LỜI NÓI ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường, tiền trở thành một phương tiện đảm bảo
cho mọi hoạt động kinh tế diễn ra một cách bình thường. Hoạt động của tiền
trong nền kinh tế luôn gắn liền với các hiện tượng kinh tế như: lạm phát, chu
kỳ kinh doanh, thâm hụt ngân sách Tiền liên quan đến các quyết định của
các cá nhân và ảnh hưởng đến tình trạng chung của nền kinh tế quốc gia.
Liên quan đến sự vận động của tiền trong nền kinh tế là hoạt động của
các tổ chức tài chính (các ngân hàng, công ty bảo hiểm, các quỹ tương trợ )
và thị trường tài chính (thị trường chứng khoán, thị trường cổ phiếu và hối
đoái). Các thị trường tài chính và các tổ chức tài chính không chỉ tác động đến
đời sống hàng ngày của mỗi cá nhân mà còn liên quan đến sự luân chuyển của
những dòng vốn lớn trong nền kinh tế, tác động đến hiệu quả hoạt động của các
doanh nghiệp và đến cả tình trạng kinh tế của một nước.
Như chóng ta đã biết, nếu vốn được coi là một trong những nguồn lực
quan trọng và đóng vai trò quyết định đối với sự phát triển kinh tế, nó có một
tính chất khan hiếm. Vậy vấn đề đặt ra làm thế nào dể sử dụngmột cách triệt để
và có hiệu quả nhất nguồn vốn trong nước và ngoài nước? Để đạt được điều
này, trước hết cần phải có một hệ thống ngân hàng phát triển đồng bộ, có sự
phối hợp nhịp nhàng giữa ngân hàng Nhà nước (NHNN) hay ngân hàng Trung
Ương (NHTW) với các ngân hàng thương mại (NHTM) trong việc thực hiện
chính sách tiền tệ. Ở đó, vai trò đặc biệt của NHTW là không thể thay thế
được.
Chính vì vậy mà bài viết này có tên là:
“VAI TRÒ CỦA NHTW TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG”
Do thời gian nghiên cứu có hạn nên trong bài viết có thể còn nhiều sai
sót. Em rất mong sự góp ý của các thầy cô và các bạn.
1
CHƯƠNG I
VAI TRÒ CỦA NHTW TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
I. KHÁI NIỆM NHTW
Mọi quốc gia đều có NHTW, nhưng tên gọi có thể khác nhau (ngân hàng
- Tiền gửi của nước ngoài và tiền
gửi khác
- Tiền mặt trả sau
- Các khoản nợ khác và tài khoản tư
bản
2
Bảng quyết toán tài sản của ngân hàng cho thấy các nguồn vốn và cách
sử dụng vốn của ngân hàng. Thông qua bảng quyết toán tài sản, người ta có thể
đánh giá chính xác tình trạng hoạt động của ngân hàng.
+ Tài sản có: gồm những chứng khoán mà NHTW nắm giữ gồm có trước
hết là chứng khoán kho bạc nhưng trước đây gồm cả hối phiếu được ngân hàng
chấp nhận. Tổng kim ngạch chứng khoán do các nghiệp vụ thị trường mở quyết
định. Đây là loại tài sản có quan trọng trong bảng tổng kết và tài sản của
NHTW.
Cho vay chiết khấu: đó là những khoản tiền mà NHTW cho các ngân
hàng vay và kim ngạch vay chịu tác động của lãi suất mà NHTW ânăng suất
định cho những khoản vay đó (lãi suất chiết khấu).
Hai tài sản có trên đóng một vai trò quan trọng trong bảng quyết toán tài
sản của NHTW
Lý do thứ nhất: những thay đổi trong các khoản tài khoản có này sẽ dẫn
đến các thay đổi về tiền dự trữ và tiếp sau đó là những thay đổi về lượng tiền
cung ứng.
Thứ hai: do các tài sản này (chứng khoán Chính phủ và tiền cho vay
chiết khấu) đem lại lãi suất trong khi các tài sản nợ (đồng tiền lưu hành và tiền
dự trữ) không phải thanh toán lãi suất. Như vậy tài sản có mang lại thu nhập,
tài sản nợ không phải tốn kém gì.
Các chứng khoán Chính phủ gồm các tài khoản chứng khoán của NHTW
do kho bạc phát hành. NHTW cung cÊp tiền dự trữ cho hệ thống ngân hàng
hoạt động bằng cách mua chứng khoán do dó làm tăng tài sản có của nó. Một
sự tăng chứng khoán Chính phủ do NHTW nắm giữ dẫn đến một sự tăng lượng
chúng ta chỉ tập trung vào tài sản nợ tiền tệ của NHTW bởi tài sản nợ tiền tệ
của kho bạc chỉ tieeu tới không quá 10% của cơ số tiền nói trên.
Cơ số tiền tệ (MB) còn gọi là tiền có quyền lực cao, hình thành từ các tài
sản nợ tiền trong lưu thông(C) cộng dự trữ (R).
MB = C + R.
Để có thể hiểu rõ hơn về bảng quyết toán tài sản của NHTW chóng ta sẽ
đi vào nghiên cứu các chức năng và vai trò của NHTW trong nền kinh tế thị
trường.
Vai trò đặc trưng nhất của NHNN là ngân hàng phát hành ngân hàng của
Nhà nước và ngân hàng của các ngân hàng.
2.1. Ngân hàng Nhà nước là ngân hàng phát hành.
Nhiệm vô bao trùm nhất là hoạch định và thực thi chính sách tiền tệ theo
cơ chế thị trường.
Khi Ngân hàng phát hành TW ra đời thì toàn bộ việc phát hành tiền được
tập trung vào NHTW theo chế độ độc quyền. Đây là chức năng cơ bản và vốn
4
có của NHTW. Tiền do NHTW phát hành là phương tiện thanh toán hợp pháp
duy nhất.
Với chức năng phát hành, NHNN không chỉ phát hành tiền mặt mà cả
phương tiện lưu thông nói chung. Trách nhiệm của NHTW là bảo đảm cung
ứng đủ, không để thiếu phương tiện thanh toán (kể cả tiền mặt), làm sao cho
tổng cung phù hợp với tổng cầu tiền tệ.
Ở đây, một vấn đề có tính nguyên tắc là đòi hỏi nghiêm ngặt đối với việc
vận hành chính sách tiền tệ là không được phát hành tiền bù đắp thiếu hụt ngân
sách.
Hoạt động tín dụng không tách riêng mà nằm trong hoạt động tiền tệ.
Phát hành tiền không còn là nguồn vốn tín dụng, mà chỉ là hình thức cung ứng
tiền trung ương, đáp ứng nhu cầu phương tiện thanh toán của các ngân hàng và
nền kinh tế. Tiền mặt không phải là tất cả, mà nằm trong lượng tiền cung ứng.
Trước đây, quản lý tiền mặt đã từng là công cụ quản lý duy nhất, là nhiệm vụ
trang trải cho khoản chi tiêu vượt quá khoản thu thuế. Khối lượng các chứng
khoán Chính phủ nằm trong các ngân hàng thương mại hay ở cá nhân các công
dân không thay đổi nhưng cơ số tiền đã tăng lên lượng cung ứng tiền sẽ tăng
lên nhiều hơn do có hệ số tiền.
2.3. Ngân hàng của các ngân hàng.
Thực hiện chức năng này, NHTW đóng vai trò là ngân hàng còn các
ngân hàng thương mại và các trung gian tài chính (quỹ tín dụng, công ty bảo
hiểm ) là các khách hàng của NHTW.
NHTW là ngân hàng của các ngân hàng, được thực hiện thông qua nhiều
mối quan hệ :
a. NHNN tiến hành tái cấp vốn, thực hiện vai trò người vay cuối cùng,
qua nghiệp vụ tái chiết khấu đối với các ngân hàng thương mại. Thực chất, đây
là loại tín dụng có thế chấp giấy tờ có giá ngắn hạn. Qua nghiệp vụ này,
NHTW thực hiện kiểm soát số lượng và chất lượng tín dụng của các ngân hàng
thương mại.
Ta biết rằng, bất kỳ một hệ thống NHTM nào có nguồn dự trữ Ýt ỏi cũng
sẽ dễ bị ảnh hưởng bởi những cơn hoảng loạn tài chính. Hoản loạn ngân hàng
xảy ra khi các ngân hàng không có khả năng đáp ứng nhu cầu rót ra của người
gửi, khi đó ngân hàng buộc phải chấp nhận phá sản. Để tránh được những cơn
hoảng loạn tài chính, cần phải có sự đảm bảo rằng các ngân hàng có thể nhận
được tiền mặt khi có nhu cầu thực sự. Nguy cơ của những cơn hoảng loạn tài
chính có thể tránh được hoặc Ýt nhất giảm bớt được đáng kể khi biết rằng
NHTW sẵn sàng đóng vai trò cứu cánh cho vay cuối cùng khi không còn
phương sách cứu vãn nào khác. NHNN luôn có được khả năng này vì nó là
ngân hàng duy nhất có quyền phát hành tiền. Vai trò của NHTW là cứu cánh
6
cho vay cuối cùng không chỉ đơn thuần duy trì được hệ thống tài chính hiện đại
tinh vi và gắn bó chặt chẽ với nhau, trong đó sự thất bại của một ngân hàng sẽ
kéo theo sự sụp đổ của nhiều ngân hàng khác. Nó cũng làm giảm tính bất khả
đoán lớn trong quá trình kiểm soát tiền tệ hàng ngày.
7
tiền tệ không gây ra lạm phát, ổn định giá trị đồng tiền. Chính vì vậy, sự ổn
định tiền tệ là nhệm vụ thường trực của NHTW, là định hướng chỉ đạo toàn bộ
hoạt động của NHTW.
a. Chính sách tiền tệ là một phương thức theo đó NHTW kiểm soát và
điều tiết khối lượng tiền tệ cung ứng.
Sự chỉ đạo chính sách tiền tệ của NHTW tác động đến việc tăng giảm
lượng tiền cung ứng cho nền kinh tế. Các biến chuyển trong lượng tiền cung
ứng tác động đến sức khoẻ của nền kinh tế và do đó ảnh hưởng đến đời sống
của mọi người chúng ta. Điều đó nó lên tầm quan trọng của chính sách tiền tệ.
NHTW thực hiện chính sách tiền tệ tức là quá trình NHTW kiểm soát
tiền tệ sao cho khối lượng tiền tệ cân đối với mức tăng tôngr sản phẩm quốc
dân danh nghĩa, cân đối giữa tổng cung và tổng cầu về tiền. Một chính sách
tiền tệ đúng đắn phải hướng vào việc khống chế nguồn gốc làm tăng hoặc giảm
lượng tiền cung ứng, làm tăng hoặc giảm khối lượng tiền tệ nói chung chứ
không phải chỉ khống chế tiền mặt.
Chính sách tiền tệ của một quốc gia có thể được xác định theo hai
hướng:
Chính sách thắt chặt tiền tệ được dùng trong những thời kỳ có lạm phát
cao; với mục đích là làm giảm lượng tiền cung ứng. Từ đó dẫn tới việc lãi suất
tăng, tiêu dùng và đầu tư giảm, xuất khẩu vòng giảm, GNP giảm, việc làm
giảm thất nghiệp tăng, kìm hãm sự phát triển quá nóng của nền kinh tế.
Chính sách mở rộng tiền tệ được dùng khi nền kinh tế suy thoái. Mục
đích là tăng lượng tiền cung ứng, lãi suất giảm. Và từ đó tiêu dùng và đầu tư
tăng, xuất khẩu vòng tăng, GNP tăng, việc làm tăng, thất nghiệp giảm.
b. Mục tiêu của chính sách tiền tệ
Do chính sách tiền tệ là một phần của chính sách kinh tế vĩ mô nên
những mục tiêu của chính sách tiền tệ cũng là mục tiêu của chính sách kinh tế
vĩ mô.
NHTW thường đề ra 6 mục tiêu cơ bản của chính sách tiền tệ của mình.
c. Ba công cụ chính mà NHTM sử dụng để tác động đến lượng cung ứng
tiền tệ, đó là:
9
(h×nh a)
L îng tiÒnM
M
S
Md
1
Md
2
i
1
i
2
i
(h×nh b)
L îng tiÒnM
1
M
2
M
S1
M
S2
Md
1
Md
2
2
ứng tiền tệ tăng quá nhanh do nã mua trên thị trường tự do quá nhiều thì nó có
thể sửa chữa ngay lập tức bằng cách tiến hành nghiệp vụ bán trên thị trường tự
do.
Nghiệp vụ thị trường tự do có thể được hoàn thành nhanh chóng không
gây nên những chậm trễ về mặt hành chính. Và tác dụng của nghiệp vụ thị
trường tự do đối với tiền dự trữ là không chắc chắn hơn nhiều so với tác dụng
đó đối với cơ số tiền tệ.
10
+ Chính sách chiết khấu:
Lãi suất chiết khấu là lãi suất mà NHTW tính với NHTM khi họ muốn
vay tiền. Thông qua lãi suất chiết khấu NHTW tác động đến lượng dự trữ của
NHTM. Các NHTM phải cân đối lãi suất họ sẽ thu được một khoản cho vay
biên (có tính đến cả những nguy cơ và chi phí có kiên quan nếu có dòng tiền
mặt rót ra bất thình lình và lớn) với lãi suất chiết khấu. Một lãi suất chiết khấu
cao hơn làm tăng phí vay từ NHTW, như vậy các NHTM sẽ vay chiết khấu Ýt
hơn, và từ đó làm giảm bớt có số tiền và thu hẹp cung ứng tiền. Nếu một lãi
suất chiết khấu thấp hơn làm cho vay chiết khấu hấp dẫn hơn với các ngân
hàng và khối lượng vay sẽ tăng lên, làm tăng cơ số tiền và tăngcung ứng tiền
tệ.
Những điều kiện dễ dàng của NHTW mà theo đó những khoản cho vay
chiết khấu được cung cáp cho các ngân hàng được gọi là cửa sổ chiết khấu.
NHTW có thể tác động đến khối lượng vay chiết khấu bằng hai cách:
bằng cách tác động đến giá cả của khoản vay (lãi suất chiết khấu) như phần
trên đã trình bày hoặc bằng cách tác động đến số lượng vay thông qua việc
NHTW quản lý cửa sổ chiết khấu.
Các khoản vay chiết khấu mà NHTW cấp cho các NHTM có ba loại: tín
dụng điều chỉnh, tín dụng thời vụ, và tín dụng mở rộng.
• Tín dụng điều chỉnh, đây là loại tín dụng thông dụng nhất, nhằm giúp cho
các ngân hàng giải quyết vấn đề khả năng hoàn trả ngắn hạn do tiền gửi bị
tạm thời rót ra.
Đối với các nghiệp vụ tái chiết khấu, chính các NHTW đóng vai trò bị
động, do phải đáp ứng nhu cầu hàng ngày của NHTW. Trong hệ thống thị
trường mở, NHTW đóng vai trò chủ động bởi vì chính NHTW yêu cầu vốn khả
dụng cho thị trường tiền tệ. Phương thức thị trường mở không chỉ cung cấp vốn
khả dụng cho các NHTM trên thị trường tiền tệ mà còn rút vốn khả dụng ra
khỏi thị trường tiền tệ. Điều đó giúp NHTW kiểm soát tốt hơn lượng vốn khả
dụng ngân hàng và lãi suất trên thị trường.
Cũng cần phải nói thêm rằng, tuy hai công cụ trên đều có những mặt ưu
nhược điểm riêng nhưng chúng đều có mục đích là đảm bảo tái cấp vốn của
NHTW cho NHTM.
Ngoài hai công cụ trên, NHTW còn sử dụng công cụ là quy định tỷ lệ dự
trữ bắt buộc (Rd)
+ Dự trữ bắt buộc.
Tỷ lệ dự trữ bắt buộc là tỷ lệ tối thiểu giữa dự trữ tiền mặt với các khoản
ký gửi mà NHTW yêu cầu NHTM phải duy trì.
Khoản dự trữ bắt buộc là khoản tiền dự trữ cần thiết để NHTM có thể
ứng phó với những luồng tiền mặt rót ra bất ngờ.
12
Nếu một khoản dự trữ bất buộc đang có hiệu lực, các NHTM có thể giữ
lượng tiền mặt cao hơn dự trữ tiền mặt theo yêu cầu nhưng không được giữ Ýt
hơn. Nếu lượng tiền mặt của họ giảm xuống xuống thấp hơn lượng bắt buộc, họ
phải vay tiền mặt ngay, thường là vay của NHTW để khôi phục lại tỷ lệ dự trữ
bắt buộc
Khi NHTW quy định một khoản dự trữ bắt buộc cao hơn tỷ lệ dự trữ mà
các ngân hàng thận trọng phải duy trì trong bất kỳ tình hình nào thì hậu quả
của nó là giảm bớt việc tạo ra những khoản ký gửi của các ngân hàng, làm
giảm giá trị của thừa số tiền và giảm lượng cung tiền đối với bất kỳ cơ số tiền
bất định nào.
Một khoản dự trữ bắt buộc có tác dụng như một khoản thuế đánh vào các
ngân hàng bằng cách bắt buộc họ phải duy trì một khoản dự trữ cao hơn trong
chuyển tiếp có khu vực kinh tế tư nhân nhỏ nhưng phát triển rất nhanh và
nhanh chóng và khu vực kinh tế Nhà nước ngày càng co lại. Tuy nhiên, phần
lớn các trường hợp kinh tế tư nhân không xuất hiện ngay lập tức mà dần theo
thời gian và khu vực kinh tế Nhà nước cũng không hề có biểu hiện mất ngay.
Víi sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân, xây dựng được một hệ
thống tài chính vững chắc, lấy thị trường làm có sở để đảm bảo cho các thành
phần kinh tế hoạt độngtốt là một việc làm hết sức cần thiết.
Trong quá trình chuyển tiếp sang nền kinh tế thị trường các nhà ra quyết
định phải đối mặt với những mâu thuẫn giữa các mục tiêu đã đề ra; mặc dù sự
chuyển đổi hướng tới nền kinh tế thị trường hàm ý rằng Chính phủ cần phải rút
khỏi vị trí thống trị của mình trong nền kinh tế nhưng mặt khác cũng cần phải
có hoạt động của Chính phủ để giải quyết những nhiệm vụ mới suất hiện. Một
trong số những nhiệm vụ đó là xây dựng một hệ thống tài chính vững chắc hữu
hiệu, lấy thị trường làm cơ sở, thực thi một chính sách tiền tệ có hiệu quả.
Những nền kinh tế này thiếu hầu hết những tổ chức quan trọng của kinh
tế thị trường, thị trường cạnh tranh cho các nhân tố, các hàng hoá và dịch vụ,
một hệ thống tài chính cạnh tranh và được đầu tư vốn đầy đủ, một cơ cấu pháp
luật và điều chỉnh nhằm đảm bảo cho hệ thống tài chính.
Trong các nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung trước đây, hệ thống tài
chính đều ở trạng thái tồi tệ. Tài chính hầu như chỉ đóng vai trò ghi chép, lưu
giữ thụ động, trong khi việc phân bố các nguồn lực do chính kế hoạch tập trung
kiểm soát
Các quyết định tín dụng đều đã được lên kế hoạch trước. Hệ thống ngân
hàng bị suy kiệt vì nguồn vốn thấp, một số lượng lớn các khoản nợ không hoạt
động của các quốc doanh, các khoản cho vay gián tiếp tập trung theo khu vực
địa lý và khu vực ngành, ngân hàng tiết kiệm có mạng lưới chi nhánh nhỏ bé.
14
Hoạt động kinh doanh của ngân hàng hầu như không có lãi, được Nhà nước bù
lỗ. Các nhà quản lý lại có rất Ýt kinh nghiệm trong việc đánh giá các đơn xin
vay, trong việc tính toán và giải quyết các rủi ro. Thị trường cổ phần và thị
việc nâng cao hiệu quả trong sản xuất nói riêng và trong xã hội nói chung.
15
2. Vai trò của khu vực ngân hàng
Mét trong những thử thách với những nền kinh tế kế hoạch tập trung
trước đây chính là sự phân quyền trong việc phân bố nguồn tài lực. Lý do hang
đầu trong động cơ kinh tế nhằm chuyển đổi sang cơ chế thị trường là sự nhận
thức được rằng kế hoạch hoá tập trung không đưa lại sự phân phối vốn có hiệu
quả và vì thế mà các nguồn tài nguyên vật chất không được sử dụng có năng
suất thấp. Về mặt này bản chất của thị trường là giảm tới mức tối thiểu ảnh
hưởng của các nhân tố phi kinh tế tác động leen sự phân phối các nguồn tài
nguyên và cũng chính nhờ đó mà cải thiện được hiệu suất đầu tư.
Vấn đề trọng tâm phải quyết định cái gì sẽ thay thế cơ chế kế hoạch hoá
làm trung gian giữa những thành phần kinh tế có nguồn tài chính thặng dư và
những thành phần kinh tế không có đủ vốn để cung cấp cho công việc đầu tư
của mình.
Theo truyền thống, vị trí trung gian này được thống trị bởi khu vực ngân
hàng. Sự cạnh tranh giữa các ngân hàng với nhau và với các hình thức trung
gian ngoài ngân hàng đã buộc ngân hàng phải nâng cao sự thành thạo trong
việc đánh giá rủi ro tín dụng và xác định những khoản đầu tư có lợi nhất.
Trong quá trình thực hiện điều này các ngân hàng đòi những nguồn tin có giá
trị về cả người cho vay và người vay tiền. Trên cơ sở đánh giá các nguồn thông
tin đó ngân hàng sẽ quyết định lựa chọn những khoản đầu tư có lơị nhất. Ngay
cả ở những nước công nghiệp phát triển, mặc dù có sự phát triển và đa dạng
của nhiều tổ chức tài chính song vai trò chủ đạo của khu vực ngân hàng đối với
sự phát triển của nền kinh tế là không thể phủ nhận được.
Ở nước ta trước đây thì sao ? do hậu quả của lạm phát kéo dài, bắt nguồn
từ những mất cân đối nghiêm trọng trong nền kinh tế quốc dân, thực trạng hoạt
động tiền tệ, tín dụng trong những năm 80 hết sức rối ren. Tiền mặt phát ra rất
lớn năm sau cao hơn năm trước với khối lượng lớn hơn nhiều lần nhưng vẫn
không đáp ứng đủ cho nhu cầu sản xuất và lưu thông hàng hoá. Chức năng
Nói chung, có thể thấy rằng những điều kiện cần có để tiến hành hoạt
động kinh doanh ngân hàng, đến lúc này là chưa có. Và đây cũng chính là sự
cần thiết phải chuyển ngân hàng sang hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa.
Từ thực trạng này, vấn đề đặt ra là phải tiến hành cải tổ hệ thống ngân
hàng.
3. Việt nam trong quá trình đổi mới và hoàn thiện hệ thống ngân
hàng.
Nền kinh tế Việt Nam trong những năm gần đây đang đẩy mạnh từ nền
kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế tiền tệ có sự quản lý của Nhà
nước, từng bước hoà nhập với nền kinh tế khu vực và kinh tế thế giới. Việt
Nam mới đang ở trong giai đoạn chuyển tiếp (thời kỳ quá độ), trong giai đoạn
tới để thúc đẩy mạnh mẽ nền kinh tế phát triển theo đúng định hướng mà Đảng
17
và Nhà nưóc đã vạch ra, mét trong những nhiệm vụ đầu tiên phải được xem xét
chính là hoàn thiện và phát triển lĩnh vực ngân hàng, tiền tệ.
Tiền tệ và ngân hàng đóng vai trò như là người mở đầu, người nâng đỡ,
người điều chỉnh, người tham gia, người quyết định đối với mọi quá trình sản
xuất, từ hình thái thô sơ nhất đến hình thái phức tạp, hiện đại và tinh vi nhất.
Hình thái tiền tệ phản ánh trình độ phát triển kinh tế, là thước đo lịch sử, là vật
kết tinh của xã hội và là động cơ cực mạnh cuốn hút và khơi dậy mọi tiềm Èn
kinh tế, xã hội.
Tầm quan trọng của ngân hàng và tiền tệ trong sự phát triển kinh tế là
không thể phủ nhận. Vị trí của đồng tiền và vai trò của ngân hàng càng trở nên
quan trọng đối với việc ổn định và phát triển kinh tế trong điều kiện cơ chế thị
trường. Trong nền kinh tế tiền tệ , mọi hoạt động kinh tế đều liên quan đến
hoạt động tài chính, tín dụng, giám sát và điều tiết thông qua hệ thống ngân
hàng ;ngân hàng được coi là một bộ phận của kết cấu hạ tầng. Do đó ngân hàng
được tổ chức thành một hệ thống nhất, điều tiết lưu thông hàng hoá và dịch vụ
trên phạm vi toàn quốc nhằm thực hiện chức năng quản lý vĩ mô đối với quá
trình sản xuất, lưu thông, phân phối và tín dụng trên phạm vi toàn xã hội.
kinh tế, thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Cụ thể là những năm 1980 - 1986 nền kinh tế nước ta lâm vào tình trạng
khủgn hoảng nặng nề mà đặc trưng nổi bật là lạm phát phi mã, tốc độ phát triển
kinh tế giảm sút, mất cân đối cả đối nội và đối ngoại. Bước ngoặt đầutiên của
hoạt động ngân hàng từ năm 1988, khi các chính sách và biện pháp cải tổ mạnh
mẽ đã được ngành ngân hàng thực hiện : nâng lãi suất huy động lên mức cao
(12%/tháng đầu năm 1989) để thu hút khối lượng tiền mặt rất lớn đang nằm
đọng trong lưu thông, xoá bỏ cơ bản chế độ tỷ giá, áp dụng tỷ giá thả nổi có
điều tiết linh hoạt, đi đôi với điều chỉnh dần lãi suất xuống theo kết quả kìm
chế lạm phát, kích thích xuất khẩu, hướng nhập khẩu vào các mặt hàng phục vụ
sản xuất trong nước. Mặt khác, từ sau khi có Pháp lệnh ngân hàng, ngành ngân
hàng đã từng bước áp dụng các công cụ quản lý vĩ mô gián tiếp thay thế cho
các công cụ kiêmr soát trực tiếp trong quá trình thực thi chính sách tiền tệ. Đặc
biệt, NHNN đã áp dụng một loạt biện pháp nhằm thắt chặt lượng tiền cung ứng
và kết quả là tốc độ lạm phát phi mã trước đó 410,9% năm 1988 xuống còn
67,4% năm 1991, 17,4% năm 1992 và 5,2% năm 1993. Năm 1994, nÒn kinh tế
vẫn duy trì được mức tăng trưởng kinh tế cao hơn năm 1993 (8,8%) nhưng mức
lạm phát đã cao hơn dự kiến (14,4%) ; mức lạm phát năm 1995 là 12,7% năm
1996 là 4,5% và gần 4% năm 1997.
Những năm đầu của quá trình đổi mới ngân hàng, nền kinh tế nước ta
phải đối phó với những khó khăn gay gắt. Với những chính sách đổi mới của
Ngân hàng Nhà nước, đặc biệt là khống chế khối lượng tiền cung ứng, chính
sách tín dụng, chính sách lãi suất, chính sách tỷ giá đã góp phần thúc đẩy sự
19
cải thiện nền kinh tế theo hướng phục hồi và phát triển. ngành Ngân hàng cũng
góp phần vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Cơ cấu tín dụng Ngân hàng đã
tăng dần cho lĩnh vực kinh tế ngoài quốc doanh trong khi bảo đảm có chọn lọc
việc duy trì những doanh nghiệp Nhà nước kinh doanh có hiệu quả. Tỷ trọng
cho vay các xí nghiệp quốc doanh năm 1991 là 90% và ngoài quốc doanh là
10% thì đến năm 1994, tỷ trọng đó là 65%, năm 1995 là 58,5% và 41,5%.
75,0
15,0
16,0
23,0
33,0
25,0
Sự tăng trưởng tín dụng và các định hướng của nền kinh tế quốc dân đã
tạo nên cơ cấu tín dụng ngày càng hợp lý, thúc đẩy từng bước sự thay đổi cơ
cấu kinh tế.
Hơn nữa, cùng với việc mở rộng cho vay đến tất cả các thành phần kinh
tế, hệ thống ngân hàng đặc biệt quan tâm đầu tư phát triển khu vực nông
nghiệp và nông thôn, quan tâm đến cho vay khuyến khích xuất khẩu, cho vay
ứng dụng tiến bộ khoa học và áp dụng công nghệ mới. Nhiều công cụ và hình
thức huy động vốn đa dạng được đưa vào áp dụng trong hệ thống ngân hàng :
kỳ phiếu của NHTM, tiết kiệm xây dựng nhà ở Nhờ đó, vốn hoạt động của
các ngân hàng đã tăng liên tục với tỷ lệ khá cao : năm 1991 tăng 68%, năm
1992 tăng 19%, năm 1993 tăng 14%, 1994 tăng 59% và năm 1995 tăng 32%.
Nguồn vốn trong nước được tăng trưởng cùng với nguồn vốn từ nước ngoài là
20
iu kin c bn, ó gúp phn tớch cc tng u t, phc v s nghip cụng
nghip hoỏ, hin i hoỏ t nc.
Cú th núi, nhng thnh qu bc u t c trong cụng cuc i mi
v hon thin h thng ngõn hng Vit nam ó gúp phn ỏng k vo s phỏt
trin chung ca nn kinh t trong ú khụng th thiu vai trũ c bit quan trng
ca NHTW Thng c ngõn hng Nh nc gi õy ó cú quyn kim soỏt
tng trng tin t thc hin c cỏc ch tiờu v lm phỏt v tng trng
kinh t lnh mnh. NHNN ó ch ng hn trong vic la chn cỏc bin phỏp,
chớnh sỏch can thip vo nn kinh t nhm t c cỏc mc tiờu ca chớnh
sỏch tin t.
Trờn th gii, tu thuc vo iu kin c th m mi quc gia cú mc
12,7
14,4
27,8
22,6
Ở Việt nam, cho đến hết năm 1996, lãi suất vẫn chưa trở thành giá cả
mua bán vốn trong nÒn kinh tế nên các ngân hàng thương mại thừa hàng nghìn
tỷ đồng vốn trong khi nhu cầu của các doanh nghiệp vẫn rất lớn. Tuy nhiên
nhìn lại, năm 1996, đã đánh dấu mốc lịch sử trong cuộc cách mạng về lãi suất
của hệ thống ngân hàng Việt nam.
Các mức trần lãi suất cho vay tối đa được điều chỉnh
trong năm 1996 Đơn vị : %
Loại lãi suất 1/1/96 15/7/96 1/9/95 1/10/96
1. Cho vay ngắn hạn tối đa
2. Cho vay trung và dài hạn
3. Lãi suất cho vay của
NHTMCP nông thôn
4. Lãi suất cho vay của
QTDND
1,75
1,7
2,0
2,5
1,60
1,65
1,8
2,2
1,5
1,55
1,7
2,1
lãi suất cao nhất trong nền kinh tế gấp 1,2 - 1,5 lần so với mức 1,25 % cho vay
ở thành thị. Trong khi thành phần kinh tế này đúng ra phải được ưu tiên hơn cả
bởi vì lợi nhuận thấp, lao động chủ yếu là thủ công lại đóng góp khối lượng
hàng hoá lớn nhất cho xuất khẩu : gạo, cà phê, cao su, hạt điều, hàng thủ công,
thuỷ hải sản. Điều này có vẻ trái ngược với qui định chênh lệch lãi suất 0,35%.
Ngay từ đầu năm cho đến hết năm 1996, NHTW quy định cho các tổ chức tín
dụng (TCTD) phải thực hiện bình quân lãi suất đầu ra và đầu vào không được
vượt quá 0,35%. Đây được coi là một bước tiến (bỏ quy định cụ thể các mức lãi
suất tiền gửi ) nhưng lại có hai bức lùi bởi quy định này làm triệt tiêu động lực
cạnh tranh giữa các TCTD, họ không phấn đấu giảm chi phí hoạt động, không
tạo điều kiện mạnh dạn đầu tư cho đổi mới công nghệ
Bên cạnh đó, các công cụ điều chỉnh lãi suất chưa phát huy tác dụng.
Cho đến cuối năm 1996, hệ thống ngân hàng Việt nam đã phát triển đến giai
đoạn cao nhất về số lượng, cơ cấu và các loại hình ngân hàng : 4 NHTM quốc
doanh với 1200 chi nhánh, 54 NHTM cổ phần và 2 công ty tài chính cổ phần, 3
NH liên doanh với nước ngoài, 24 chi nhánh ngân hàng nước ngoài và 70 văn
phòng đậi diện ngân hàng nước ngoài, 1 công ty liên doang cho thuế tài chính
và 1 công ty cho thuế tài chính của nước ngoài, 50 HTX tín dụng và hơn 700
QTĐND; ngoài ra còn có 5 công ty bảo hiểm, một công ty liên doanh bảo hiểm,
một công ty tái bảo hiểm và 6 quỹ đầu tư ở Việt Nam. Những tổ chức đó thông
qua công cụ lãi suất thực hiện huy động vốn và đầu tư vốn cho nên kinh tế thực
hiện mua bán vốn trực tiếp lẫn nhau hoặc trên thị trường liên ngân hàng, hình
thành nên lãi suất trên thị trường liên ngân hàng.
23
Thị trường nội tệ liên ngân hàng được NHTW đưa vào hoạt động từ năm
1992 và thị trường ngoại tệ liên ngân hàng bắt đầu hoạt động từ cuối 1993. Đến
nay mới chỉ có khoảng hơn 50% số tổ chức tài chính tín dụng nói trên là thành
viên tham gia vào thị trường. Thị trường hoạt động không thường xuyên chưa
trở thành nơi buôn bán vốn giữa các thành viên, lãi suất trên thị trường liên
ngân hàng chưa có tác dụng hình thành nên lãi suất cho vay bình quân trong
100
Cuối thập kỷ 80 và đầu thập kỷ 90, cùng với việc gia tăng lạm phát, đồng
tiền Việt Nam cũng suất giá nhanh, có thời điểm chiếm tỷ giá ngoại tệ lên tới
14.500 - 14. 600 VNĐ/USD. Nạn mua bán, trao đổi trên thị trường chợ đen
"phát triển", người dân đua nhau đầu cơ và cất trữ ngoại tệ. Sau đó, do NHTW
thực hiện nhiều biện pháp có hiệu quả, tỷ giá ngoại tệ đã giảm dần xuống và
trong hơn hai năm qua, ổn định ở mức 11.000 VNĐ/USD, mức dao động tỷ giá
trong năm 1995 chỉ có +0,4% và trong 14 tháng đầu năm 1996 là +0,2%
Với việc kiên trì điều hành tỷ giá theo hướng ổn định, NHTW đã chống
đỡ được xu hướng tỷ giá giảm thấp do luồng ngoại tệ đổ vào VIệt Nam tăng
nhanh, thúc đẩy cả xuất khẩu và nhập khẩu đều tăng,, tạo nên sự phát triển ổn
định của nền kinh tế. NHTW đã tăng cường kiểm tra tình trạng ngoại hối của
các NHTM và quy định các NHTM chỉ được quy định mức tỷ giá mua bán
ngoại tệ tăng giảm 1% so với mức tỷ giá công bố hàng ngày của NHTW.
Tuy nhiên, việc quản lý ngoại tệ và tỷ giá hối đoái trong thời gian có một
số vấn đề đang nổi lên là công tác quản lý việc mua bán, thanh toán, trao đổi
bằng ngoại tệ vẫn chưa được thực hiện nghiêm túc. TRên thị trường ngoại tệ
liên ngân hàng nhiều khi cung nhiều hơn cầu, người bán không có người mua
hoặc ngược lại, người mua không có người bán. NHTW đã mua ngoại tệ vào
quá mức dự trữ của mình trong khi đó chỉ tiêu phát hành VNĐ cho mua ngoại
tệ cũng đã hết hoặc không bán ra kịp thời làm giảm sút ý nghĩa của tiền tệ
ngoại tệ liên ngân hàng.
Lãi suất cho vay bằng nội tệ vẫn cao gấp 1,3 - l,6 lần lãi suất cho vay
ngoại tệ. Vậy vấn đề đặt ra là NHTW cần lựa chọn chiến lược lãi suất (lãi suất
trong nước lãi suất ngoại tệ) như thế nào cho hợp lý ?
Sang năm 1997, như chúng ta đã biết là năm nổ ra cơn bão tiền tệ ở
Đông Nam Á và khủng hoảng tài chính toàn cầu nhưng nền tài chính tiền tệ ở
Việt Nam vẫn đứng vững. Tình hình đó có nhiều nguyên nhân, có thể là do
đồng tiền Việt Nam chưa phải là đồng tiền chuyển đổi, Việt Nam chưa có tiền
tệ chứng khoán, đầu tư nước ngoài vào Việt nam đều là đầu tư trực tiếp và tình