Tên đề tài: Báo cáo phân tích môi trường ngành cung ứng dịch vụ viễn thông di động Việt
Nam
LỜI MỞ ĐẦU
Viễn thông di động là một ngành mới xuất hiện ở Việt Nam trong khoảng 20 năm
gần đây. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng cả về số lượng và chất lượng là những con số
đáng kinh ngạc và đáng mơ ước của nhiều ngành khác. Trong những năm qua, thị
trường viễn thông di động Việt Nam luôn duy trì mức tăng trưởng 60%-70%/năm và
được coi là thị trường đầy tiềm năng đối với các nhà đầu tư. Xếp về mức độ tăng trưởng
cao trên thế giới về viễn thông di động, Việt Nam chỉ đứng sau Trung Quốc. Hiện nay,
tổng số thuê bao di động trên cả nước đạt hơn 110,5 triệu thuê bao - trong khi dân số
Việt Nam là xấp xỉ 84 triệu. Tốc độ tăng trưởng nhanh, khả năng thu hồi vốn lớn... là
những yếu tố khiến lĩnh vực thông tin di động của Việt Nam thu hút sự chú ý của không
ít nhà đầu tư nước ngoài, đặc biệt là khi nước ta gia nhập WTO. Bởi thế, không phải
ngẫu nhiên mà hàng loạt các nhà khai thác và cung cấp dịch vụ mạng di động hàng đầu
thế giới trong thời gian qua ráo riết tiếp xúc và tìm cách tạo dựng tên tuổi của mình ở
Việt Nam. Vậy, các doanh nghiệp mong muốn tham gia thị trường, cũng như các doanh
nghiệp cung cấp dịch vụ trên thị trường hiện nay sẽ phải đương đầu với những rào cản
và khó khăn gì? Chìa khóa nào dẫn tới con đường thành công của các doanh nghiệp?
Với những kiến thức đã được học trong môn Chiến lược kinh doanh, nhóm 9 đã
thực hiện việc thu thập thông tin và phân tích sơ bộ nhằm mục đích làm góp phần tìm ra
câu trả lời cho các câu hỏi trên. Bài viết của nhóm bao gồm 4 phần chính:
I. Lịch sử ra đời và quá trình của ngành viễn thông di động
II. Khái quát về lĩnh vực kinh doanh của ngành
III. Phân tích chiến lược
IV. Định hướng phát triển cho các doanh ngiệp trong thời gian tới
Báo cáo phân tích môi trường ngành
I. Lịch sử ra đời và quá trình phát triển.
1. Khái niệm về mạng thông tin di động
Viễn thông: bao gồm những vấn đề liên quan đến việc truyền thông tin ( tao đổi
hay quản bá thông tin) giữa các đối tượng qua một khoảng cách,nghĩa là bao gồm bất kỳ
hoạt động liên quan tới việc phát/nhận tin tức( âm thanh,hình ảnh,chữ viết,dữ liệu….)
3.Quá trình phát triển
Người Việt Nam lần đầu tiên được tiếp cận tới các dịch vụ thông tin di động
(DVTTDĐ) là vào năm 1993 khi VMS-MobiFone được thành lập trực thuộc VNPT.Ở
nước ta, mạng thông tin di động đầu tiên ra đời vào năm 1992 với khoảng 5.000 thuê
bao. Hai nhà cung cấp dịch vụ thông tin di động lớn là Mobifone (VMS) ra đời năm
1993 – liên doanh giữa công ty bưu chính viễn thông VN (VNPT) và tập đoàn
COMVIK (Thuỵ Điển ) và Vinafone của trung tâm dịch vụ viễn thông (GPC) thuộc
VNPT ra đời năm 1996.Đến năm 2002 Sfone của tập đoàn TELECOM của Hàn Quốc
và tháng 6/2004 Viettell của công Ty Viễn Thông Quân Đội cùng bước vào cuộc. Cuộc
chạy đua của các nhà khai thác làm cho giá cước giảm xuống và các dịch vụ càng đa
dạng Lịch sử ra đời
Có thể nói, năm 2009 đã chứng kiến sự nỗ lực mạnh mẽ trong phát triển, khẳng
định thương hiệu, vị thế của các doanh nghiệp thông tin di động Việt. Theo số liệu từ
Bộ Thông tin và Truyền thông, năm 2009, tốc độ phát triển thuê bao điện thoại của Việt
Nam tăng mạnh, tổng số thuê bao điện thoại trên toàn mạng hiện có 130,4 triệu máy
trong đó thuê bao di động chiếm tới 85,4%, mật độ điện thoại là 152,7 máy/100 dân.
Góp phần trong thành công đó phải kể tới nỗ lực lớn của mạng di động
VinaPhone. Có thể khẳng định, 2009 là năm đánh dấu một bước phát triển đặc biệt quan
trọng của nhà mạng. Chỉ riêng 2009, VinaPhone đã phát triển thêm đạt trên 10 triệu
thuê bao, đặc biệt số lượng thuê bao trả sau phát triển tương đương tổng số thuê bao
của mười năm trước cộng lại. Nỗ lực phát triển lớn về quy mô, năng lực hệ thống và
phạm vi phủ sóng, VinaPhone đã trở thành nhà khai thác đầu tiên khai trương mạng 3G
tại Việt Nam. Công tác đầu tư phát triển, hiện đại hoá mạng lưới của VinaPhone
đã được ghi nhận cùng bước ngoặt lịch sử là khai trương mạng 3G.
Cùng với VinaPhone, MobiFone - một trong ba mạng di động được đánh giá
là lớn nhất trên thi trường cũng đã có một năm kinh doanh, phát triển thành công,
Nhóm 5 – Kinh tế phát triển 49A
3
Báo cáo phân tích môi trường ngành
tạo được những dấu ấn tốt đẹp với người dùng Việt. 2009 là năm nhà mạng dồn lực cho
Báo cáo phân tích môi trường ngành
dây….Đây là sự bắt tay giữa nhà mạng và các nhà cung cấp nhằm đưa đến cho khách
hàng 1 sản phẩm trọn gói.
2. Phục vụ nhu cầu gì?
Trước đây, khi mới ra đời mục đích chính của ngành chỉ là phục vụ nhu cầu liên
lạc, trao đổi thông tin, tuy nhiên khi công nghệ ngày càng phát triển, nên nhu cầu của
người tiêu dùng cao hơn. Các nhà cung cấp mạng đã đa dạng hóa sản phẩm cung cấp.
Ngoài mục tiêu chính trên họ đã cung cấp thêm nhiều tiện ích như các dịch vụ giải trí
như: game, nhạc chờ… Sau đó là lướt web, tìm kiếm thông tin…Ngành ngày càng đáp
ứng nhu cầu tốt nhất cho khách hàng.
Tiếp theo để hiểu rõ hơn về ngành chúng ta sẽ tìm hiểu về đặc điểm chung về cung
cầu ngành
Về phía cung: hiện tại, ngành viễn thông di động Việt Nam có 8 nhà cung cấp
mạng (vinaphone, mobifone, viettel, beeline, vietnammobile, Sfone, EVN, Đôngdương
mobile), số lượng các nhà mạng khá cao, trong khi đó chúng ta không biết có thêm nhà
mạng nào gia nhập vào ngành nữa ko. Cùng với đó, các sản phẩm ngành càng đa dạng,
phong phú chất lượng sản phẩm được cung cấp ngày càng được nâng cao nhằm phục vụ
tốt hơn cho khách hàng
Về phía cầu do Việt Nam là 1 nước có dân số đông và cùng với sự phát triển của
xã hội nên nhu cầu sử dụng điện thoại di động ngày càng gia tăng. Do cơ chế mở cứa số
lượng các nhà cung cấp mạng cao nên người tiêu dùng có nhiều sự lựa chọn khác nhau.
Cùng với đó nhu cầu ngày càng đa dạng nên cầu của Việt Nam đang tăng. Tuy nhiên do
chưa có cơ chế quản lý chặt chẽ nên xuất hiện tình trạng mua sim rác tràn lan khiến các
nhà cung ứng khó có kiểm soát được.
III. Phân tích môi trường kinh doanh: xác định các cơ hội và nguy cơ.
Phân tích môi trường kinh doanh là quá trình mà các nhà chiến lược tiến hành
kiểm tra, xem xét các nhân tố môi truờng khác nhau( môi trường kinh tế, môi trường
văn hóa xã hội, môi trường công nghệ, nhà cung ứng, nhà phân phối…) và xác định các
cơ hội hoặc đe dọa đối với doanh nghiệp của họ
Nhóm 5 – Kinh tế phát triển 49A
Nhóm 5 – Kinh tế phát triển 49A
6
Báo cáo phân tích môi trường ngành
1.2. Các yếu tố Thể chế- Luật pháp.
Đây là yếu tố có tầm ảnh hưởng tới tất cả các ngành kinh doanh trên một lãnh thổ,
các yếu tố thể chế, luật pháp có thể uy hiếp đến khả năng tồn tại và phát triển của bất cứ
ngành nào. Khi kinh doanh trên một đơn vị hành chính, các doanh nghiệp sẽ phải bắt
buộc tuân theo các yếu tố thể chế luật pháp tại khu vực đó.
Sự bình ổn: Chúng ta sẽ xem xét sự bình ổn trong các yếu tố xung đột chính trị,
ngoại giao của thể chế luật pháp. Thể chế nào có sự bình ổn cao sẽ có thể tạo điều kiện
tốt cho việc hoạt động kinh doanh và ngược lại các thể chế không ổn định, xảy ra xung
đột sẽ tác động xấu tới hoạt động kinh doanh trên lãnh thổ của nó. Việt Nam là một
nước được đánh giá cao về sự ổn định chính trị . Chính sách thuế: Chính sách thuế xuất
khẩu, nhập khẩu, các thuế tiêu thụ, thuế thu nhập... sẽ ảnh hưởng tới doanh thu, lợi
nhuận của doanh nghiệp.
Các đạo luật liên quan Các quy định của chính phủ,Bộ thông tin và truyền thông
có liên quan trực tiếp đến hoạt động của ngành.Cụ thể là:
Văn bản số 2546/BTTTT-VT ngày 14/8/2009 về quản lý thuê bao trả trước,quy
định:từ 1/1/2010,khách hàng sử dụng di động trả trước không đăng ký thông tin thuê
bao theo quy định hoặc cung cấp thông tin không chính xác sẽ bị chấm
dứt hoạt động.Quy định này sẽ giúp giảm số lượng thuê bao ảo,từ đó nâng cao khả năng
quản lý của nhà cung cấp dịch vụ
Theo quy định của các thông tư số 29-35/2009/TT-BTTTT của Bộ thông tin và
truyền thông:giá cước dịch vụ giảm 30% so với giá cũ kể từ 15/1/2010.
Mức giá 550 đồng/phút được áp dụng với cước kết nối trực tiếp giữa mạng quốc tế
và mạng nội hạt hoặc mạng quốc tế và mạng di động.
Hai mạng di động kết nối trực tiếp với nhau có giá cước 500 đồng/phút; còn mạng
nội hạt và mạng di động kết nối trực tiếp với nhau sẽ có giá 415 đồng/phút.
Mức giá 270 đồng/phút được tính khi mạng di động và mạng nội hạt kết nối trực tiếp
với nhau hoặc mạng đường dài trong nước kết nối trực tiếp với mạng nội hạt.