Đồ án tốt nghiệp 1 Thiết kế nhà máy đường thô hiện đại
LỜI NÓI ĐẦU
Nước ta là một nước có truyền thống sản xuất đường mía lâu đời. Theo thời gian
cùng với sự phát triển của ngành đường trên thế giới nghề làm đường của nước ta
cũng phát triển mạnh mẽ cả về số lượng, chất lượng cũng như kỹ thuật canh tác chế
biến.
Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật nhu cầu về thực phẩm của con người
cũng thay đổi.Đặc biệt là sự quan tâm ngày càng cao về chất lượng thực phẩm và
ảnh hưởng của thực phẩm đến sức khỏe của con người.Trong các ngành sản xuất
thực phẩm được coi là quan trọng phải kể đến công nghệ sản xuất đường.
Đường saccaroza đóng vai trò quan trọng trong khẩu phần hàng ngày của con
người, là yếu tố không thể thiếu được trong sự phát triển của nhiều ngành công
nghiệp khác như sản xuất bánh kẹo , sữa, đồ hộp, nước giải khát… Đồng thời sản
phẩm phụ của nó dùng làm nguyên liệu cho nhà máy sản xuất rượu, cồn, phân bón,
thức ăn gia súc…
Ở nước ta, là nước nhiệt đới, rất thuận lợi cho cây mía phát triển. Nó phát triển
trên khắp nước ta từ Bắc vào Nam và là nguồn nguyên liệu rất dồi dào cho sản xuất
đường.
Với một số nhà máy đường hiện có thì chưa thể nào khai thác hết nguồn tài
nguyên lớn đó. Làm tổn thất một lượng khá lớn đường do mía đã chín nhưng chờ để
thu hoạch, làm cho đời sống của người dân gặp nhiều khó khăn, vất vả. Trong khi
nhu cầu về đường của nhân dân rất cấp thiết, lượng đường sản xuất vẩn còn thiếu,
không đủ cung cấp cho người tiêu dùng. Nhiều khi phải nhập từ nước ngoài vào mà
đặt biệt là đường thô, là nguyên liệu để sản xuất đường tinh luyện.
Trước tình hình đó em được giao đề tài“Thiết kế nhà máy đường thô hiện đại
năng suất 2300 tấn mía/ngày”
GVHD: T.s Trương Thị Minh Hạnh SVTH: Đoàn Kim Thông
Đồ án tốt nghiệp 2 Thiết kế nhà máy đường thô hiện đại
PHẦN 1: LẬP LUẬN KINH TẾ KĨ THUẬT
Tỉnh Gia Lai nằm ở khu vực miền trung, là một tỉnh còn nghèo, diện tích khá
rộng, dân đông nhưng lại sống chủ yếu về nông nghiệp, đồng thời thuộc vùng có
Đồ án tốt nghiệp 3 Thiết kế nhà máy đường thô hiện đại
chưa nhiều nhưng sản xuất với khối lượng khá lớn và nguyên liệu là đường thô như
nhà máy đường Biên Hoà, Khánh Hội…
Việc hợp tác liên kết sản xuất này giúp cho các nhà máy chủ động hơn về nguyên
liệu sản xuất.
1.4. Nguồn cung cấp hơi.
Ngày nay hầu hết các nhà máy đường hiện đại đều sử dụng nguồn hơi riêng của
nhà máy để phục vụ rất nhiều công đoạn trong sản xuất…Đặc biệt việc chạy tuabin
của máy phát điện trong nhà máy tiêu tốn lượng hơi khá lớn nhằm đáp ứng đủ điện
để nhà máy hoạt động bình thường. Lượng hơi sử dụng rất lớn nên ở nhiều công
đoạn như nấu đường, cô đặc nếu tận dụng được hơi thứ là tiết kiệm được chi phí rất
nhiều cho nhà máy. Nhiên liệu sử dụng để tạo ra nguồn hơi đốt là bã mía, than, củi
và dầu FO… phòng trong các trường hợp đầu mùa vụ sản xuất không có nhiên liệu
để đốt.
1.5. Nguồn cung cấp điện
Nhà máy sử dụng nguồn điện từ mạng lưới điện quốc gia 500V được hạ xuống
220/380 có thêm máy biến áp dự phòng. Ngoài ra nhà máy còn lắp đặt thêm tuabin
phát điện dùng hơi quá nhiệt là nguồn cung cấp điện chủ yếu khi sản xuất.
1.6. Nguồn cấp nước và vấn đề xử lý nước thải trong nhà máy.
Nguồn nước được lấy từ Sông ba và được đưa về hệ thống xử lý nước của nhà
máy, nguồn nước sau xử lý phải đảm bảo là đủ tiêu chuẩn nước dùng cho sản xuất.
1.7. Giao thông vận tải.
Xã Hà Tam có lợi thế rất lớn về vấn đề giao thông, nằm tại khu vực có quốc lộ 19
đi qua, đây là một thuận lợi về việc vận chuyển trang thiết bị vật tư, nguyên liệu từ
các nơi khác đến và chuyển sản phẩm của nhà máy đến nơi tiêu thụ. Giao thông
thuận lợi góp phần làm giảm chi phí vận chuyển nên có thể tiết kiệm được chi phí
cho nhà máy.
1.8. Nguồn nhân công lao động
Xã Hà Tam có phần lớn dân cư sống chủ yếu về nông nghiệp, đây là nguồn lao
động cần thiết cho nhà máy. Qua đó giúp cho nhà máy có được nguồn lao động ổn
Song chắn rác Máy nghiền rác, vụn mía
Bể lắng bùn cát Khu làm khô bã nghiền
Bể lắng đợi 1
Bể xử lý sinh học
Bể lắng đợi 2 Khu xử lý cặn
Máng khoấy trộn Khu làm khô cặn
Bể tiếp xúc Phân bón
Nước sạch Môi trường
GVHD: T.s Trương Thị Minh Hạnh SVTH: Đoàn Kim Thông
Đồ án tốt nghiệp 6 Thiết kế nhà máy đường thô hiện đại
PHẦN II: TỔNG QUAN
2.1. Những đặc trưng về công nghệ trong sản xuát đường mia Việt Nam.
Công nghệ sản xuất đường thông thường trải qua 3 công đoạn chính: ép, làm sạch
nước mía và kết tinh.
Trong chương trình mía đường, một số công nghệ mới được áp dụng đã góp phần
làm cho ngành đường phát triển mạnh và ngày càng hoàn thiện hơn.
- Ép mía là phương pháp tách nước mía được sử dụng phổ biến ở nước ta chủ yếu
do chi phí đầu tư thiết bị thấp, vận hành đơn giản và linh hoạt khi phải chạy dưới
tải. Nước sau ép chứa 13 - 15% chất tan trong đó có 12 - 12,5 % là đường sacaroza.
Hiện ở Việt Nam chỉ có 2/45 nhà máy dùng phương pháp khuếch tán là Nhà máy
đường Cam Ranh, Bourbon Tây Ninh và nhà máy đường La Ngà
- Trên 50% nhà máy đường dùng phương pháp sunfit để tinh chế đường. Ngoài ra
còn có phương pháp vôi hóa và cacbonat hóa.
- Công nghệ sunfit hóa trung tính được sử dụng mang lại hiệu suất thu hồi và chất
lượng sản phẩm cao hơn, giảm tổn thất đường.
- Công nghệ lắng nổi có hiệu suất làm sạch và tẩy màu cao, đặc biệt trong sản xuất
đường trắng bằng phương pháp sunfit.
- Cải tiến công nghệ sản xuất đường tinh luyện bằng cách kết hợp với sản xuất
đường thô trong cùng một nhà máy đã giảm được 30-40% vốn đầu tư và giảm 30%
giá thành sản phẩm .
OH
H
H
H
H
CH
2
OH
Đồ án tốt nghiệp 7 Thiết kế nhà máy đường thô hiện đại
Sacaroza có tính ức chế rất mạnh trong việc tổng hợp vitamin B
1
trong cơ thể.
Dùng đường quá nhiều không có lợi, nhất là đối với người lao động nặng, vì nếu bổ
sung vitamin B
1
không đủ, khi chuyển hóa gluxit sinh ra lactac dễ tăng mệt mỏi.
Ngoài ra, nếu ăn quá nhiều đường một lúc, lượng đường trong máu tăng đột ngột
đến 200-400 mg % (giới hạn là 80- 120mg %), tế bào tủy sẽ không tạo đủ lượng
insulin để chuyển đường glucoza thành glucogen dự trữ ở gan và cơ, thận sẽ làm
việc quá tải và đường theo nước thải ra ngoài.
Tinh thể đường sacaroza thuộc hệ đơn tà, trong suốt, không màu.Tỉ trọng 1,5878.
Nhiệt độ nóng chảy 186-188
0
C.
Đường rất dễ hòa tan trong nước. Độ hòa tan tăng theo nhiệt độ tăng và phụ thuộc
vào chất không đường có trong dung dịch đường.
Đường sacaroza không hòa tan trong dầu hỏa, cloroform, CCl
4
, CS
2
- Làm phân huỷ đường khử
- Tách loại các chất không đường
2.3.2. Tác dụng của nhiệt độ:
Phương pháp dùng nhiệt độ để làm sạch nước mía là một trong những phương pháp
quan trọng. Khi khống chế được nhiệt độ tôt sẽ thu được những tác dụng chính sau:
- Loại không khí trong nước mía, giảm bớt sự tạo bọt, tăng nhanh các quá trình
phản ứng hoá học
- Có tác dụng tiệt trùng, đề phòng sự lên men axit và sự xâm nhập của vi sinh vật
vào nước mía
- Nhiệt độ tăng cao làm tỉ trọng nước mía giảm, đồng thời làm chất keo ngưng tụ,
tăng nhanh tốc độ lắng của các chất kết tủa
2.3.3. Tác dụng của các chất điện ly:
a. Tác dụng của vôi:
- Trung hoà các axit hữu cơ và vô cơ
- Tạo các điểm đẳng điện để ngưng kết các chất keo
- Làm trơ phản ứng axit của nước mía hỗn hợp và ngăn ngừa sự chuyển hoá đường
sacaroza
- Kết tủa hoặc đông tụ những chất không đường: protein, pectin, chất màu…
- Phân huỷ một số chất không đường, đặc biệt là đường chuyển hoá, amit
- Tác dụng cơ học: các chất kết tủa tạo thành có tác dụng kéo theo những chất lơ
lửng và những chất không đường khác
- Sát trùng nước mía
GVHD: T.s Trương Thị Minh Hạnh SVTH: Đoàn Kim Thông
Đồ án tốt nghiệp 9 Thiết kế nhà máy đường thô hiện đại
b. Tác dụng của SO
2
:
- Tạo kết tủa CaSO
3
có khả năng hấp thụ các chất không đường, chất màu và chất
5
dạng muối hoặc axit sẽ kết hợp với vôi tạo thành kết tủa Ca
3
(PO
4
)
2
, kết tủa này
có tỷ trọng lớn có khả năng hấp thụ chất keo và chất màu cùng kết tủa. Khi vôi làm
sạch nước mía có đủ lượng P
2
O
5
nhất định thì hiệu quả làm sạch tăng rõ rệt
2.2.3. Quá trình cô đặc:
Nước mía sau khi làm sạch có nồng độ chất khô khoảng 12 – 15Bx. Để đáp ứng
nhu cầu nấu đường, cần cô đặc nước mía đến khoảng 65Bx gọi là mật chè và do đó
cần bốc hơi một lượng nước lớn và để tiết kiệm hơi cần thực hiện ở hệ bốc hơi
nhiều hiệu. Trong quá trình bốc hơi, tuy rằng tiêu hao một lượng hơi nhiều nhưng
đồng thời cũng sản sinh ra một lượng hơi thứ lớn. Hơi thứ có nhiệt độ cao, nên được
sử dụng làm nguồn nhiệt cho các công đoạn khác như nấu đường, gia nhiệt. Do đó,
công đoạn bốc hơi là trung tâm hệ thống nhiệt của toàn nhà máy, là trạm cung cấp
hơi áp lực thấp. Có phương án bốc hơi hợp lý sẽ giảm tiêu hao năng lượng hơi và
giảm giá thành. Có 3 phương án nhiệt của hệ bốc hơi:
- Phương án bốc hơi áp lực
- Phương án bốc hơi chân không
- Phương án bốc hơi áp lực chân không
Trong quá trình bốc hơi, dưới tác dụng của nhiệt độ cao nên sẽ xảy ra nhiều phản
GVHD: T.s Trương Thị Minh Hạnh SVTH: Đoàn Kim Thông
Đồ án tốt nghiệp 10 Thiết kế nhà máy đường thô hiện
GVHD: T.s Trương Thị Minh Hạnh SVTH: Đoàn Kim Thông
Đồ án tốt nghiệp 11 Thiết kế nhà máy đường thô hiện
đại
2.4.2. Sự lớn lên của tinh thể:
Sau khi nhân tinh thể xuất hiện mà dung dịch đường vẫn ở trạng thái quá bão hoà
thấp thì những phân tử đường ở gần nhân tinh thể không ngừng bị mặt ngoài của
nhân tinh thể hút vào, lắng chìm vào bề mặt tinh thể, đồng thời xếp từng lớp ngay
ngắn theo hình dạng tinh thể làm cho tinh thể lớn dần lên. Trong quá trình đó , do
các phân tử đường không ngừng lắng chìm vào tinh thể nên số lượng phân tử đường
trong nước đường gần bề mặt tinh thể giảm đi và số lượng phân tử đường trong
nước đường xa bề mặt tinh thể tăng lên tương đối, hình thành hai khu vực nồng độ
thấp và nồng độ cao. Do 2 khu vực nồng độ khác nhau nên xuất hiện hiện tượng
khuếch tán của các phân tử đường từ khu vực nồng độ cao sang khu vực nồng độ
thấp, đến rìa tinh thể bị tinh thể hút vào và lắng chìm xuống [8 – Tr43]. Qúa trình
cứ tiếp tục như vậy làm cho tinh thể đường lớn dần lên.
2.4.3. Động học của quá trình kết tinh
đường
Quá trình kết tinh đường gồm hai giai
đoạn:
• Sự xuất hiện nhân tinh thể được biểu
diễn theo đồ thị:
Trạng thái của dung dịch sacaroza chia
làm 3 vùng quá bão hòa:
- Vùng ổn định: Hệ số bão hòa α = 1,1
- 1,15. Trong vùng này tinh thể chỉ lớn
lên mà không xuất hiện các tinh thể mới.
- Vùng trung gian: α = 1,2 - 1 ,25. Trong vùng này, tinh thể lớn lên và xuất hiện
một lượng nhỏ tinh thể mới
- Vùng biến động: α >1,3. Ở đây, tinh thể sacaroza tự xuất hiện mà không cần tạo
mầm hoặc kích thích.
để lấy nước mía.
3.1.2. Chọn phương pháp làm sạch
Ngày nay có nhiều phương pháp làm sạch khác nhau nhưng nhìn chung sử dụng
nhiều hơn vẫn là 3 phương pháp sau:
-
Phương pháp vôi
-
Phương pháp SO
2
-
Phương pháp CO
2
a. Làm sạch nước mía bằng phương pháp vôi
Phương pháp vôi có từ rất lâu, là cách làm sạch đơn giản nhất.
Phương pháp gia vôi được chia làm 3 loại sau:
-
Cho vôi vào nước mía lạnh
GVHD: T.s Trương Thị Minh Hạnh SVTH: Đoàn Kim Thông
Đồ án tốt nghiệp 14 Thiết kế nhà máy đường thô hiện
đại
-
Cho vôi vào nước mía nóng
-
Cho vôi phân đoạn
- Ưu, nhược điểm của phương pháp cho vôi phân đoạn.
- Ưu điểm:
+ Quản lý và thao tác tương đối dễ
+ Dây chuyền công nghệ đơn giản, chi phí đầu tư thấp
+ Giảm 35% lượng vôi so với hai phương pháp cho vôi trên.
2
không thích hợp sẽ không có lợi cho sản
phẩm đường tinh luyện sau này. Vì hàm lượng của SO
2
trong đường cao sẽ ngăn
cản sự hấp phụ của các tác nhân tẩy màu đối với các chất màu hoá học trong đường,
gây khó khăn và phức tạp cho việc luyện đường thô thành đường cao cấp. Mặt khác
trong điều kiện nước ta hiện nay so với phương pháp SO
2
thì phương pháp vôi
GVHD: T.s Trương Thị Minh Hạnh SVTH: Đoàn Kim Thông
Đồ án tốt nghiệp 15 Thiết kế nhà máy đường thô hiện
đại
thích hợp hơn mặc dầu hiệu quả làm sạch thấp, khả năng thu hồi đường không cao
nhưng có các ưu điểm là:
-
Chi phí đầu tư thấp
-
Dây chuyền đơn giản, số lượng thiết bị ít
-
Quản lý và thao tác dễ dàng.
- Chất lượng đường không thấp hơn phương pháp SO
2
là bao.
Qua phân tích ưu nhược điểm của từng phương pháp, để sản xuất đường thô ta
chọn phương pháp vôi với phương pháp cho vôi phân đoạn.
3.1.3. Chọn chế độ nấu đường.
Trong sản xuất người ta thường áp dụng hai chế độ nấu đường, chế độ nấu gián
đoạn và nấu liên tục.
Với chế độ nấu liên tục: thời gian nấu nhanh do đó nâng cao năng suất, ít tổn thất
C)
Ca(OH)
2
Gia vôi II (pH = 7,6 ÷ 8,2)
Gia nhiệt II (t = 102 ÷ 105)
Lắng trong Nước bùn Lọc chân không
Nước mía trong Nước lọc trong
Gia nhiệt III (t = 110 ÷ 115
o
C)
Cô đặc
Lọc kiểm tra
Mật chè
Nấu non A Nấu non B Nấu non C
Trợ tinh Trợ tinh Trợ tinh
Máng phân phối Máng phân phối Máng phân phối
Ly tâm Ly tâm Ly tâm
Đường A Mật A
Mật B Đường C Mật cuối
Sấy Đường hồ Hồi dung C
Làm nguội Nấu non A Bể mật rỉ
Đóng bao Bảo quản.
GVHD: T.s Trương Thị Minh Hạnh SVTH: Đoàn Kim Thông
Đồ án tốt nghiệp 17 Thiết kế nhà máy đường thô hiện
đại
3.3. Thuyết minh dây chuyền công nghệ :
3.3.1. Vận chuyển, tiếp nhận và xử lý nguyên liệu :
Mía được vận chuyển về nhà máy, qua cân điện tử định lượng và lấy mẫu phân
tích chữ đường rồi được đưa xuống bàn lùa bằng hệ thống cẩu.
Sau đó mía được phân phối xuống băng chuyền, qua máy băm 1, máy băm 2 nhờ
O
5
vào nước mía hỗn hợp để hàm lượng P
2
O
5
đạt đến 300 mg/lít nước mía nhằm
tăng khả năng tạo kết tủa có tính hấp phụ cao là Ca
3
(PO
4
)
2
qua đó tăng hiệu quả làm
sạch nước mía.
Thiết bị: Chọn thiết bị gia vôi dạng hình trụ đáy côn có cánh khuấy, làm việc liên
tục.
Hình 3.2 – Thiết bị gia vôi
3.3.4. Gia nhiệt I : ( t
o
= 70 ÷75
o
C)
Mục đích: nhằm tăng tốc độ phản ứng tạo kết tủa Ca
3
(PO
4
)
2
và tăng khả năng hấp
-
Ca
3
(PO
4
)
2
kết tủa hấp thụ các chất keo và chất màu có tác dụng làm sạch
nước mía.
GVHD: T.s Trương Thị Minh Hạnh SVTH: Đoàn Kim Thông
Đồ án tốt nghiệp 19 Thiết kế nhà máy đường thô hiện
đại
+ Tạo ra điểm đẳng điện để ngưng kết thêm một số chất keo.
- Sau khi gia vôi lần hai, pH nước mía đạt 7,6 - 8,2
- Thiết bị gia vôi lần 2 giống thiết bị gia vôi lần 1
3.3.6. Gia nhiệt II : ( t
o
= 102 ÷105
o
C)
Mục đích: nhằm giảm độ nhớt của dung dịch làm tăng tốc độ quá trình lắng sau
này, giảm tỉ trọng nước mía, tăng hiệu quả tiêu diệt vi sinh vật.
Thiết bị: Chọn giống như gia nhiệt I.
3.3.7. Lắng trong :
Mục đích: nhằm thu nước mía trong sau khi tách loại hoàn toàn bùn và cặn nhỏ ra
khỏi nước mía hỗn hợp. Quá trình lắng làm việc dựa trên tác dụng của trọng lực,
các hạt rắn kích thước lớn và các kết tủa sẽ lắng tự nhiên. Trong quá trình lắng nước
mía được lắng liên tục và bùn lấy ra ngoài nhờ bộ phận răng cào trên các tấm ngăn.
Thiết bị: Chọn thiết bị lắng trọng lực làm việc liên tục có bộ phận răng cào, thiết
bị loại này hoạt động tốt năng suất cao, cấu tạo đơn giản và dễ dàng thao tác.
nhằm tăng khả năng truyền nhiệt của nước mía, giảm lượng hơi sống sử dụng, rút
ngắn thời gian của quá trình bốc hơi.
Thiết bị: thiết bị gia nhiệt dạng ống chùm thẳng đứng như thiết bị gia nhiệt 1.
3.3.10. Bốc hơi:
Mục đích: Nhằm bốc hơi nước, đưa nồng độ Bx của nước chè trong từ13 ÷ 15%
lên Bx = 55 ÷ 65% để tạo điều kiện cho quá trình nấu đường và kết tinh.
Thiết bị: sử dụng thiết bị cô đặc dạng ống chùm, có ống tuần hoàn trung tâm.
Chọn hệ bốc hơi áp lực chân không 4 hiệu, độ chân không hiệu cuối khoảng 550
mmHg. Nước mía trong sau khi gia nhiệt có nhiệt độ cao sẽ được đưa vào hệ cô
đặc để tiến hành cô nước mía đến nồng độ theo yêu cầu Bx = 55 ÷ 65% tạo điều
kiện thuận lợi cho quá trình nấu đường và kết tinh. Hệ thống bốc hơi này có thể tận
GVHD: T.s Trương Thị Minh Hạnh SVTH: Đoàn Kim Thông
Hình 3.4: Thiết bị lọc chân không .[ 14 ]
Đồ án tốt nghiệp 21 Thiết kế nhà máy đường thô hiện
đại
dụng được nguồn hơi thứ triệt để, thời gian bốc hơi nhanh giảm được chi phí về
năng lượng.
3.3.11. Lọc kiểm tra:
Mục đích: tách cặn mới sinh ra và cặn còn sót, làm tăng độ tinh khiết của mật chè,
tạo điều kiện tốt cho công đoạn sau (nấu, kết tinh, ly tâm).
[12]
3.3.12. Nấu đường:
Mục đích: Nhằm tách nước từ mật chè, đưa dung dịch đến quá bão hoà, đảm bảo
chất lượng đường thành phẩm, tăng hiệu suất thu hồi đường.
Nấu non A: Thường nấu ở áp suất chân không 600-620mmHg, nhiệt độ nấu 60-
65
0
C, thời gian nấu 3h. Để ổn định trong quá trình nấu đường yêu cầu nhiệt độ của
nguyên liệu đưa vào phối liệu phải cao hơn nhiệt độ trong nồi 3-5
0
chất lượng sản phẩm, không hiệu quả kinh tế. Vì vậy đến nồng độ chất khô nhất
định của mỗi loại đường non thì cho đường non vào thiết bị trợ tinh thêm, đồng thời
tạo điều kiện thích ứng li tâm.
Nguyên tắc của quá trình là giảm nhiệt độ làm cho đường non tiếp tục quá bão hoà
và kết tinh. Với đường A và B sử dụng thiết bị trợ tinh có cánh khuấy ruột gà, vì độ
nhớt thấp và mật A, B còn dùng nấu lại nên không cần nghiêm ngặt lắm, thời gian
GVHD: T.s Trương Thị Minh Hạnh SVTH: Đoàn Kim Thông
5
Hình 3.6: Nồi nấu đường.
Đồ án tốt nghiệp 23 Thiết kế nhà máy đường thô hiện
đại
trợ tinh non A là 2 ÷ 4 h, non B là 4 ÷ 6 h. Còn đường non C ta phải sử dụng thiết bị
trợ tinh có cánh khuấy mà có cấu tạo bằng đĩa khuyết. Trợ tinh C cần phải nghiêm
ngặt vì mật C là mật cuối nhiều tạp chất, độ nhớt lớn, không dùng nấu lại nên cần
làm cho tinh thể đường hấp thụ phần đường trong hỗn hợp dịch cao nhất, thời gian
trợ tinh 18 ÷ 24h.
3.3.14. Ly tâm :
Mục đích: Do trên bề mặt tinh thể sau khi kết tinh vẫn còn một lượng mật chưa
kết tinh hết nên ta cần tách ra khỏi tinh thể bằng lực li tâm trong các thùng quay với
tốc độ cao. Sau li tâm ta nhận được đường và mật cái. Nhiệt độ đường non là: 55
o
C.
Đường non từ thiết bị trợ tinh xuống máng phân phối để khuấy đều rồi phân phối
xuống các máy li tâm.
Thiết bị: Đường A và B có độ nhớt thấp và mật sau khi ly tâm sử dụng lại nên
dùng máy ly tâm gián đoạn. Còn với đường C có nhiều tạp chất hơn, có độ nhớt cao
hơn do đó cần thời gian ly tâm dài hơn và tốc độ ly tâm cao hơn, đều đặn nên dùng
thiết bị ly tâm liên tục, mục đích là để phân mật một cách triệt để.
GVHD: T.s Trương Thị Minh Hạnh SVTH: Đoàn Kim Thông
Hình 3.7: Thiết bị trợ timh ngang.[13]
được chất thành đống trong kho có độ thoáng cao và cách ẩm tốt.
GVHD: T.s Trương Thị Minh Hạnh SVTH: Đoàn Kim Thông