TRƯỜNG ĐH NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
OOO
TIỂU LUẬN
RÀO CẢN KỸ THUẬT CỦA EU ĐỐI VỚI MẶT HÀNG
DỆT MAY CỦA VIỆT NAM
- GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN:
- LỚP: TMA301.3
- NHÓM SINH VIÊN THỰC HIỆN:
+TRẦN NGỌC CHIẾN MSV: 1001010112
+TRẦN QUANG HÀ MSV:
HÀ NỘI NGÀY 10 THÁNG 5 NĂM 2012
1
MỤC LỤC
I. TỔNG QUAN VỀ CÁC RÀO CẢN KỸ THUẬT ÁP DỤNG QUẢN LÝ NHẬP
KHẨU ĐỐI VỚI HÀNG DỆT MAY 3
II. THỰC TRẠNG VƯỢT RÀO CẢN KỸ THUẬT ĐỐI VỚI MẶT HÀNG DỆT
MAY CỦA VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG 9
III. GIẢI PHÁP VƯỢT RÀO CỦA DỆT MAY VIỆT NAM SANG THỊ
TRƯỜNG EU 16
TÀI LIỆU THAM KHẢO 20
2
I. TỔNG QUAN VỀ CÁC RÀO CẢN KỸ THUẬT ÁP DỤNG QUẢN LÝ NHẬP
KHẨU ĐỐI VỚI HÀNG DỆT MAY.
1. Rào cản kĩ thuật trong thương mại quốc tế:
a) Khái niệm:
Hàng rào kĩ thuật trong thương mại quốc tế là quy định của nước nhập khẩu về các
yêu cầu, tiêu chuẩn đối với hàng nhập khẩu để được thông quan và thị trường nội địa.
Hàng rào kĩ thuật trong thương mại quốc tế là một hình thức bảo hộ mậu dịch, qua
việc nước nhập khẩu đưa ra các yêu cầu về tiêu chuẩn đố với hàng hóa nhập khẩu hết sức
khắt khe: Tiêu chuẩn về quy cách, mẫu mã, về chất lượng, về vệ sinh, về an toàn, về mức
định cấm nhập khẩu và bán các sản phẩm dệt may có chứa các chất bị cấm
• Thông tư 2002/61/EC và đã được 27 quốc gia đưa vào luật quốc gia. Cấm
bán sản phẩm dệt may có chứa thuốc nhuộm azo nghi gây ung thư
• Thông tư 2003/3/EC về hạn chế bán và sử dụng thuốc nhuộm màu xanh
nước biển
• Thông tư 91/338/EC về hạn chế sử dụng Cadimi trong pigment, chất ổn
định cho chất dẻo, chất mạ điện.
• Thông tư 83/264/EC về hạn chế sử dụng chất chống cháy trong sản phẩm
dệt may
• Thông tư 2003/11/EC về hạn chế sử dụng các chất chống cháy trong sản
phẩm dệt may :penta BDE, octa BDE
• Thông tư 2003 /53/EC về cấm bán và sử dụng Nonylphenol và nonylphenol
etoxylat
4
• Thông tư 94/27/EC về giới hạn Niken trong các vật trang sức và phụ kiện
may mặc
• Quy chuẩn EC 850/2004 cấm sử dụng các chất hữu cơ gây ô nhiễm (POP)
• Luật REACH 1907/2006/EC Qui định đăng ký, đánh giá, cấp phép hoá chất
• Thông tư 2006/12/EC về hạn chế bán và sử dụng Perflooctan Sulfonat
• Sắc luật về bao bì và phế liệu bao bì
• Luật về an toàn quần áo
- Quy định EU về ghi nhãn sản phẩm dệt may:
• Thông tư 96/74/EC qui định cách thức ghi nhãn cho các sản phẩm dệt may
bán tại EU
• Nhãn cần phải nêu đúng các thông tin về thành phần xơ, sợi của sản phẩm
• Nhãn bắt buộc phải được xem là một phần của chất lượng
c) Một số yêu cầu về sản phẩm dệt may nhập khẩu vào EU:
- Yêu cầu về chất lượng sản phẩm:
• Tính đồng nhất: Nhà nhập khẩu yêu cầu chất lượng sản phẩm phải đồng
nhất 100% về chất lượng theo đúng sản phẩm mẫu đó được thể hiện trên
Từ ngày 1 tháng 1 năm 1999, đồng Euro đã trở thành tiền tệ hợp pháp trong 11
quốc gia thành viên EU gồm Áo, Bỉ, Phần Lan, Pháp, Đức, Ý, Ai-len, Luxembourg, Hà
Lan, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha. Hy Lạp trở thành thành viên thứ 12 từ tháng 6 năm
2000. Các đồng tiền riêng của từng quốc gia đã trở thành đồng tiền thứ 2 sau euro và vẫn
được lưu thông như là loại tiền hợp pháp cho tới giữa năm 2002. Năm 2002, việc lưu
thông các đồng kẽm và đồng giấy euro đã hoàn toàn thay thế các đồng tiền quốc gia.
Kể từ thời điểm phát hành đồng tiền chung euro, từ 11 nước ban đầu hiện nay đã
có 17 quốc gia sử dụng đồng tiền này. Mới đây nhất là Estonia vào năm 2011. Đan
Mạch, Anh và Thụy Điển quyết định không tham gia vào đồng tiền chung euro. Trong tài
liệu nghiên cứu này, đồng euro được dùng làm đồng tiền chính để chỉ giá trị.
6
EU nói chung, có nhu cầu tiêu dùng hàng may mặc rất đa dạng và chú trọng nhiều
đến giá cả, tính thời trang, chất lượng ….Tuy nhiên, hiện nay, do chi phí đắt đỏ nên
người tiêu dùng đang cắt giảm chi tiêu, trong đó chi phí dành cho quần áo sẽ ở mức độ
vừa với túi tiền và phần lớn người tiêu dùng thích mua trong các đợt hàng giảm giá,
khuyến mãi. Nửa lượng hàng dệt may tiêu thụ ở Pháp thời gian gần đây là từ các đợt
hàng khuyến mãi, giảm giá. Điều này cho thấy, lượng tiêu thụ hàng dệt may ở thị trường
EU sẽ không giảm, nhưng sẽ giảm giá trị mua sắm.
Bên cạnh đó, dù tiết giảm chi tiêu, người tiêu dùng EU cũng không thích sử dụng
những sản phẩm có giá thành hạ mà trong quá trình sản xuất làm xâm hại đến môi
trường, sử dụng lao động trẻ em, hoặc làm ra từ việc bóc lột công sức người lao động. Vì
thế để được lòng thị trường, các nhà thu mua ở EU đã đưa thêm các tiêu chí trên vào điều
kiện đơn hàng. Thống kê mới đây cho thấy, 77% người tiêu dùng EU quan tâm đến điều
kiện môi trường, 72% chú trọng đến các dịch vụ liên quan sản phẩm và 51% chú ý đến
chất lượng.
b) Nhu cầu đối với hàng dệt may của EU:
EU là 1 thị trường rộng lớn với khoảng hơn 500 triệu người tiêu dùng, bao gồm 27
quốc gia nên nhu cầu về hàng hóa là rất đa dạng và phong phú, đặc biệt đối với hàng dệt
may có tính thời vụ và thời trang cao. Tuy có sự khác biệt về tập quán và thị hiếu tiêu
dùng giữa thị trường của cấc quốc gia song 27 nước trong khối EU, đều thuộc châu Âu
hàng Việt tăng thị phần tại EU. Để nắm bắt xu thế mới của thị trường này nhiều lời
khuyên từ các chuyên gia EU đã được nêu lên. Theo ông Guillauma Crouzet, doanh
nghiệp Việt Nam nên nghiên cứu cẩn thận xu hướng tiêu thụ mới trước khi đưa hàng
sang hay lên kế hoạch sản xuất, nên tham dự các triền lãm lớn ở Pháp như Fatex đầu
tháng 7, Interfiliere and mode Lingerie vào tháng 10. Doanh nghiệp Việt Nam cũng có
thể lập công ty, văn phòng đại diện tại Pháp để tìm hiểu rõ nhu cầu, thị hiếu, hệ thống
phân phối tại EU và CCIFV sẽ hỗ trợ doanh nghiệp trong việc này.
Một số nhà thu mua EU khác cho rằng, doanh nghiệp Việt Nam nên tập trung vào
vài chủng loại hàng hoá chuyên sâu, đừng sản xuất tràn lan, tăng đầu tư vào khâu thiết kế
8
và nên chấp nhận linh hoạt đa dạng đơn hàng, vì bên cạnh những đơn hàng lớn cũng sẽ
có những đơn hàng nhỏ. Ngoài ra, Tập đoàn Casino cùng bộ phận xuất khẩu Big C cũng
đang tiến hành gặp gỡ, trao đổi thường xuyên với các doanh nghiệp dệt may Việt Nam để
vừa có hàng cung cấp cho chuỗi siêu thị của BigC trên toàn cầu và có nguồn hàng xuất
sang EU.
II.
THỰC TRẠNG VƯỢT RÀO CẢN KỸ THUẬT ĐỐI VỚI MẶT HÀNG DỆT
MAY CỦA VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG
1. Tổng quan của hoạt động xuất khẩu hang dệt may của Việt Nam.
a, Xuất khẩu hang dệt may ra thị trường thế giới.
Ngành dệt may hiện nay là mặt hàng xuất khẩu hàng đầu của Việt Nam và có tốc
độ tăng trưởng cao qua các năm. Sẳn phẩm dệt may của Việt Nam đã thiết lập được vị thế
trên các thị trường khó tính như Mỹ, EU, Nhật Bản…Thị trường dệt may Việt Nam
không ngừng phát triển và hiện nay đã đạt được con số kim ngạch xuất khẩu 10,5 tỷ
USD/năm, thị trường xuất khẩu mở rộng nhiều quốc gia trên thế giới. Từ những mẫu mã
đơn giản đến phức tạp, các sản phẩm của dệt may Việt Nam đều được làm một cách cẩn
thận và có uy tín. Với những doanh nghiệp muốn tận dụng nhân công giá rẻ ở những
nước đang phát triển đều nhận thấy Việt Nam là một giải pháp lý tưởng để sản xuất
những mặt hàng chất lượng thấp đến trung bình với một số lượng lớn để xuất khẩu ra thị
khẩu hàng dệt may của Việt Nam với kim ngạch và có tốc độ giảm so với cùng kỳ năm
2011 lần lượt là 559 triệu USD và 12,3%; 186 triệu USD và 21,2%; 124 triệu USD và
7,7%. Như vậy, có thể thấy, Liên minh châu Âu (EU) là một đối tác quan trọng và tin
cậy của thị trường Việt Nam.
Tại thị trường Châu Âu - chiếm khoảng 20% giá trị xuất khẩu, các doanh nghiệp
đã cải thiện chất lượng và mở rộng dịch vụ hỗ trợ cho nhà nhập khẩu cũng như tuân thủ
quy chế mới về an toàn cho người tiêu dùng. Nhờ đó, giá trị xuất khẩu 9 tháng đầu năm
2009 đạt xấp xỉ 1,25 tỷ USD, chỉ giảm 3,5% trong điều kiện nhập khẩu chung vào thị
trường này giảm hơn 11% so với cùng kỳ năm trước.
Theo Hiệp hội Dệt may Việt Nam (VITAS), dệt may là ngành xuất khẩu lớn nhất
trong số các ngành sản xuất các sản phẩm chế biến cho các thị trường toàn cầu. Năm
2007, tổng kim ngạch xuất khẩu dệt may lên tới 6 tỷ euro, trong đó 1,23 từ thị trường
EU. Tổng kim ngạch xuất khẩu tăng trên 17% năm 2008 lên tới khoảng 7 tỷ euro,
trong đó riêng mức tăng của thị trường EU là 1,34 tỷ euro. Ngành này cũng dựa nhiều
vào nguyên vật liệu nhập khẩu. Nhìn chung, ngành dệt may nhập khẩu tới 70-80%
11
nguyên vật liệu để sản xuất. Hầu hết các sản phẩm sản xuất theo đơn hàng của bên
mua nước ngoài, do người mua cung ứng nguyên vật liệu trong một số trường hợp.
Trung Quốc là nguồn nguyên vật liệu chủ yếu và cung cấp khoảng 50% nhu cầu nhập
khẩu của Việt Nam.
Năm 2012, lượng hàng dệt may xuất khẩu sang thị trường EU từ đầu năm đến giữa
tháng 3/2012 đã giảm 25%-30% so với cùng thời điểm năm 2011. Nguyên nhân là do
cuộc khủng hoảng nợ của các quốc gia EU nên người tiêu dùng siết chặt chi tiêu, thị
trường nhập khẩu bị thu hẹp khiến cho lượng xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang
thị trường này giảm so với cùng kỳ.
2. Các rào cản kỹ thuật của EU với mặt hàng dệt may của Việt Nam
Thị trường EU là một thì trường lớn của dệt may Việt Nam và đây là một trong ba
thị trường khó tính nhất. Vì vậy, những yêu cầu của thị trường này cũng rất cao và gây
không ít khó khăn cho dệt may Việt Nam. Điển hình là các rào cản sau:
a. Hiệp định về các rào cản kỹ thuật đối với thương mại (TBT)
người, quy định cấm nhập khẩu và bán các sản phẩm dệt may có chứa các chất bị cấm
• Thông tư 2002/61/EC và đã được 27 quốc gia đưa vào luật quốc gia. Cấm
bán sản phẩm dệt may có chứa thuốc nhuộm azo nghi gây ung thư
• Thông tư 2003/3/EC về hạn chế bán và sử dụng thuốc nhuộm màu xanh
nước biển
• Thông tư 91/338/EC về hạn chế sử dụng Cadimi trong pigment, chất ổn
định cho chất dẻo, chất mạ điện.
• Thông tư 83/264/EC về hạn chế sử dụng chất chống cháy trong sản phẩm
dệt may
• Thông tư 2003/11/EC về hạn chế sử dụng các chất chống cháy trong sản
phẩm dệt may :penta BDE, octa BDE
• Thông tư 2003 /53/EC về cấm bán và sử dụng Nonylphenol và nonylphenol
etoxylat
13
• Thông tư 94/27/EC về giới hạn Niken trong các vật trang sức và phụ kiện
may mặc
• Quy chuẩn EC 850/2004 cấm sử dụng các chất hữu cơ gây ô nhiễm (POP)
• Luật REACH 1907/2006/EC Qui định đăng ký, đánh giá, cấp phép hoá chất
• Thông tư 2006/12/EC về hạn chế bán và sử dụng Perflooctan Sulfonat
• Sắc luật về bao bì và phế liệu bao bì
• Luật về an toàn quần áo
- Quy định EU về ghi nhãn sản phẩm dệt may:
• Thông tư 96/74/EC qui định cách thức ghi nhãn cho các sản phẩm dệt may
bán tại EU
• Nhãn cần phải nêu đúng các thông tin về thành phần xơ, sợi của sản phẩm
• Nhãn bắt buộc phải được xem là một phần của chất lượng
3. Tác động của rào cản kỹ thuật với hàng dệt may Việt Nam
a. Tác động tích cực
Yêu cầu kỹ thuật cao với hàng dệt may Việt Nam khi tham gia vào thị trường EU
đã đem lại nhiều nét tích cực cho việc xuất khẩu mặt hàng này trong hiện tại và cả tương
bền vững. Như vậy, không phải doanh nghiệp nào cũng có thể đáp ứng
được các tiêu chuẩn, yêu cầu kỹ thuật này. Cụ thể, năm 2009, Luật Hóa
chất REACH đã có hiệu lực, việc sử dụng bất kỳ hóa chất nào đều phải
đăng ký và nghiên cứu tác động của hóa chất. Và vì vậy, cũng làm cho số
lượng hàng xuất khẩu vào thị trường EU giảm xuống, số lượng công ty
được phép xuất khẩu cũng giảm đi mà chi phí sản xuất lại gia tăng.
• Do EU vẫn cố gắng duy trì chính sách bảo hộ sản xuất nội khối nên doanh
nghiệp Việt Nam muốn xuất khẩu hàng vào thị trường EU càng gặp khó
khăn hơn bởi doanh nghiệp vừa phải tìm cách tăng cường xâm nhập thị
15
trường, vừa phải tính ở mức thế nào để không phải là đối tượng của các
biện pháp bảo hộ.
EU có chính sách đối với Việt Nam dù đã có nhiều chuyển biến tích cực nhưng
vẫn kém ưu đãi hơn chính sách nước ký kết Công ước Lomé (ACP), các nước chậm phát
triển. Do đó, Việt Nam rất khó có thể xâm nhập vào thị trường EU. Vì vậy, làm cho sản
lượng xuất khẩu không tăng mạnh.
III. GIẢI PHÁP VƯỢT RÀO CỦA DỆT MAY VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG
EU.
Trước những quy định khắt khe về tiêu chuẩn kỹ thuật đối với mặt hàng dệt may như đã
kể trên, muốn xâm nhập và khai thác thị trường tiềm năng như EU đòi hỏi Chính phủ
cũng như các doanh nghiệp phải có những biện pháp phù hợp. Sau đây là một số giải
pháp:
1.Từ phía Chính phủ:
Chính phủ cần nâng cao chức năng của hiệp hội ngành hàng trong việc cung cấp
thông tin thị trường. Hiệp hội cần thể hiện rõ vai trò của mình trong việc giúp đỡ các
doanh nghiệp nắm bắt thông tin nhanh, chính xác, hiễu rõ và thực hiện đúng các tiêu
chuẩn, quy định về rào cản kỹ thuật của các thị trường xuất khẩu nói chung và thị trương
EU nói riêng.
Hỗ trợ thông tin, xây dựng các quy chế thúc đẩy xuất khẩu sang thị trường EU, mở
rộng quy mô hoạt động của các tổ chức xúc tiến thương mại, các cơ quan quản lý chất
chất chuyên dụng nhập khẩu phục vụ cho sản xuất dệt may trong nước, giúp loại bỏ ngay
giai đoạn đầu sản xuất những nguyên liệu và hóa chất không phù hợp với những quy định
và tiêu chuẩn của thị trường EU, gây hại đến môi trường và người tiêu dùng.
2. Những biện pháp từ phía các doanh nghiệp
17
Đối với các doanh nghiệp, điều kiện tiên quyết mà họ phải quan tâm khi muốn xâm
nhập vào thị trường EU phải là chất lượng sản phẩm, chất lượng quyết định tính cạch
tranh trên thị trường, do vậy các doanh nghiệp dệt may phải tiến hành đổi mới và hiện đại
hóa công nghệ, dây chuyền sản xuất, đầu tư công nghệ, máy móc trang thiết bị tiên tiến
nhằm nâng cao năng lực sản xuất cải thiện chất lượng sản phẩm. Hiện nay, một thực
trạng phổ biến ở khá nhiều các doanh nghiệp dệt may Việt Nam là việc áp dụng công
nghệ còn lạc hậu và mang nhiều tính chất truyền thống vào quy trình sản xuất, đặc biệt là
trong các ngành nhuộm – in hoa – xử lý hoàn tất. Do vậy mà năng suất sản xuất chưa cao,
chất lượng còn hạn chế, tốn nhiều năng lượng, giá thành cao làm giảm tính cạnh tranh
trên thị trường đồng thời không đáp ứng được những tiêu chuẩn cần thiết của thị trường
EU. Ngoài ra còn gây ra những hậu quả về ô nhiễm môi trường. Vì vậy để có thể xuất
khẩu bền vững tại thị trường rộng lớn và khó tính như EU thì các doanh nghiệp dệt may
xuất khẩu Việt Nam trước hết cần phải thực hiện chuyển đổi từ các công nghệ và thiết bị
truyền thống sang loại hình sản xuất “thân thiện với môi trường” sử dụng các máy móc
thiết bị phù hợp, tiên tiến nâng cao chất lượng sản phẩm, thường xuyên kiểm tra giám sát
đổi mới trang thiết bị sản xuất, đảm bảo khả năng cạnh tranh cao trên thị trường.
Điều thứ hai mà các doanh nghiệp dệt may Việt Nam cần phải quan tâm đó là chú
trọng vào việc xây dựng và củng cố thương hiệu. Một doanh nghiệp xuất khẩu thành
công hay không được đánh giá qua mức độ ảnh hưởng của họ đối với người tiêu dùng thị
trường đối tác. Doanh nghiệp có thương hiệu nổi tiếng chứng tỏ đó là một doanh nghiệp
uy tín, và sản phẩm có thể vượt qua được những rào cản kỹ thuật một cách dễ dàng hơn
cũng như đáp ứng được các yêu cầu khắt khe của người tiêu dùng. Nhận thức được điều
này, trong những năm gần đây một số doanh nghiệp Việt Nam đã tiến hành các hoạt động
nhằm quảng bá thương hiệu, nâng cao được vị thế của mình trên thị trường xuất khẩu.
Điển hình như Công ty may Viettien đã trở thành thương hiệu nổi tiếng và được người
truong-eu.661175.html
7. http://xuatnhapkhau.thegioitailieu.net/Xuat-khau-hang-det-may-Viet-Nam-
sang-thi-truong-EU_p_60032.html
20