LỜI MỞ ĐẦU
Kế toán là một bộ phận quan trọng cấu thành nên hệ thống quản lý kinh tế, tài
chính, có vai trò tích cực trong việc quản lý, điều hành và kiểm soát các hoạt động
kinh tế. Với tư cách là công cụ quản lý, kế toán là một lĩnh vực gắn liền với hoạt
động kinh tế tài chính, đảm nhiệm tổ chức hệ thống thông tin có ích cho các quyết
định kinh tế.
Khi xã hội phát triển ngày càng cao, các hoạt động kinh tế ngày càng mở rộng,
mức độ cạnh tranh để tồn tại và phát triển ngày càng gay gắt, nhu cầu thông tin ngày
càng trở nên bức thiết. Nền kinh tế thị trường với những đổi mới thực sự trong cơ chế
quản lý kinh tế tài chính đã khẳng định vai trò của thông tin kế toán không chỉ trong
hoạt động tài chính nhà nước mà còn trong hoạt động tài chính doanh nghiệp.
Trong hoạt động kinh doanh, thông tin là một nhân tố không thể thiếu của các
nhà quản lý, đặc biệt là trong thời gian gần đây, với sự ra đời của các công ty cổ
phần, các tập đoàn kinh tế và thị trường chứng khoán đòi hỏi thông tin kế toán phải
đảm bảo phản ánh thực trạng hoạt động tài chính của doanh nghiệp một cách trung
thực và hợp lý, có khả năng phân tích cao, đáp ứng được yêu cầu của mọi đối tượng
sử dụng thông tin.
Báo cáo tài chính là hình ảnh tổng quát nhất và rõ ràng nhất tình hình tài chính
của doanh nghiệp từ đó doanh nghiệp có thể thấy được thực trạng tài chính cũng như
các biện pháp khắc phục những hạn chế tài chính của mình. Chúng không chỉ phát
huy tác dụng ở doanh nghiệp mà còn là công cụ đáp ứng rộng rãi các nhu cầu của các
đối tượng khác như nhà đầu tư, người làm công tác tài chính nhà nước.
Tổng công ty Chè Việt Nam là một doanh nghiệp nhà nước, sản xuất và kinh
doanh chè lớn nhất trong số hơn 600 doanh nghiệp chè cả nước. Trong bối cảnh hiện
nay, để kiểm soát tốt hơn quá trình hoạt động kinh doanh của mình, Tổng công ty
không ngừng hoàn thiện công tác quản lý kinh doanh nói chung và công tác hạch toán
kế toán nói riêng.
Cùng với sự hoàn thiện không ngừng của các chính sách, chế độ kế toán, công
tác lập, kiểm tra và phân tích báo cáo tài chính của các doanh nghiệp cũng ngày càng
1
được quan tâm nhiều hơn nhằm cung cấp thông tin kế toán một cách trung thực và
Giai đoạn 2: Từ tháng 6/1979 đến hết năm 1995 hoạt động theo mô hình sản
xuất theo chiều dọc, kết hợp trồng, chế biến, xuất nhập khẩu và kinh doanh thương
mại. Mô hình này kết hợp sản xuất từ nguyên liệu chè búp tươi (các nông trường) và
chế biến (nhà máy) xuất khẩu ra nước ngoài.Theo Quyết định 75/1979/QĐ-TTg và
224/1979/QĐ-TTg của thủ tướng chính phủ về thống nhất tổ chức ngành chè mỗi
đơn vị thành viên của Tổng công ty Chè Việt Nam bao gồm một nhà máy, 1 nông
trường hoặc 1 nhà máy chế biến và 2, 3 nông trường tuỳ theo công suất thiết kế nhà
máy và khả năng cung cấp nguyên liệu. Đồng thời căn cứ vào địa danh, vị trí từng
nơi để hợp nhất lại thành xí nghiệp công nông nghiệp hoặc xí nghiệp liên hiệp công
nông nghiệp…
Giai đoạn 3: Căn cứ vào văn bản số 5826/ĐMDN ngày 13/10/1995 của Thủ
tướng Chính phủ phê duyệt phương án tổng thể sắp xếp doanh nghiệp nhà nước thuộc
Bộ nông nghiệp và công nghiệp thực phẩm (nay là Bộ nông nghiệp và phát triển nông
thôn) và uỷ quyền ký kết quyết định thành lập các tổng công ty theo quyết định số
90/TTg ngày 07/03/1994 của Thủ tướng Chính phủ, ngày 29/12/1995 Bộ trưởng Bộ
nông nghiệp và phát triển nông thôn ra quyết định số 394 NN-TCCB/QĐ thành lập
3
Tổng Công ty Chè Việt Nam trên cơ sở sắp xếp lại các doanh nghiệp thuộc Liên hiệp
các xí nghiệp nông công nghiệp chè Việt Nam.
Tổng Công ty Chè Việt Nam chính thức đi vào hoạt động từ tháng 6/1996 và
đến năm 2006 được chuyển đổi tổ chức và hoạt động theo mô hình công ty mẹ- công
ty con theo quyết định số 1588/QĐ-BNN/ĐMDN ngày 02/06/2006 và quyết định số
2093/QĐ-BNN/ĐMDN ngày 21/07/2006 của Bộ nông nghiệp và phát triển nông
thôn.
Tổng Công ty Chè Việt Nam có tên gọi đầy đủ là Tổng Công ty Chè Việt Nam.
Tên giao dịch quốc tế: VIETNAM NATIONAL TEA CORPERATION
Tên viết tắt: VINATEA
Trụ sở chính đặt tại:
Số 92- Võ Thị Sáu- Quận Hai Bà Trưng- Thành phố Hà Nội
Điện thoại: (844)6626990
kế hoạch, các dự án về đầu tư phát triển chè, nhận và cung ứng vốn cho tất cả các đối
tượng được đầu tư, là chủ đầu tư nghiên cứu cải tạo giống chè, trồng trọt, chế biến,
tiêu thụ, xuất nhập khẩu sản phẩm chè, thiết bị vật tư ngành chè.
Xây dựng các mối quan hệ kinh tế, hợp tác đầu tư, khuyến nông, khuyến lâm
và các thành phần kinh tế để phát triển trồng chè, góp phần xoá đói giảm nghèo, phủ
xanh đất trống đồi núi trọc.
- Tổng công ty làm đầu mối chủ yếu trong việc khảo sát, khai thác và chiếm
lĩnh thị trường bao gồm: thị trường xuất khẩu, thị trường nhập khẩu và thị trường
vốn. Đây là những vấn đề mà hiện nay các đơn vị thành viên không có điều kiện
hoặc thực hiện không có hiệu quả.
Tổng công ty trực tiếp giao việc ký kết hợp đồng tiêu thụ sản phẩm và liên
doanh liên kết với nước ngoài đảm bảo cho việc thống nhất giá để phát triển sản xuất
toàn ngành.
5
- Tổng công ty làm đầu mối nhập khẩu máy móc, thiết bị vật tư chuyên dùng
và các hàng tiêu dùng khác cho các đơn vị thành viên với giá nhập khẩu có lợi nhất.
Thiết bị công nghệ hiện đại từng bước đưa công nghệ chế biến chè Việt Nam theo kịp
trình độ thế giới.
- Tổ chức và ứng dụng tiền bộ kỹ thuật vào sản xuất làm đầu mối cho việc
chuyển nhượng kỹ thuật sản xuất và chế biến chè thế giới vào Việt Nam. Nghiên cứu
giống chè, quy trình canh tác, thu hái, quy trình công nghệ chế biến và bảo quản sản
phẩm nhằm nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm chè. Đồng thời, nghiên cứu tạo
sản phẩm mới, đa dạng hoá sản phẩm, có bao bì mẫu mã tem nhãn đáp ứng thị hiếu
trong và ngoài nước.
- Tham gia xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển vùng sản xuất chè chuyên
canh và thâm canh có năng suất và chất lượng cao.
* Ngành nghề kinh doanh chủ yếu:
- Trồng trọt, sản xuất chè, chăn nuôi gia súc và các nông lâm sản khác.
- Công nghiệp chế biến thực phẩm: Các sản phẩm chè, sản xuất các loại đồ
uống , nước giải khát...
- Chè đen Orthodox: OP, FBOP, P, PS, BPS, F, D, BOP, BOP1 và OPA long
leaves.
- Chè đen CTC: PF1, PD, BP1 và Dust.
- Chè xanh: gồm các loại chè xanh hương tự nhiên, các loại chè ướp hương
hoa tươi như hoa nhài, hoa sen,...các loại chè túi lọc, chè xanh Việt Nam truyền
thống, chè xanh kiểu Nhật Bản, chè xanh Gunpowder, chè xanh Pouchong...
- Chè oolong
- Các loại chè túi lọc, chè dược thảo, chè ướp hương hoa quả, chè hoà tan.
+ Nhập khẩu:
- Các loại vật tư, máy móc, thiết bị phục vụ cho sản xuất, chế biến chè theo
thiết kế của Ấn Độ, Đài Loan, Nga, Italia....
- Các hoạt động khác như xây lắp, cơ khí chế tạo các công trình xây dựng dân
dụng và công nghiệp, cầu cống, các công trình thuỷ lợi, đường giao thông..
7
* Các thị trường chủ yếu:
- Thị trường Iraq: là thị trường tiêu thụ có dung lựơng lớn, là một trong những
nước nhập khẩu chè hàng đầu thế giới. Đối với Tổng công ty chè Việt Nam thường là
xuất chè sang để trả nợ. Thị trường này tiêu thụ loại chè đen cánh nhỏ, chè hương.
- Thị trường Nga: Là thị trường truyền thống của ngành chè Việt Nam. Trước
đây Liên Xô, Đông Âu đã có những ưu tiên giúp đỡ về công nghệ và thiết bị sản xuất,
chế biến chè xuất khẩu.
- Thị trường Nhật: Nghệ thuật trà đạo vốn là nghệ thuật văn hoá của người
Nhật. Chính vì vậy đây là thị trường mục tiêu cần được quan tâm khai thác. Người
Nhật thích uống chè xanh dẹt, chè sản xuất theo công nghệ Nhật Bản.
- Thị trường Mỹ: Trong bối cảnh bình thường hoá quan hệ Việt - Mỹ trên
mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, việc thâm nhập vào thị trường này có nhiều tiềm
năng và thuận lợi.
- Các thị trường khác như Đài Loan, Siri…. Có quan hệ hợp tác kinh doanh
với Tổng công ty.
1.1.1.2 Đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm.
Chè nguyên liệu và hoa tươi Ướp hương Thông hoa
Chè hoa tươi thành phẩm Sấy khô Sàng khô
Chè nguyên liệu tươi Làm héo Vò
Sàng phân loại Sấy khô Lên men
cách là cơ quan thực hiện quyền của chủ sở hữu đối với doanh nghiệp Nhà nước theo
Luật doanh nghiệp và các quy định khác của pháp luật.
Do đặc điểm riêng của Tổng công ty là hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra
dàn trải trên phạm vi rộng, không tập trung và hoạt động diễn ra trên nhiều lĩnh vực
khác nhau nên cơ cấu tổ chức của Tổng công ty được xây dựng theo mô hình quản lý
trực tuyến chức năng. Tổng giám đốc là người có quyền điều hành cao nhất. Hội
đồng quản trị có 5 thành viên là cơ quan đại diện trực tiếp chủ sở hữu nhà nước tại
công ty mẹ, có quyền nhân danh công ty mẹ để quyết định mọi vấn đề liên quan đến
việc xác định và thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ và quyền lợi của công ty mẹ, trừ
những vấn đề thuộc thẩm quyền của chủ sở hữu phân cấp cho các cơ quan, tổ chức
khác là đại diện chủ sở hữu thực hiện. Hội đồng quản trị chịu trách nhiệm trước
người quyết định thành lập công ty mẹ, người bổ nhiệm và trước pháp luật về mọi
hoạt động của công ty mẹ.
Ban Kiểm soát công ty mẹ có 3 thành viên do Hội đồng quản trị thành lập để
giúp Hội đồng quản trị kiểm tra, giám sát tính hợp pháp, chính xác và trung thực
trong quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh, ghi chép sổ sách kế toán, báo cáo tài
chính và việc chấp hành Điều lệ công ty mẹ, nghị quyết, quyết định của Hội đồng
quản trị, quyết định của Chủ tịch Hội đồng quản trị.
Ban kiểm soát chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị về kết quả kiểm tra,
giám sát của mình, không được tiết lộ kết quả kiểm tra, giám sát khi chưa được Hội
đồng quản trị cho phép, phải chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị và trước pháp
luật nếu cố ý bỏ qua hoặc bao che cho những hành vi vi phạm pháp luật trong công ty
mẹ.
Tổng giám đốc là người đại diện theo pháp luật, điều hành hoạt động hàng
ngày của công ty mẹ theo mục tiêu, kế hoạch và các nghị quyết, quyết định của Hội
đồng quản trị, phù hợp với Điều lệ công ty mẹ; chịu trách nhiệm trước Hội đồng
Chính phủ và quyết định số 2374/QĐ-BNN-ĐMDN ngày 13/09/2005 của Bộ nông
nghiệp và phát triển nông thôn về việc chuyển Tổng công ty chè Việt Nam sang hoạt
động theo mô hình công ty mẹ - công ty con. Căn cứ và chức năng nhiệm vụ, mô
11
hình tổ chức và hoạt động của Tổng công ty chè Việt Nam trong giai đoạn mới, Ban
điều hành Tổng công ty xây dựng phương án sắp xếp và quy định chức năng nhiệm
vụ của các phòng ban tại cơ quan văn phòng Tổng công ty theo từng lĩnh vực hoạt
động của từng phòng ban.
Tuỳ theo đặc điểm từng đơn vị mà có các phòng ban tương ứng và phù hợp.
Các phòng ban này chịu sự quản lý trực tiếp của lãnh đạo các đơn vị và chịu sự lãnh
đạo chuyên môn của các phòng ban trực thuộc Tổng công ty theo ngành dọc.
Mô hình tổ chức của Tổng công ty chè Việt Nam có thể khái quát qua sơ đồ
sau: (Sơ đồ 1.5)
(Danh sách các đơn vị thành viên Tổng công ty Chè Việt Nam xem Phụ lục
số 1.1)
12
Hội đồng quản trị
Ban kiểm soát
Tổng giám đốc
Phó TGĐ Phó TGĐ
Phòng
kế
hoạch
đầu tư
Phòng
KCS
Phòng
Tài
chính
kế toán
đến an toàn thực phẩm. Các vườn chè tập trung của Vinatea đến nay đã có năng suất
bình quân đạt gần 15 tấn chè búp tươi/hecta.
Tổng công ty Chè Việt Nam đã tổ chức khai thác các nguồn nguyên liệu tự
nhiên để sản xuất phân bón hữu cơ, phân hữu cơ vi sinh chuyên dùng cho cây chè,
phù hợp với từng điều kiện thổ nhưỡng, nông hoá và bảo về nguồn lợi lâu dài của đất
đai.
Về chế biến:
Trong gần một thập kỷ qua Tổng công ty Chè Việt Nam đã đầu tư mạnh mẽ vào
việc áp dụng và sử dụng các công nghệ và thiết bị chế biến và tinh chế chè. Cho đến
nay Vinatea đã có hàng chục nhà máy chế biến và tinh chế sản phẩm chè với thiết bị và
công nghệ hiện đại, tiên tiến nhập khẩu từ Nhật Bản, Đài Loan, Ấn Độ, Italia,…
Vinatea luôn coi trọng và đặt mục tiêu hàng đầu của công tác chế biến chè là
an toàn thực phẩm và vệ sinh công nghiệp gắn với chất lượng sản phẩm cao, chất
lượng sản phẩm mà khách hàng ưa thích.
Sản phẩm chè của Vinatea đa dạng về chủng loại như chè đen OTD, CTC, chè
xanh Pouchung, Ooolong, Gunpowder, kiểu truyền thống Việt Nam, kiểu xanh dẹt
Nhật Bản...
Chất lượng sản phẩm chè của Vinatea luôn đạt tiêu chuẩn của nhà nước Việt
Nam (TCVN) và quốc tế về hàm lượng tan, tạp chất sắc hay độ thủy phân của chè.
Việc nghiên cứu, tiếp thu kỹ thuật, công nghệ và thiết bị chế biến chè luôn là
việc làm thường xuyên và liên tục của Vinatea.
Về kiểm tra sản phẩm:
Vinatea có đội ngũ công nhân và cán bộ kỹ thuật hùng hậu và có tay nghề cao
luôn kiểm tra, giám sát chất lượng sản phẩm từng công đoạn trong quá trình sản xuất
ở từng nhà máy và công xưởng. Việc áp dụng các các chương trình quản lý chất
lượng theo ISO đang được phổ cập tại các đơn vị thành viên, đến từng công nhân,
nhân viên, cán bộ của Vinatea.
14
Tổng công ty Chè Việt Nam là doanh nghiệp sản xuất – kinh doanh chè duy nhất
ở Việt Nam có phòng Kiểm nghiệm chất lượng chè độc lập thuộc hệ thống đo lường
Với mục tiêu chung là đảm bảo kế hoạch sản xuất kinh doanh trong các thời
kỳ, thực hiện tốt các nghĩa vụ với ngân sách nhà nước đồng thời không ngừng phát
triển quy mô toàn doanh nghiệp, cũng như nâng cao đời sống cán bộ công nhân viên
chức trong Tổng công ty. Tôn chỉ trong mọi hoạt động của Tổng công ty Chè Việt
Nam là “TÍN NHIỆM - CHẤT LƯỢNG - LÂU DÀI - BỀN VỮNG”.
1.1.3.2 Những thuận lợi.
- Tổng công ty Chè Việt Nam được sự quan tâm chỉ đạo, giúp đỡ kịp thời của
cơ quan chủ quản là Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, có được những chính
sách phù hợp và đúng đắn đối với sự phát triển của Tổng công ty.
- Từ nhiều năm nay Tổng công ty gần như là đầu mối duy nhất làm công tác
xuất khẩu chè nên có nhiều kinh nghiệm về tổ chức đàm phán, ký kết và thanh toán
với các đối tác nước ngoài và có phòng thị trường chuyên trách về nghiên cứu thị
trường nên có nhiều thuận lợi, có khả năng và am hiểu về thị trường cũng như am
hiểu về khách hàng.
- Tiềm năng thị trường cả trong và ngoài nước đều rất lớn, nhu cầu về chè
uống đang tăng lên. Sản lượng chè Việt Nam cũng ngày càng tăng lên, công nghệ chế
biến từng bước được đổi mới, một số giống chè chất lượng cao đang được thử
nghiệm và đã cho kết quả tốt. Như vậy, cả thị trường đầu vào và thị trường đầu ra
của Tổng công ty đều có tiềm năng lớn. Vấn đề còn lại là Tổng công ty cần đưa ra
các chủ trương hợp lý để khai thác và tận dụng các nguồn lực đó.
1.1.3.3 Những khó khăn
- Ngoài nhiệm vụ sản xuất kinh doanh, Tổng công ty còn có nhiệm vụ đối với
sự phát triển chung của toàn ngành chè do vậy đã ít nhiều gây khó khăn cho hoạt
động kinh doanh.
- Chất lượng chè nhìn chung còn chưa cao do đặc thù của sản phẩm chè là khó
bảo quản và sản xuất chè mang tính thời vụ nên khó cạnh tranh với sản phẩm cùng
loại của các nước khác.
16
- Thị trường chè chưa ổn định, giá chè trên thị trường quốc tế đang có xu hướng
giảm, đặc biệt là theo thống kê vào cuối tháng 12 năm 2006 giá chè của Việt Nam thấp
5.4 Chè nội tiêu
Tấn
Tấn
Tấn
Tấn
39.174
10.116
3.294
499
41.451
12.670
3.854
503
38.405
10.420
3.872
586
105,81
125,24
117,00
100,80
92,65
82,24
100,46
116,50
17
6 Lao động Người 4900 4860 4980 99,18 102,47
7
Thu nhập bình quân
của người lao động
1.1.4.1 Đặc điểm tổ chức bộ máy kế toán
Do Tổng công ty có quy mô lớn và có các hoạt động sản xuất kinh doanh đa
dạng như nhận vốn nhà nước giao, cấp phát vốn, góp vốn đầu tư liên doanh lỉên kết,
sản xuất mua bán vật tư hàng hoá, xuất nhập khẩu trực tiếp, uỷ thác...nên số lượng
nghiệp vụ kinh tế phát sinh lớn vì thế công tác hạch toán kế toán ở Tổng công ty khá
phức tạp và vất vả.
* Nhiệm vụ của Phòng tài chính kế toán:
Phòng tài chính kế toán có nhiệm vụ giúp việc cho Tổng giám đốc về lĩnh vực tài
chính kế toán trong mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của toàn Tổng công ty.
Thực hiện nhiệm vụ hạch toán kế toán toàn bộ các hoạt động sản xuất kinh
doanh, đầu tư, hợp tác, liên doanh, liên kết trong toàn Tổng công ty. Khai thác, quản
lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn, đáp ứng kịp thời cho các phương án sản
xuất kinh doanh, hợp tác đầu tư...Nắm bắt các nguồn thông tin về tài chính tiền tệ để
tham mưu cho Tổng giám đốc phục vụ điều hành sản xuất kinh doanh và đầu tư xây
dựng cơ bản đạt hiệu quả kinh tế cao. đảm bảo việc bảo toàn và phát triển vốn của
Tổng công ty trực tiếp quản lý các đơn vị trực thuộc Tổng công ty.
Ghi chép, tổng hợp, xử lý và lưu giữ các tài liệu số liệu về kế toán tài chính
theo đúng pháp lệnh kế toán thống kê. Phản ánh kịp thời tình hình tài chính của Tổng
công ty, kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh, kế hoạch thu chi
tài chính, kỹ thuật, thanh toán, giao nộp, tình hình quản lý sử dụng các loại vật tư,
tiền vốn để phản ánh kịp thời cho Tổng giám đốc. Tổng hợp và lập báo cáo tài chính
hợp nhất hàng năm của Tổng công ty theo đúng chế độ kế toán hiện hành.
Chỉ đạo các đơn vị thành viên trong Tổng công ty vể mặt nghiệp vụ kế toán tài
chính. Chủ trì tiến hành phân tích hoạt động kinh doanh hàng năm của Tổng công ty
và thực hiện các hoạt động kinh tế tại các đơn vị thành viên...
19
* Phòng Tài chính kế toán của Tổng công ty gồm có 09 người (khái quát qua
Sơ đồ 1.6). Căn cứ vào Điều lệ tổ chức và hoạt động của Tổng công ty, căn cứ vào
nhiệm vụ của phòng Tài chính kế toán do Tổng giám đốc giao, căn cứ vào các quy
định về hạch toán kế toán và quản lý tài chính của nhà nước và của ngành thống nhất
Tương ứng với bộ máy quản lý của Tổng công ty, bộ máy kế toán cũng được
tổ chức khoa học, mang tính chuyên môn hoá cao và được tổ chức theo hình thức tập
trung nửa phân tán, các đơn vị thành viên hạch toán độc lập thì có phòng kế toán
riêng, được tự chủ về mặt tài chính cũng như về các hoạt động sản xuất kinh doanh.
Còn các chi nhánh và các đơn vị hạch toán phụ thuộc thì không đặt phòng kế toán mà
mọi nghiệp vụ kế toán được giao cho một nhân viên chuyên trách chịu sự chỉ đạo
trực tiếp của phòng Tài chính kế toán ở công ty mẹ.
Phù hợp với đặc điểm sản xuất kinh doanh Tổng công ty chọn hình thức tổ
chức bộ máy kế toán tập trung nửa phân tán, tạo điều kiện cho kế toán có thể nắm bắt
21
Kế toán trưởng
Phó phòng phụ trách sản
xuất kiêm kế toán TSCĐ
Phó phòng phụ trách
kinh doanh
Kế
toán
tổng
hợp
sản
xuất
Kế
toán
hành
chính
sự
nghiệp
Kế
toán
thanh
Đặc biệt là kế toán trưởng là người luôn sắp xếp phân công công việc hợp lý,
đúng người đúng việc. Trong nội bộ phòng kế toán lại thường xuyên tiến hành điều
chuyển công tác nên trình độ chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ kế toán ngày càng
được phát huy và nâng cao.
Các phần việc kế toán được phân công tương đối rõ ràng và phù hợp với khả
năng chuyên môn của từng cán bộ kế toán trong phòng, có sự phối hợp chặt chẽ,
đồng bộ giữa các phần hành.
1.1.4.2 Đặc điểm vận dụng chế độ kế toán
Tổng công ty áp dụng hệ thống kế toán doanh nghiệp Việt Nam ban hành theo
quyết định số 1141-TC/QĐ-CĐKT ngày 1/11/1995 của Bộ trưởng Bộ tài chính,
thông tư số 89/2002/TT-BTC ngày 09/10/2002 hướng dẫn thực hiện 04 chuẩn mực kế
toán (đợt 1) ban hành theo quyết định số 149/2001/QĐ-BTC ngày 31/12/2001 của Bộ
trưởng Bộ tài chính, thông tư số 105/2003/TT-BTC ngày 04/11/2003 hướng dẫn thực
hiện 06 chuẩn mực kế toán (đợt 2) ban hàng kèm theo quyết định số 165/2002/QĐ-
BTC ngày 31/12/2002 của Bộ trưởng Bộ tài chính, thông tư số 23/2005/TT-BTC
ngày 30/03/2005 hướng dẫn thực hiện 06 chuẩn mực kế toán (đợt 3) ban hành kèm
22
theo quyết định số 234/2003/QĐ-BTC của Bộ trưởng Bộ tài chính, Thông tư số
21/2006/TT-BTC ngày 20/03/2006 hướng dẫn thực hiện 06 chuẩn mực kế toán ban
hành theo quyết định số 100/2005/QĐ-BTC ngày 28/12/2005 của Bộ trưởng Bộ tài
chính.
Hình thức sổ kế toán áp dụng.
Tổng công ty Chè Việt Nam áp dụng hình thức sổ kế toán Chứng từ - ghi sổ.
Toàn bộ công tác kế toán từ ghi sổ chi tiết đến tổng hợp báo cáo và kiểm tra kế toán
đều được đặt dưới sự lãnh đạo của Tổng giám đốc Tổng công ty và có nhiệm vụ tổ
chức thực hiện công tác kế toán trong Tổng công ty giúp Tổng giám đốc tổ chức công
tác thông tin kinh tế. Đồng thời sử dụng phần mềm kế toán riêng thống nhất kết nối
mạng nội bộ đảm bảo thông tin kế toán kịp thời, nhanh chóng.
Tuy nhiên, do đặc thù của các đơn vị thành viên là các đơn vi sản xuất. Từ
một loại nguyên liệu chè có thể tạo ra nhiều sản phẩm chè do vậy các đơn vị này
sử dụng các tài khoản: TK 621, TK 631.
Tuy nhiên do đặc thù của ngành chè có sản phẩm cũng như khách hàng đa
dạng, đồng thời để phát huy tối đa khả năng mã hoá của phần mềm kế toán máy, hệ
thống tài khoản kế toán đã được mở chi tiết tới cấp 6 và cho từng đối tượng khách
hàng, chủ nợ, các đơn vị thành viên, các bên giao uỷ thác để thuận tiện cho việc theo
dõi và hạch toán tránh được sự nhầm lẫn và chồng chéo trong ghi chép, phản ánh
nghiệp vụ kinh tế phát sinh.
Đặc điểm vận dụng hệ thống sổ sách kế toán.
Tổng công ty Chè Việt Nam áp dụng hình thức ghi sổ kế toán là Chứng từ -
ghi sổ nên Tổng công ty sử dụng tất cả các loại sổ của hình thức Chứng từ - ghi sổ và
theo mẫu của Bộ tài chính ban hành gồm có:
- Chứng từ ghi sổ
- Sổ đăng ký chứng từ ghi sổ
- Sổ cái tài khoản
- Sổ chi tiết tài khoản
- Sổ tổng hợp tài khoản
24
- Sổ chi tiết bán chè
- Sổ theo dõi mua chè xuất khẩu
- Sổ theo dõi bán chè
- Sổ phụ ngân hàng
Các sổ kế toán của Tổng công ty được mở theo đúng mẫu, đúng chế độ của
Bộ Tài chính ban hành. Do đặc điểm áp dụng phần mềm kế toán Fast được xây
dựng riêng cho Tổng công ty giúp cho công việc nhanh và chính xác vì vậy có thể
mở sổ cho các tài khoản chi tiết cấp 6. Theo quyết định số 15 của Bộ tài chính,
hình thức ghi sổ của Tổng công ty còn được xem là “Hình thức kế toán trên máy vi
tính” với đặc trưng cơ bản, trình tự ghi sổ phù hợp với đa số các thao tác thực hiện kế
toán trên máy tính. Trong tổ chức công tác kế toán, theo đó các sổ sách kế toán cũng
được in trực tiếp trên máy tính trên cơ sở số liệu các chứng từ gốc và các số liệu liên
quan trong máy. Khi cần thông tin kế toán sẽ được đáp ứng ngay, giảm được khối