Di sản văn hóa vùng Hàm Rồng ở tỉnh Thanh Hóa - Pdf 15



BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH

VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM

Nguyễn Thị Thục
DI SẢN VĂN HÓA VÙNG HÀM RỒNG
Ở TỈNH THANH HÓA LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC Hà Nội - 2014 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, bản Luận án tiến sĩ: DI SẢN VĂN
HÓA VÙNG HÀM RỒNG Ở TỈNH THANH HÓA là do tôi viết.
Các số liệu, trích dẫn, tư liệu trong luận án đảm bảo độ tin cậy,
chính xác, trung thực, có dẫn nguồn cụ thể. Tôi xin chịu trách
nhiệm về lời cam đoan này.
Tác giả

Nguyễn Thị Thục


3

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT DÙNG TRONG LUẬN ÁN BSVHDT: Bản sắc văn hóa dân tộc
BTCVHL: Bảo tàng cổ vật Hoằng Long
CNH - HĐH: Công nghiệp hóa - hiện đại hóa
DSVH : Di sản văn hóa
GS: Giáo sư
KHKT: Khoa học kỹ thuật
KHXH: Khoa học xã hội
KHXH & NV: Khoa học xã hội và nhân văn
Nxb: Nhà xuất bản
NCKH Nghiên cứu khoa học
TS: Tiến sĩ
TSKH: Tiến sĩ khoa học
TƯ: Trung ương
UBND: Uỷ ban nhân dân
VHDT Văn hóa dân tộc
VHNT Văn hóa Nghệ thuật
VHTT: Văn hóa - Thông tin
cảnh quan sinh thái nơi đây đã được ghi nhận qua nhiều bài viết đăng trên các tạp 5

chí, kỷ yếu hội thảo khoa học, nhưng chưa có công trình nghiên cứu nào đặt cảnh
quan sinh thái trong mối quan hệ với DSVH trong vùng. Việc đặt ra vấn đề nghiên
cứu tổng thể DSVH vùng Hàm Rồng có một ý nghĩa lý luận, thực tiễn quan trọng,
khẳng định những giá trị văn hóa được tiếp nối liên tục tại một vùng đặc biệt ở xứ
Thanh. Từ cảnh quan sinh thái, giá trị lịch sử, giá trị DSVH có thể có cùng một mẫu
số của nền văn minh Đông Sơn vùng hạ lưu sông Mã đã tích tụ lại ở đây.
Tốc độ đô thị hóa, việc mở rộng không gian thành phố Thanh Hóa cộng với
quá trình hội nhập sâu rộng trên nhiều bình diện phần nào đang phá vỡ cảnh quan
sinh thái tự nhiên, làm mai một, xuống cấp hệ thống DSVH trong vùng. Với những
gì đang diễn ra hiện nay rất dễ làm DSVH bị tổn thương và biến mất theo thời gian.
Một Hàm Rồng “danh giá” đang đứng trước những nỗi lo về hậu quả xấu sẽ diễn ra
trong tương lai khi các cấp quản lý chưa có phương án hợp lý trong quy hoạch, bảo
vệ DSVH của vùng; khi người dân chưa nhận thức đầy đủ vai trò của DSVH trong
đời sống cộng đồng; khi chưa lựa chọn được những nhà đầu tư xứng tầm, có tâm
với DSVH. Vài năm trước đây, UBND tỉnh Thanh Hóa đã phê duyệt quy hoạch vùng
Hàm Rồng và chấp nhận cho một số doanh nghiệp đầu tư, khai thác du lịch, kinh tế
tại vùng Hàm Rồng. Động thái này đã vô tình phá vỡ tính liên kết của vùng, sự phân
cấp chưa cụ thể cũng đã làm cho DSVH không được coi trọng đúng với giá trị vốn có
của nó. Đồng thời, ở đây cũng chưa thấy được mối quan hệ, chia sẻ hài hòa lợi ích
giữa bảo tồn văn hóa và phát triển du lịch. Việc cần làm hiện nay là đánh giá tổng thể
giá trị DSVH, chỉ ra những đặc trưng chung của DSVH vùng Hàm Rồng, để thấy
Hàm Rồng cần được xem xét, quy hoạch và bảo vệ như một vùng văn hóa đặc biệt ở
tỉnh Thanh Hóa.
Năm 2011, tỉnh Thanh Hóa xây dựng bản điều chỉnh quy hoạch vùng Hàm
Rồng ở các khía cạnh: quy hoạch tổng thể, bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị di

3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
- Hệ thống DSVH ở vùng Hàm Rồng biểu hiện qua các loại hình DSVH vật
thể và DSVH phi vật thể. Trên cơ sở khảo cứu các DSVH điển hình được đề cập
theo từng loại hình cụ thể.
- Luận án cũng đề cập đến một số DSVH ở vùng đệm có cùng mẫu số với
DSVH vùng Hàm Rồng hình thành do quá trình lan tỏa và tích tụ. 7

3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian nghiên cứu của luận án là vùng văn hóa Hàm Rồng.
Theo hướng Tây - Đông, tính từ xã Thiệu Khánh với dãy núi Đông Sơn chạy men
theo sông Mã đến xã Hoằng Quang, phường Nam Ngạn. Theo hướng Bắc - Nam từ
bến Ngự đến núi Nhồi, phường An Hoạch.
- Phạm vi vấn đề nghiên cứu: Nghiên cứu DSVH vật thể (Di tích lịch sử văn
hóa; danh lam thắng cảnh; di vật, cổ vật, bảo vật); DSVH phi vật thể (Lễ hội, tín
ngưỡng; diễn xướng dân gian; nghề thủ công truyền thống) điển hình còn hiện tồn
đến nay.
4. Phương pháp nghiên cứu
4.1. Sử dụng phương pháp nghiên cứu lý thuyết để tiếp cận hệ thống lý thuyết
về DSVH, phương pháp phân loại DSVH từ các văn bản luật và dưới luật; lý thuyết
vùng văn hóa và phân vùng văn hóa từ kết quả nghiên cứu thành công của các học
giả trong nước và nước ngoài.
4.2. Phương pháp nghiên cứu nguồn tư liệu viết về DSVH tỉnh Thanh Hóa,
DSVH ở vùng Hàm Rồng. Tổng hợp số liệu, phân tích, phân loại tư liệu nghiên cứu
theo mục đích và nội dung luận án.
4.3. Phương pháp nghiên cứu liên ngành: sử học, văn hóa học, nghệ thuật
học, dân tộc học… giúp cho việc tiếp cận, phân tích các loại hình DSVH. Trong đó

tiêu chí, trong đó có sự đóng góp không nhỏ về giá trị của DSVH trong vùng.
- Đưa ra một số kiến nghị trong việc bảo tồn, khai thác, phát huy vai trò của
vùng, giá trị DSVH trong vùng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.
Thứ hai, về thực tiễn
- Bổ sung và góp phần làm phong phú hơn kho tàng DSVH tỉnh Thanh Hóa,
DSVH Việt Nam từ những giá trị độc đáo của DSVH vùng Hàm Rồng.
- Những kiến nghị trình bày trong luận án, tác giả mong muốn sẽ là những
gợi ý hữu ích cho các cấp quản lý địa phương vận dụng trong công tác quy hoạch,
bảo tồn, khai thác phát huy DSVH và vùng văn hóa Hàm Rồng.
- Luận án có thể trở thành tài liệu tham khảo cho sinh viên các ngành Văn hóa -
Du lịch, Quản lý Văn hóa ở các trường Đại học, Cao đẳng KHXH & NV.
- Luận án có thể xuất bản thành sách tham khảo.
Thứ ba, kết quả nghiên cứu và những luận bàn 9

- Hàm Rồng từ lâu đã trở thành đề tài hấp dẫn cho các học giả trong nước và
nước ngoài lựa chọn nghiên cứu, nhưng chủ yếu là những công trình đơn lẻ theo một
vấn đề cụ thể. Ý tưởng của luận án đặt ra nghiên cứu tổng thể cảnh quan sinh thái,
DSVH vùng Hàm Rồng là cần thiết.
- Vùng Hàm Rồng với những giá trị DSVH tiêu biểu - sợi dây nối liền bản
sắc văn hóa Việt cổ, mà đỉnh cao là nền văn hóa Đông Sơn với con người đương
đại. Nơi đây được ví như một kho tàng văn hóa dân gian, kho sử liệu của lịch sử -
văn hóa Việt Nam. Việc nghiên cứu DSVH vùng Hàm Rồng ở tỉnh Thanh Hóa
không chỉ mang tính lý luận thuần túy mà còn làm sáng tỏ DSVH vùng Hàm Rồng
có nhiều giá trị đặc trưng riêng biệt.
- Từ thế kỷ XVI - XIX trên thế giới đã xuất hiện nhiều trường phái nghiên
cứu về vùng và phân vùng văn hóa, mang lại những thành công nhất định ở cả
phương diện lý thuyết và thực hành. Những kết quả nghiên cứu trên đã tác động

11

NỘI DUNG
Chương 1
LÝ THUYẾT VỀ VÙNG VĂN HÓA VÀ DI SẢN VĂN HÓA
1.1. Lý thuyết về vùng văn hóa
Vùng văn hóa được coi là dạng thức của không gian văn hóa. Việc nhận thức
vùng văn hóa hay không gian văn hóa chính ở sự tương đồng và khác biệt. Về
phương diện lý thuyết, vùng và phân vùng văn hóa đã được nhiều học giả trong
nước và trên thế giới quan tâm nghiên cứu. Luận án kế thừa các kết quả nghiên cứu
đi trước, tập hợp thành một hệ thống lý thuyết bao gồm các khái niệm công cụ:
Vùng văn hóa, vùng thể loại văn hóa, tiểu vùng văn hóa, trung tâm văn hóa, tổ hợp
văn hóa, các khuynh hướng nghiên cứu trên thế giới và trong nước để làm cơ sở lý
thuyết cho việc giải quyết các nội dung nghiên cứu trong Luận án.
1.1.1. Một số khái niệm
- Vùng văn hóa
Khái niệm vùng văn hóa được đề cập lần đầu tiên trong công trình nghiên
cứu của nhà địa lý học người Đức Friedrich Ratzel (1844-1904), nhưng không cụ
thể mà nằm trong mối quan hệ với thuyết “vòng văn hóa”. Sau này được phổ biến
rộng rãi nhờ sự phát triển của các nhà nhân học Mỹ. Khái niệm này chủ yếu dùng
trong việc nghiên cứu sự phân bố không gian của các hiện tượng văn hóa và xác
định mối quan hệ qua lại giữa chúng.
Theo tác giả Alfred Kroeber (1876-1960), thì vùng văn hóa có liên hệ mật
thiết với vùng tự nhiên; ông cũng cho rằng, vùng văn hóa là một khu vực địa lý xác
định, có đặc trưng bởi sự tương đồng về phần lớn các đặc điểm văn hóa. Nhìn
chung, vùng văn hóa được định nghĩa như một khu vực địa lý, trong đó cộng đồng
dân cư khác nhau, hoặc các nền văn hóa khác nhau nhưng có đặc trưng văn hóa
giống nhau, có cùng một kiểu phương thức hoạt động hoặc có cùng một định hướng
văn hóa chủ đạo.
Có thể thấy, một số định nghĩa của các học giả phương Tây khá chung

lưu đồng hướng với nhau trong một thời gian đủ dài để tạo nên được một
hệ thống giá trị chung đặc thù cho phép khu biệt nó với các hệ thống giá
trị của những vùng có liên quan” [114, tr.47]. 13

Như vậy, định nghĩa của tác giả Ngô Đức Thịnh và Huỳnh Khái Vinh có nhiều
điểm tương đồng, khá chi tiết nên thiếu tính khái quát và rất khó sử dụng. Khái niệm
của tác giả Trần Quốc Vượng mang tính khái quát cao, nhưng rất khó xác định hệ tiêu
chí để xác định vùng văn hóa. Riêng tác giả Trần Ngọc Thêm, khái niệm vùng văn
hóa cụ thể hơn. Trong khái niệm có thể thấy được hệ tiêu chí và dễ vận dụng vào thực
tiễn. Nhưng cũng cần xác định, không có hệ tiêu chí bất biến, hay hệ tiêu chí áp dụng
cho tất cả việc phân vùng văn hóa của các tác giả khác. Việc phân vùng văn hóa phần
nhiều dựa vào các kết quả nghiên cứu chủ quan của người thực hiện.
- Vùng thể loại văn hóa
Là vùng mà ở đó từng thể loại văn hóa biểu hiện tính tương đồng, tính
thống nhất của mình thông qua nội dung, kết cấu, các sắc thái biểu hiện,
phương thức lưu truyền…không nhất thiết tất cả các thể loại văn hóa đều
phân bố theo vùng hay thể hiện rõ nét đặc trưng “vùng” của mình, mà đó
thường là các thể loại văn hóa tiêu biểu, một hiện tượng văn hóa mang
tính tổng thể, gắn liền với sinh hoạt văn hóa cộng đồng của cư dân các
dân tộc sinh sống trong vùng [115, tr.100].
Các vùng thể loại thường mang những biểu hiện tương đối đặc trưng, và tên
gọi của vùng gắn liền với biểu hiện đặc trưng ấy. Ví dụ: vùng truyền thuyết Hùng
Vương; vùng hát xoan Phú Thọ, vùng dân ca quan họ Bắc Ninh. Ở Thanh Hóa,
trong công trình nghiên cứu của TS. Mai Hồng Hải cũng đã chỉ ra một vùng thể loại
truyền thuyết và nghi lễ Lam Sơn. Đa phần vùng văn hóa phải là sự thống nhất và
tổng hợp lại giữa các vùng thể loại, tuy nhiên, không bao giờ ranh giới giữa các
vùng thể loại và vùng văn hóa trùng khít nhau. Vẫn có trường hợp vài ba vùng thể

nơi sinh sống của “các bộ lạc đặc trưng” và chính vùng văn hóa hình thành như là
vùng ảnh hưởng của trung tâm văn hóa” [115, tr.40]. Các tác giả cũng nhấn mạnh:
Nếu nhìn văn hóa từ khía cạnh hình thái, thì văn hóa trung tâm bao giờ
cũng biến đổi mạnh hơn văn hóa xa trung tâm, tạo nên một hiện tượng
trong văn hóa học gọi là “hóa thạch ngoại vi” để chỉ những hiện tượng
bảo lưu các dạng cổ của văn hóa ngoại vi so với những biến đổi nhanh
của vùng trung tâm [115, tr.40].
Ở công trình Bản sắc văn hóa vùng ở Việt Nam có đề cập đến khái niệm trung
tâm và vai trò của trung tâm, và tác giả luận án đồng thuận với quan điểm này. Trước
tiên cần xác định rõ, trung tâm không phải là một cấp độ của phân vùng. Tùy theo cấp 15

độ là miền, khu vực, vùng… mà trung tâm rộng hẹp khác nhau. Ví dụ, ở tiểu vùng văn
hóa Thăng Long - Hà Nội thì 36 phố phường được coi là trung tâm. Điều này có
nghĩa, một vùng nào đó trong các vùng đóng vai trò trung tâm (có nghĩa chức năng
của nó là trung tâm của vùng chứ không phải là cấp độ để phân vùng). Như vậy,
trung tâm có thể là một vùng, một làng, một đô thị… điều đó phụ thuộc vào vị trí của
nó trong phạm vi toàn vùng mà nó đóng vai trò. Cũng cần xác định là, trung tâm
không phải là vị trí ở giữa. Để trở thành trung tâm của một vùng văn hóa, thường đó
là vị trí mang đậm sắc thái văn hóa đặc trưng. Theo quy luật phát triển kinh tế - xã hội
cũng như văn hóa không bao giờ dàn đều, mà thường từ các trung tâm rồi lan tỏa và
phổ biến rộng ra các nơi xung quanh. Trung tâm thường là nơi phát sinh, nâng cao,
tiếp nhận các giá trị và tinh hoa văn hóa rồi từ đó lan tỏa đi khắp nơi theo quy luật lan
truyền văn hóa. Như vậy, trung tâm thường là nơi có điều kiện kinh tế - chính trị - xã
hội phát triển, là đầu mối giao lưu và nơi tập trung những người tài trí.
- Tổ hợp văn hóa
Một lần nữa trong các công trình Con người và văn hóa và Mối quan hệ giữa
thiên nhiên và con người ở châu Mỹ bản xứ tác giả C.L.Wisler có đề cập đến khái

biệt phát triển, có ba trường phái đỉnh cao, các trường phái này đã được tác giả Ngô
Đức Thịnh tổng thuật khá đầy đủ trong luận án tiến sĩ sử học của mình, bảo vệ năm
1980 tại Moskva và công bố trong tài liệu [115].
- Thuyết “khuyếch tán văn hóa” ở Tây Âu vào cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ
XX. Thuyết này ra đời để giải thích hiện tượng tương đồng văn hóa không hoàn
toàn đồng nhất. Trong thuyết này xuất hiện ba trường phái với các xu hướng nghiên
cứu khác nhau: Trường phái văn hóa - lịch sử ở Đức và Áo quan tâm đến các khái
niệm “khu vực văn hóa”, “vòng văn hóa”. Trường phái “Age and area” (trường phái
không gian và thời gian), quan tâm đến ý nghĩa của sự truyền bá văn hóa. Trường
phái truyền bá văn hóa ở Anh lại đánh giá cao vai trò truyền bá văn hóa lịch sử nhân
loại. Các đại diện là F.Ratzel, I.Frobenius, F.Grabner, W.Schimidt.
- Lý thuyết “vùng văn hóa” trong nhân chủng học Mỹ ra đời như một bước
đột phá ở cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Một mặt, lý thuyết này chống lại quan
điểm tiến hóa của L.Morgan và E.Taylor; mặt khác, nó cũng phê phán những quan
điểm “vòng văn hóa”, “khuyến tán văn hóa” cực đoan của các nhà nghiên cứu Tây
Âu. Trên cơ sở nghiên cứu khá tường tận về người da đỏ châu Mỹ, các nhà nhân 17

chủng học Mỹ đã đưa ra lý thuyết “vùng văn hóa”, “loại hình văn hóa” và "trung
tâm văn hóa" mà đại diện tiêu biểu là C.L.Wisler. Ông cho rằng, nghiên cứu các
vùng văn hóa nhất thiết phải bắt đầu từ việc phân tích một tổ hợp các yếu tố văn
hóa, rằng không thể nhìn nhận riêng rẽ từng yếu tố một, chúng hợp thành một thể
thống nhất không thể chia cắt, và đó chính là kết quả của quá trình lâu dài nhóm dân
cư ấy thích ứng với những điều kiện của môi trường sinh thái. Đây là một bước tiến
mới mang tính lý luận và phương pháp nghiên cứu về vùng văn hóa.
- Các nhà nghiên cứu dân tộc học Xô Viết đã kế thừa trên bình diện rộng lớn
hơn, đã bàn tới vấn đề nghiên cứu liên văn hóa. Từ những năm 30 của thế kỷ XX,
trong một số công trình của S.P.Tônxtop và A.M.Dôlôrarep đã đề cập đến vấn đề

sử lâu dài, giữa họ có những giao lưu, ảnh hưởng khăng khít với nhau, từ
đó hình thành nên những yếu tố văn hóa chung thể hiện trong văn hóa vật
chất cũng như văn hóa tinh thần (N.N.Trêbôcxarốp - I.A.Trêbôcxarốpva,
1971) [115, tr.57]
Nếu trong lý thuyết loại hình kinh tế - văn hóa, tính tương đồng về điều kiện
môi trường tự nhiên và trình độ phát triển xã hội là điều kiện tiên quyết để hình
thành nên những đặc trưng chung về kinh tế và văn hóa, thì vùng văn hóa - lịch sử
thường có những tương đồng: về môi trường địa lý; những mối quan hệ nguồn gốc
và lịch sử giữa các tộc người; đặc trưng văn hóa của vùng là những yếu tố văn hóa
gắn bó hữu cơ với nhau thể hiện rõ trong văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần. Đối
với các dân tộc còn ở trình độ tiền công nghiệp thì văn hóa dân gian (folklore) thể
hiện rõ nét và cơ bản những sắc thái văn hóa đặc trưng cho vùng văn hóa - lịch sử.
Phạm vi không gian văn hóa lớn hơn vùng là miền hay khu vực. Cấp bậc hẹp
hơn vùng là tiểu vùng. Dưới vùng và tiểu vùng còn có thể phân ra nhỏ hơn nữa tùy
thuộc vào thực tế mỗi vùng văn hóa - lịch sử. Trong thực tế, khi phân cấp các vùng
văn hóa - lịch sử, phạm vi các vùng càng nhỏ, thì khả năng trùng hợp càng lớn hơn.
Sự khác biệt giữa loại hình kinh tế - văn hóa và vùng văn hóa - lịch sử cũng
được phân biệt rõ ràng: Nếu vùng văn hóa - lịch sử là một không gian địa lý liên
tục, liền khoảnh thì loại hình kinh tế - văn hóa có thể bao gồm trong đó nhiều vùng
đất thuộc những vùng địa lý và đại lục khác nhau.
Tuy còn những ảnh hưởng nhất định thuyết “khuyếch tán văn hóa” ở Tây Âu,
lý thuyết vùng văn hóa của các nhà nhân học Mỹ, các nhà dân tộc học Xô Viết đã
nhận ra và mở rộng hơn việc nhìn nhận các hiện tượng văn hóa trong mối quan hệ 19

với cơ sở kinh tế - xã hội và trong quá trình phát triển lịch sử của mỗi dân tộc, mỗi
vùng, từ đó đi vào lý giải các hiện tượng văn hóa, các vùng văn hóa - lịch sử một
cách thuyết phục. Lý thuyết này đã giúp cho tác giả luận án có hướng đi rõ nét hơn

- GS Đinh Gia Khánh và Cù Huy Cận [51] có quan điểm phân vùng văn hóa
dựa trên các giá trị văn hóa dân gian tiêu biểu, từ yếu tố cộng đồng làng xã đến dân
tộc, khu vực.
- GS.TS Ngô Đức Thịnh [115] coi vùng văn hóa là dạng thức của không gian
văn hóa. Không gian văn hóa như là một không gian địa lý xác định, mà ở đó một
hiện tượng hay một tổ hợp hiện tượng văn hóa nảy sinh, tồn tại, biến đổi và chúng
liên kết với nhau như một hệ thống.
- GS.TSKH Trần Ngọc Thêm [114] và GS Trần Quốc Vượng [145] khi
nghiên cứu và xác định không gian văn hóa đều thống nhất hai vấn đề chính theo
hướng nghiên cứu địa - văn hóa: Một là, xác định không gian văn hóa dựa trên cơ
sở hệ thống các giá trị văn hóa được tích hợp cả về không gian và thời gian làm nổi
bật lên các giá trị văn hóa cốt lõi của một điểm, một khu vực theo cương vực địa lý,
dân cư, lãnh thổ tự nhiên. Hai là, xác định không gian văn hóa dựa trên những giá
trị cốt lõi văn hóa của “vùng” được phổ biến lan tỏa, trong một không gian nhất
định có chung những mẫu số về giá trị văn hóa, tạo ra một trường văn hóa mang
tính tương đối đồng dạng.
Điểm thống nhất ở các quan điểm trên, để trở thành một vùng văn hóa cần có
những giá trị đặc trưng (nổi trội) phản ánh của một trường văn hóa và biểu hiện như
một không gian văn hóa với những giá trị đồng dạng. Đã có nhiều công trình nghiên
cứu về vùng văn hóa, không gian văn hóa Việt Nam như: Văn hóa vùng châu thổ
sông Hồng; vùng văn hóa Nghệ Tĩnh, vùng văn hóa Bình - Trị - Thiên, vùng văn hóa
đồng bằng sông Cửu Long, vùng văn hóa Tây Bắc, vùng văn hóa Việt Bắc, vùng văn
hóa Tây Nguyên đã cho thấy tính đặc thù của mỗi vùng văn hóa khi xác định.
Đồng thời, khi xác định vùng văn hóa cũng cần thiết xem xét thêm yếu tố hành
chính. Bởi vì ở mọi thời đại, khi phân chia địa giới hành chính từ xã, phường, huyện,
tỉnh… đều rất chú trọng về yếu tố địa - văn hóa, địa - chính trị của các vùng đất ấy.
1.1.3. Hệ tiêu chí xác định vùng văn hóa
Phân vùng văn hóa luôn đi liền với nhận thức về văn hóa vùng, đó là cách
người nghiên cứu “áp đặt” tư duy chủ quan vào thực tế văn hóa mang tính khách
quan. Xét về phương diện phân loại trong khoa học, việc phân vùng văn hóa chính

mặt của đời sống văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần. Trong đó, đặc trưng hơn cả
là lối sống, nếp sống như: nếp làm, nếp ăn mặc, đi lại, giao tiếp, vui chơi, giải trí,
phong tục, lễ nghi, tín ngưỡng, lễ hội, qua các hoạt động văn hóa, nghệ thuật
Nhìn theo phương pháp tiếp cận hệ thống thì trong nhiều nhân tố tác động để
hình thành nên vùng văn hóa hay vùng thể loại, thường có nhân tố chủ đạo gọi đó là 22

nhân tố tạo hệ thống. Phần lớn các trường hợp là quan hệ giao lưu, ảnh hưởng văn
hóa giữa các dân tộc, các bộ phận dân cư nội vùng và ngoại vùng, giữa các dân tộc,
khu vực đã có từ rất sớm, ngay trong xã hội nguyên thủy cũng có vai trò to lớn đối
với sự hình thành, phát triển của văn hóa nhân loại. Tuy nhiên, cũng không cực
đoan tới mức quy tất cả sự tiến bộ văn hóa vào sự phát tán văn hóa từ một trung
tâm, phủ nhận tính sáng tạo địa phương và dân tộc như trường phái “phát tán văn
hóa” đã từng chủ trương, cũng như tránh phái cực đoan khác là quá nhấn mạnh vai
trò bản địa, phủ nhận giao lưu, ảnh hưởng văn hóa.
Trong phân loại cũng như phân vùng nói chung, bao giờ cũng có các cấp bậc
từ rộng đến hẹp, từ chung tới riêng, làm sao các cấp bậc ấy bao chứa, phản ánh
được các sắc thái phong phú đa dạng của vùng văn hóa. Trong một số công trình
văn hóa đã đưa ra các cấp bậc phân vùng văn hóa rộng hẹp như: miền, khu vực, tiểu
khu vực, vùng, tiểu vùng.
Tương ứng với mỗi cấp bậc phân loại như vậy lại tập hợp các tiêu chí phân
vùng ở phạm vi chung và riêng khác nhau. Ví như, đồng bằng châu thổ Bắc Bộ
khác với Tây Nguyên bằng một tập hợp các đặc trưng văn hóa khá rõ nét. Tuy
nhiên, trong bản thân nội vùng Tây Nguyên hay đồng bằng châu thổ Bắc Bộ cũng
không phải là thuần nhất mà có sắc thái tiểu vùng riêng.
Trên cơ sở khái niệm vùng văn hóa và những luận thuyết nêu trên, có thể
nhận thấy, để xác định một vùng văn hóa cần có một hệ tiêu chí, cụ thể: (1) Có
không gian địa lý liên tục, liền khoảnh, (2) Có tính tương đồng về môi trường, cảnh

Về nguyên tắc chung, vùng văn hóa không hoàn toàn là vùng địa lý, càng
không phải là vùng hành chính, bởi thế, ranh giới của nó không trùng với vùng hành
chính. Tuy nhiên, khi xem xét vùng văn hóa, nhất là các thành tố tác động tới vùng
văn hóa không thể không kể đến tác nhân quyền lực hành chính. Một mặt nó góp
phần cào bằng khác biệt văn hóa trong phạm vi nó phát huy ảnh hưởng. Mặt khác,
không phải nó không góp phần tạo nên sự khác biệt văn hóa giữa vùng hành chính
này với vùng hành chính khác.
1.2. Lý thuyết về DSVH

1.2.1. Khái niệm về DSVH
Trước khi bàn khái niệm DSVH, cần nhìn lại thuật ngữ văn hóa. Trong lời
giới thiệu cuốn sách Nghiên cứu văn hóa: lý thuyết và thực hành do Viện Văn hóa
Nghệ thuật Việt Nam dịch từ công trình của Chirs Barker viết:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status