơn
giản, sau một thời gian sấy, dòng tác nhân sấy sẽ được thổi ngược chiều qua lớp lúa.
Hình 1: Máy sấy 1 tấn đảo chiều gió

Drying Air

Chênh lệch ẩm độ lớp trên cùng-dưới
đáy (%) 0.83 4.64
Chênh lệch ẩm độ lớp giưa-lớp trên cùng (%) 2.24
Trấu tiêu thụ: kg/mẻ 171.2 215.2
Trấu tiêu thụ: kg/giờ 28.5 35.9
Xăng dầu tiêu thụ (cho quạt), L/giờ 1.70 1.75
Chiều cao lớp lúa ban đầu, mm 517.8 507.8
Tỉ lệ nứt hạt lức trước sấy (%) 12.0 21.0
Tỉ lệ nứt hạt lức sau sấy (%) 13.8 23.8
Tỉ lệ nứt hạt do phơi nắng- sân xi măng, chiều cao lớp
hạ 7 cm (%)
17.8 26.8
Tỉ l
ệ thu hồi gạo nguyên (%)
Gạo nguyên %, sau sấy 59.39 56.21
Gạo nguyên %, phơi nắng 55.58 52.12
Chênh lệch (Phơi nắng & Sây cơ học) % -3.81 -4.09

Thiết bị sấy nhiệt độ cao

Thiết bị sấy tầng sôi và sấy tháp liên tục được dùng khi sấy năng suất lớn. Sấy ở nhiệt
độ cao nhằm tăng tốc độ sấy nhưng có thể gây nứt gãy hạt. Do nhiệt độ và thời gian
tiếp xúc phải được kiểm soát chặt chẽ nên những thiết bị sấy này chưa được sử dụng ở
mứ
c độ nông hộ tại Việt Nam.
Đối với thiết bị sấy tầng sôi, gạo được tạo tầng sôi bằng dòng không khí vào đáy của
lớp hạt. Tốc độ khí đi qua mâm xuyên lỗ đủ lớn để nâng các hạt lên. Sau khi hạt được
nâng lên, không khí đi qua và hạt lại rơi xuống do trọng lực. Quá trình trên được lặp
lại và toàn khối hạt tương tự trạng thái dòng. Sấy tháp có chi phí cao so với sấy tĩnh vỉ



Xay xát gạo là quá trình tách lớp vỏ và phần cám để thu được gạo trắng.

Quá trình này có thể tiến hành:

• Quá trình xay xát một giai đoạn, khi đó vỏ trấu và cám được tách ra trong
cùng một giai đoạn và thu gạo trắng trực tiếp từ lúa.

• Quá trình xay xát hai giai đoạn, khi đó vỏ trấu và cám được tách ở hai giai
đoạn riêng biệt nhau, gạo lức được xử lý tiếp để thu gạo trắng.


Quá trình nhiều giai đoạn, khi đó lúa trải qua nhiều công đoạn và thiết bị khác
nhau để thu được gạo trắng.

Tỉ lệ thu hồi gạo nguyên (%) là một tiêu chuẩn quan trọng để đánh giá chất lượng xay
xát gạo. Gạo nguyên là những hạt gạo không bị gãy và có chiều dài ít nhất là 75%
chiều dài của hạt gạo lức ban đầu. Trong điều kiện lý tưởng, tỉ lệ thu hồi gạo nguyên
khoảng trên 59%. Gạo bị gãy trước khi xay xát do các quá trình thu hoạch, sấy không
thích hợp, hạt chưa chín, bị bạc bụng và điều kiện xay xát là những nguyên nhân
chính góp phần làm giảm tỉ lệ thu hồi gạo nguyên.

Tỉ lệ thu hồi gạo nguyên không chỉ phụ thuộc vào chất lượng gạo ban đầu (có các hạt
bị vỡ hoặc bị rạn), mà còn phụ thuộc vào hiệu quả của quá trình xay xát. Có 3 hệ thống xay xát gạo ở ĐBSCL (tỉnh Kiên Giang và Tiền Giang):
1. Hệ thống xay gạo trắng truyền thống: Dây chuyền xay xát gạo hoàn chỉnh
không có thiết bị lau bóng (khoảng 91% gạo xay)
2. The … (khoảng 3% gạo xay).

17. Cân định lượng
18. Sàng

19. Lau bóng
20. Xát trắng 2
21. Thùng chứa
22. Lắng, thu hồi
23. Thùng chứa
24. Xát trắng 3

Sơ đồ hệ thống xay xát truyền thống
Tỉ lệ thu hồi gạo nguyên của các máy xay nhỏ thường thấp do hệ thống xay xát không được
bảo trì và vận hành phù hợp nên hiệu suất thấp. Tỉ lệ thu hồi gạo nguyên trên các máy xay
nhỏ thấp đến 33%. Các máy xay lớn có tỉ lệ thu hồi gạo nguyên lớn nhất 55%. Về mặt lý
thuyết, tỉ lệ thu hồi gạo nguyên và tỉ lệ thu hồi gạo có thể đạt đến 60% và 70%. Do vậy, mục
tiêu cải thi
ện tỉ lệ thu hồi gạo nguyên đối với các máy xay quy mô lớn vẫn còn được thực
hiện, chưa kể đến các máy xay quy mô nhỏ hiệu quả kém.

Tỉ lệ thu hồi gạo nguyên từ số liệu khảo sát các nhà máy xay (tỉnh Kiên Giang và
Tiền Giang)
Qui mô
xay xát
Ẩm độ hạt
(%)
Tỉ lệ thu hồi gạo nguyên
trung bình (%)
Gạo gãy
(%)
Nhỏ

2 Bóc vỏ trấu
3 Phân loại
4 Gạo lức
Trấu
Cám thô
Nhà máy lau bóng
(Gạo lức)
Lúa chưa xát
5 Xát trắng 1
Nhà máy lau bóng
(Gạo xô)
Gạo tiêu thụ
nội địa
6 Xát trắng 2 Fine Bran
7 Lau bóng
8 Làm nguội
9 Phân loại Gạo gãy
Một phần gạo nguyên
Pha trộn gạo
CÂN, ĐÓNG
BAO, BẢO
QUẢN
Gạo chất lượng cao
tiêu thụ nội địa
Thị trường xuất khãu
214


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status