LUẬN VĂN: Nghiên cứu, khảo sát Di Sản Văn Hóa vùng đồng bằng Bắc Bộ - Pdf 15



LUẬN VĂN:

Nghiên cứu, khảo sát Di Sản Văn Hóa
vùng đồng bằng Bắc Bộ
PHẦN MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
1.1. Bước sang thế kỷ XXI, xu thế tất yếu của nhiều quốc gia trên thế giới là

quốc lần thứ VIII” của Đảng đã khẳng định: “Mọi hoạt động văn hoá, văn nghệ phải
nhằm xây dựng nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng con người Việt
Nam về tư tưởng, đạo đức, tâm hồn, tình cảm lối sống, xây dựng môi trường văn hoá
lành mạnh cho sự phát triển xã hội. Kế thừa và phát huy các giá trị tinh thần, đạo đức
và thẩm mỹ, các di sản văn hoá, nghệ thuật của dân tộc. Bảo tồn và tôn tạo các di tích
lịch sử, văn hoá danh thắng của đất nước. Trong điều kiện kinh tế thị trường và mở
rộng giao lưu quốc tế, phải đặc biệt quan tâm giữ gìn và nâng cao bản sắc văn hoá dân
tộc, kế thừa và phát huy truyền thống đạo đức, tập quán tốt đẹp và lòng tự hào dân tộc.
Tiếp thu tinh hoa của các dân tộc trên thế giới, làm giàu đẹp cho nền văn hoá Việt
Nam”.
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Đảng ta tiếp tục nhấn mạnh vấn đề bảo
tồn phát huy DSVH dân tộc trong sự nghiệp phát triển văn hoá, nền tảng tinh thần của
xã hội: “Tiếp tục đầu tư cho việc bảo tồn, tôn tạo các di tích lịch sử cách mạng, kháng
chiến, các di sản văn hoá vật thể và phi vật thể của dân tộc, các giá trị văn hoá nghệ
thuật, ngôn ngữ, thuần phong mỹ tục của cộng đồng các dân tộc. Bảo tồn và phát huy
văn hoá, văn nghệ dân gian. Kết hợp hài hoà việc bảo vệ, phát huy các di sản văn hoá
với các hoạt động phát triển kinh tế du lịch”.
Xuất phát từ quan điểm đường lối của Đảng, việc thực hiện đề tài nghiên cứu
Bảo tồn và phát huy di sản văn hoá thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH (qua thực tế một số
tỉnh đồng bằng Bắc Bộ)” là một hoạt động có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc và ý nghĩa thời
sự cấp bách đối với các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ nói riêng, đối với các vùng miền cả
nước nói chung.
1.3. DSVH vùng đồng bằng Bắc Bộ có vị trí trọng yếu trong toàn bộ không gian
DSVH phía Bắc nước ta - một vùng văn hoá lâu đời, tiêu biểu cho văn hoá dân tộc Việt
Nam từ ngàn xưa, bao gồm nhiều tiểu vùng văn hoá mở rộng theo đồng bằng Bắc Bộ,
trải dài theo sông Hồng cùng với hệ thống sông ngòi phía Bắc và vùng châu thổ rộng
lớn.
Nghiên cứu, khảo sát DSVH vùng đồng bằng Bắc Bộ sẽ giúp chúng ta khai thác,
tiếp cận những vỉa tầng quan trọng hàng đầu của văn hoá Việt Nam trong tiến trình lịch
sử. Đây là một trong những “địa chỉ” trọng điểm cất giữ những vẻ đẹp tinh hoa nhất, cốt

mối quan hệ, vai trò của hoạt động bảo tồn, phát huy DSVH với quá trình đẩy mạnh
CNH, HĐH, hướng tới mục tiêu phát triển kinh tế và xây dựng nền văn hóa Việt Nam
tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc ở vùng đồng bằng Bắc Bộ hiện nay.
- Khảo sát, điều tra, nghiên cứu, đánh giá thực trạng công tác bảo tồn, phát huy
các DSVH vật thể, DSVH phi vật thể tại một số tỉnh vùng đồng bằng Bắc Bộ (chủ yếu
là ở Hà Nội, Hà Tây cũ, Hải Dương và Bắc Ninh) trên các mặt thành tựu, hạn chế, tìm
ra những nguyên nhân dẫn đến thực tiễn đó.
- Đề xuất phương hướng và một số giải pháp, kiến nghị nhằm bảo tồn và phát
huy DSVH vùng đồng bằng Bắc Bộ trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH, đóng góp
những tư liệu cần thiết để hoàn thiện thêm chính sách bảo tồn và phát huy DSVH dân
tộc phù hợp với những đòi hỏi từ thực tiễn của đồng bằng Bắc Bộ nói riêng, trong phạm
vi cả nước nói chung.
- Qua nghiên cứu, đề tài bước đầu giới thiệu kinh nghiệm thành công của một số
quốc gia trên thế giới về lĩnh vực bảo tồn phát huy DSVH trong phát triển kinh tế xã hội
hiện nay.
3. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
3.1. Cơ sở lý luận
- Trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê nin, Tư tưởng Hồ Chí Minh,
quan điểm, đường lối của Đảng cộng sản Việt Nam về văn hoá, đề tài tiếp cận một cách
có hệ thống những tiền đề lý luận về DSVH, về bảo tồn di sản văn hoá và phát huy
DSVH.
- Theo đó, đề tài nghiên cứu, vận dụng hợp lý những thành tựu về lý luận DSVH
của thế giới đương đại vào thực tiễn nghiên cứu như:
+ Quan niệm của UNESCO về văn hoá và DSVH, về kế thừa, bảo tồn và phát
huy DSVH, về vai trò chức năng của DSVH đối với việc lựa chọn mô hình phát triển
của văn hoá mỗi dân tộc.
+ Những thành tựu về lý thuyết vùng văn hoá và tiểu vùng văn hoá của giới

như thực tiễn.
* Những thành tựu nghiên cứu lý luận về văn hoá và di sản văn hoá
Vào thời gian nửa sau thế kỷ XX, các tổ chức quốc tế như UNESCO, UNDP đều nỗ
lực nghiên cứu đánh giá tiềm năng quá khứ của nhân loại, đặc biệt là về di sản văn hoá.
UNESCO chia di sản văn hoá thành hai loại: di sản “văn hóa vật thể” (tangible culture) và di
sản “văn hoá phi vật thể” (nonphysicalculture).
Trên thế giới nhiều học giả đã nghiên cứu khái niệm Di sản văn hoá (Cultural
heritage). Abraham Moles quan niệm DSVH như một “mã di truyền xã hội”, một thứ
“ký ức tập thể”. Feredico Mayor hình dung DSVH như một “hệ thống các giá trị”,
những nhân tố hình thành nên bản sắc văn hoá dân tộc.
Người Nhật quan niệm giá trị văn hoá như một thứ tài sản - “tài sản văn hoá”
(Cultural propeties) và họ chia di sản văn hoá thành hai loại: tài sản văn hoá “hữu hình”
và tài sản văn hoá “vô hình”. Các thuật ngữ vật thể, phi vật thể, vô hình, hữu hình giờ
đây được sử dụng rộng rãi trên thế giới khi nói về di sản văn hoá.
Trong Hội nghị quốc tế “Bảo vệ di sản văn hoá vật thể và phi vật thể: Hướng đến
Phương pháp tiếp cận tổng thể” tổ chức tại Nara, Nhật Bản từ 19 đến 23/10/2004,
Tuyên bố Yamato về Phương pháp tiếp cận tổng thể trong bảo vệ di sản văn hoá vật thể
và phi vật thể đã được thông qua. Với bản Tuyên bố này, các quan niệm về DSVH đã
được nhân loại định nghĩa cụ thể trên phương diện lý luận theo Công ước và Quy chế
của UNESCO. Đây là những quan niệm cụ thể nhằm giúp nhận diện một cách đúng đắn
khoa học về DSVH vật thể và phi vật thể trên thế giới.
Ở nước ta, nghiên cứu về DSVH trước tiên phải kể đến công trình Việt Nam Văn
hoá sử cương của học giả Đào Duy Anh từ năm 1938 với quan điểm : “Ta muốn trở
thành một nước cường thịnh về vật chất, vừa về tinh thần thì phải giữ văn hoá cũ (di
sản) làm thể (gốc, nền tảng); mà lấy văn hoá mới làm dụng nghĩa là phải khéo điều hoà
tinh tuý của văn hoá phương Đông với những điều sở trường về khoa học của văn hoá
phương Tây”.

hiện nay. Tác giả bài báo đã đề cập đến những vấn đề lý luận và thực tiễn của công tác bảo
tồn phát huy DSVH trên phạm vi cả nước.
Cùng hướng nghiên cứu này, Ngô Phương Thảo viết bài Bảo vệ di sản, cuộc
chiến từ những góc nhìn đăng ở Tạp chí Văn hoá nghệ thuật số 289 tháng 07/2008. Bài
viết đã đề cập trực tiếp đến vấn đề bảo vệ DSVH hiện nay. Theo tác giả thì “Mỗi ngày,
di sản văn hoá càng đối mặt với nhiều nguy cơ, xuất phát từ những hệ lụy của cuộc sống
hiện đại. Cũng mỗi ngày, ý thức về trách nhiệm phải gìn giữ các giá trị văn hoá đã tồn
tại với thời gian càng lan toả sâu rộng trong toàn xã hội, trong mỗi cộng đồng để dẫn tới
những chương trình dự án ngày càng có hiệu quả hơn trong việc gìn giữ các giá trị văn
hoá vật thể và phi vật thể”.
* Những công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề bảo tồn và phát huy di
sản văn hoá đồng bằng Bắc Bộ.
Gần đây xuất hiện một số công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài như Vai
trò của văn hoá trong Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá nông thôn vùng đồng bằng sông
Hồng do PGS, TS Lê Quý Đức chủ biên (do NXB Văn hoá Thông tin - Viện Văn hoá,
Hà Nội xuất bản năm 2005). Đây là một công trình khảo sát khá sâu rộng công phu về
văn hoá nông thôn đồng bằng sông Hồng, trong đó đề cập đến lĩnh vực DSVH trong
thời kỳ CNH, HĐH. Võ Quang Trọng nghiên cứu về Bảo tồn và phát huy giá trị di sản
văn hoá phi vật thể của Thăng Long Hà Nội (Đề tài khoa học cấp Nhà nước, Viện
nghiên cứu Văn hoá - Viện Khoa học Xã hội Việt Nam)
Tìm về Di sản văn hoá dân gian trong tín ngưỡng và tôn giáo ở Việt Nam (NXB
Thuận Hoá, Huế, 1996), tác giả Chu Quang Trứ đề cập đến di sản văn hoá vùng đồng bằng
Bắc Bộ trong bối cảnh chung của DSVH dân tộc.
Qua công trình Sự biến đổi của làng xã Việt Nam ngày nay ở đồng bằng sông
Hồng (NXB Khoa học xã hội, Hà Nội - sách do Tô Duy Hợp chủ biên năm 2000), người
đọc có thể tìm thấy phần nào diện mạo DSVH đồng bằng Bắc Bộ.
Sách Khảo sát thực trạng văn hoá lễ hội truyền thống của người Việt ở đồng

sông Hồng thời kỳ 1996 - 2000 (Bộ Kế hoạch - Đầu tư và Bộ Khoa học, Công nghệ và
Môi trường phát hành tháng 4/1996); Nghề thủ công mỹ nghệ đồng bằng sông Hồng -
tiềm năng, thực trạng và một số kiến nghị, (Đề tài cấp Bộ, Hà Nội, Viện nghiên cứu
Văn hoá dân gian -1999); sách Địa lý các tỉnh, thành phố Việt Nam, Phần I: Các tỉnh,
thành phố đồng bằng sông Hồng (năm 2001); Đề tài khoa học Phát triển làng nghề
truyền thống trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá do TS Mai Thế Hởn (chủ
biên) GS,TS. Hoàng Ngọc Hoà, PGS,TS. Vũ văn Phúc (đồng chủ biên) (2002); Sách
Bảo tồn và phát huy giá trị danh nhân văn hoá truyền thống Việt Nam của Diêm Thị
Đường; sách Hệ thống nông nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng của Đào Thế Tuấn và
Pascal Bergeret; Văn hoá Thăng Long - Hà Nội hội tụ và toả sáng của GS,TS. Trần Văn
Bính (chủ biên); Thực trạng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn Việt
Nam của Nguyễn Sinh Cúc - Lê Mạnh Hùng; Sách Cơ cấu tổ chức làng Việt cổ truyền ở
Bắc Bộ của tác giả Trần Từ; sách Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông
thôn các nước và Việt Nam của Nguyễn Điền (1997); Số liệu thống kê về cơ sở hạ tầng
của nông thôn Việt Nam, NXB Thống kê (2005) v.v
Nhận xét chung
- Phần lớn các công trình nghiên cứu và tư liệu trên đây đều trực tiếp hoặc gián
tiếp đề cập đến DSVH và thực trạng bảo tồn phát huy DSVH vùng đồng bằng Bắc Bộ ở
nhiều góc độ lý luận và thực tiễn khác nhau.
- Dường như chưa có công trình nào nghiên cứu một cách chuyên biệt, hệ thống
và quy mô về thực trạng bảo tồn và phát huy DSVH đồng bằng Bắc Bộ trong quá trình
đẩy mạnh CNH, HĐH.
- Các công trình chủ yếu nghiên cứu về bảo tồn và phát huy DSVH thuần túy mà
chưa đề cập nhiều đến mối quan hệ giữa bảo tồn, phát huy DSVH và quá trình đẩy
mạnh CNH, HĐH ở đồng bằng Bắc Bộ với những biểu hiện phong phú, đa dạng và
phức tạp của quan hệ này.
5. Kết cấu của đề tài

Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO TỒN, PHÁT HUY DSVH
Ở ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ TRONG QUÁ TRÌNH CNH, HĐH

1.1. Lý luận chung về di sản văn hoá
1.1.1. Khái niệm “di sản văn hoá”
Từ điển Tiếng Việt định nghĩa: Di sản là cái của thời trước để lại [84, tr. 254]. Di sản văn
hoá theo nghĩa Hán Việt là những tài sản văn hóa có giá trị của quá khứ còn tồn tại trong cuộc
sống đương đại và tương lai. Di là để lại, còn lại, dịch chuyển, chuyển lại. Sản là tài sản,
là những gì quý giá, có giá trị. Di sản văn hóa được hiểu bằng sự tổng hợp của các ý
nghĩa nói trên.
Khái niệm DSVH trong tư cách là một thuật ngữ khoa học đã có một quá trình
hình thành khá lâu dài. Điều mà ít ai ngờ tới nhất, chính là thuật ngữ này lại được hình
thành và được biết đến từ cuộc cách mạng tư sản Pháp 1789. Quá trình tịch thu được tài
sản của tầng lớp quý tộc, tăng lữ, nhà thờ giáo hội để tập trung tất cả lại thành tài sản
quốc gia sau cách mạng tư sản Pháp đã dần dần hình thành khái niệm di sản. Để tránh
sự thất thoát và phá hoại loại tài sản này, nhà nước Pháp lúc bấy giờ đã tiến hành kiểm
kê, mô tả sắp xếp, phân loại các công trình lịch sử để xác định thứ tự ưu tiên nhằm khôi
phục và bảo tồn di sản quốc gia. Di sản lúc đó được hiểu như “ý niệm về một tài sản
chung, tài sản của mọi công dân, chứ không phải của riêng một ai, đó là ý niệm đã tạo
thành cái ý thức về di sản quốc gia”. [83, tr.32]
Năm 1983, Hội nghị Di sản toàn quốc của Vương quốc Anh đã định nghĩa : “di
sản là những gì thuộc về thế hệ trước giữ gìn và chuyển giao cho thế hệ hiện nay và
những gì mà một nhóm người quan trọng trong xã hội hiện nay mong muốn chuyển
giao cho thế hệ tương lai”. [56, tr.20]
Như vậy, DSVH được hiểu như là tài sản, là báu vật của thế hệ trước để lại cho
thế hệ sau. DSVH là các tài sản văn hóa như các tác phẩm nghệ thuật dân gian, các công

hóa quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của DSVH nhân
loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta. Như vậy,
bảo tồn và phát huy các giá trị DSVH là hoạt động thiết thực nhằm hướng tới xây dựng
nền văn hóa Việt Nam tiến tiến đậm đà bản sắc dân tộc và đóng góp vào việc giữ gìn và
làm phong phú cho kho tàng DSVH nhân loại.
Trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ
trương đường lối và chính sách bảo vệ và phát huy giá trị DSVH nhằm nâng cao đời
sống tinh thần của nhân dân, góp phần phát triển kinh tế xã hội của đất nước. DSVH
Việt Nam khi được bảo tồn, kế thừa và phát huy sẽ có tác dụng tích cực trong xây dựng
và phát triển văn hóa Việt Nam đương đại, kết hợp với quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH,
phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
1.1.2. Phân loại di sản văn hoá
Phân loại (classification) sự vật và hiện tượng là một trong những cách nhận
thức và thâu tóm bản chất của sự vật và hiện tượng tự nhiên, xã hội đa dạng phong phú.
Phân loại DSVH là một nhu cầu chính đáng trong nghiên cứu. Theo quan niệm của
UNESCO, DSVH bao gồm hai loại:
Di sản “văn hóa vật thể” (tangible culture) được hiểu là những sản phẩm văn hóa
có thể “sờ thấy được”. Văn hóa vật thể là một dạng thức tồn tại của văn hóa chủ yếu
dưới dạng vật thể có hình khối, có chiều cao, chiều rộng, trọng lượng, đường nét, màu
sắc, kiểu dáng tồn tại trong không gian và thời gian xác định. DSVH vật thể được tạo
tác từ bàn tay khéo léo của con người, để lại dấu ấn lịch sử rõ rệt. Văn hóa vật thể được
khách thể hóa và tồn tại như một thực thể ngoài bản thân con người. DSVH vật thể luôn
chịu sự thách thức của quy luật bào mòn của thời gian, trong sự tác động của con người
thời đại sau. DSVH vật thể luôn đứng trước nguy cơ biến dạng hoặc thay đổi rất nhiều
so với nguyên gốc. Hiện nay, vấn đề bảo tồn những DSVH vật thể lâu đời đòi hỏi công
nghệ kỹ thuật cao mới có thể phục nguyên lại như cũ.
Di sản “Văn hóa phi vật thể” (intangible culture) là dạng thức tồn tại của văn hóa

như sau:
“Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa
học, được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng truyền miệng, truyền
nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác, bao gồm tiếng nói, chữ viết,
tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối
sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công truyền thống, tri thức về y, dược học
cổ truyền, về văn hóa ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tộc và các tri thức dân
gian khác. Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa
học, bao gồm các di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật
quốc gia ( ) Giá trị đặc biệt quý hiếm của bảo vật quốc gia được thể hiện bằng các tiêu
chí sau đây:
a) Hiện vật nguyên gốc, độc bản;
b) Hình thức độc đáo;
c) Có giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hóa, khoa học thể hiện:
- Là vật chứng của một sự kiện lớn hoặc gắn bó với cuộc sống, sự nghiệp của anh
hùng dân tộc, danh nhân kiệt xuất.
- Là tác phẩm nghệ thuật nổi tiếng về giá trị tư tưởng - nhân văn, giá trị thẩm mỹ
và hình thức thể hiện tiêu biểu cho một khuynh hướng, một phong cách, một thời
đại;
- Là sản phẩm được phát minh, sáng chế tiêu biểu có giá trị thực tiễn cao, có tác
dụng thúc đẩy xã hội phát triển ở một giai đoạn lịch sử nhất định;
d) Được Thủ tướng Chính phủ quyết định công nhận sau khi có ý kiến của thẩm
định của Hội đồng Di sản văn hóa Quốc gia” [3, tr. 46].
Như vậy, rõ ràng là DSVH phi vật thể luôn sống trong tâm trí con người, được
con người nắm giữ các tri thức về nó để trình diễn các kỹ năng thực hành biểu hiện giá
trị của nó. DSVH phi vật thể luôn đồng hành cùng con người, gắn với ký ức của con
người theo dòng lịch sử. DSVH vật thể tồn tại trong tri giác, được nhận biết thông qua

lượng, thành phần chất liệu của di sản văn hóa vật thể. Sau khi tiến hành bảo tồn nguyên
vẹn, phải so sánh đối chiếu số liệu với nguyên mẫu đã được lưu giữ chi tiết để không
làm biến dạng di sản văn hóa vật thể.
Bảo tồn văn hóa phi vật thể ở dạng “tĩnh” là tiến hành điều tra sưu tầm, thu thập
các dạng thức văn hóa phi vật thể như nó hiện có theo quy trình khoa học nghiêm túc
chặt chẽ, “giữ” chúng trong sách vở, các ghi chép, mô tả bằng băng hình (video), băng
tiếng (audio), ảnh.v.v Tất cả các hiện tượng văn hóa phi vật thể này có thể lưu giữ
trong các kho lưu trữ, các viện bảo tàng.
Bảo tồn trên cơ sở kế thừa (bảo tồn trong dạng “động”)
Bảo tồn “động”, tức là bảo tồn các hiện tượng văn hóa trên cơ sở kế thừa. Các di
sản văn hóa vật thể sẽ được bảo tồn trên tinh thần giữ gìn những nét cơ bản của di tích,
cố gắng phục chế lại nguyên trạng di sản văn hóa vật thể bằng nhiều kỹ thuật công nghệ
hiện đại. Đối với các di sản văn hóa phi vật thể, bảo tồn “động” trên cơ sở kế thừa là
bảo tồn các hiện tượng văn hóa đó ngay chính trong đời sống cộng đồng. Bởi lẽ, cộng
đồng không những là môi trường sản sinh ra các hiện tượng văn hóa phi vật thể mà còn
là nơi tốt nhất để giữ gìn, bảo vệ, làm giàu và phát huy văn hóa phi vật thể trong đời
sống xã hội theo thời gian. Các hiện tượng văn hóa phi vật thể tồn tại trong ký ức cộng
đồng, nương náu trong tiếng nói, trong các hình thức diễn xướng, trong các nghi lễ, nghi
thức, quy ước dân gian.
Văn hóa phi vật thể luôn tiềm ẩn trong tâm thức và trí nhớ của con người mà
chúng ta thường mệnh danh họ là những nghệ nhân hay là những Báu vật nhân văn
sống. Do đó bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa phi vật thể còn đồng nghĩa với việc
bảo vệ những Báu vật nhân văn sống. Đó là việc xã hội thừa nhận các tài năng dân
gian, tôn vinh họ trong cộng đồng, tạo điều kiện tốt nhất để trong hoàn cảnh có thể, để
họ sống lâu, sống khỏe mạnh, phát huy được khả năng của họ trong quá trình bảo tồn và
phát huy các giá trị văn hóa truyền thống. Cần phải phục hồi các giá trị văn hóa phi vật
thể một cách khách quan, sáng suốt, tin cậy, chứ không thể chủ quan tùy tiện. Tất cả

có nhiều bài học kinh nghiệm mà Việt Nam có thể tham khảo.
Khi tiến hành mở cửa với phương Tây, Nhật Bản vẫn là một quốc gia lạc hậu
hàng thế kỷ so với các nước đã công nghiệp hoá. Với điều kiện như vây, người Nhật đã
huy động mọi tiềm năng sức mạnh dân tộc để phát triển đất nước. Những giá trị văn hoá
truyền thống đã trở thành lực cố kết sức mạnh của toàn dân tộc cho mục tiêu hiện đại
hoá đất nước. DSVH đã được người Nhật quan niệm và đối xử như một tài sản đặc biệt
quan trọng - tài sản văn hoá. Ở thời kỳ đầu, những thành tựu của văn minh phương Tây
đã hấp dẫn người Nhật, khuynh hướng Tây hoá ồ ạt đã làm cho không ít thành tựu văn
hoá truyền thống bị mai một. Cũng trong giai đoạn này, Nhật Bản đã phá huỷ nhiều
công trình kiến trúc lịch sử và chùa chiền liên quan đến Phật giáo và nghệ thuật truyền
thống. Hiện tượng này chấm dứt khi đạo luật về bảo tồn di sản văn hoá ra đời năm
1897. Kể từ đấy, các yếu tố bản địa được phục hồi với tất cả vẻ đẹp độc đáo của nó
trong một định hướng giá trị mới, biểu tượng cho tinh hoa dân tộc.

Đối với Nhật Bản,
quan niệm di sản văn hoá là tài sản văn hoá không chỉ dừng lại ở nhận thức mà còn
được cụ thể hoá trong những đạo luật, chính sách văn hoá, nổi bật nhất là Bộ luật bảo
tồn các tài sản văn hoá được ban hành vào những năm 80 của thế kỷ trước. Bộ luật ra
đời nhằm thực hiện bảo tồn di sản văn hoá trên cơ sở xác lập quyền sở hữu và bảo trợ
của nhà nước. Trong đó, Bộ luật quy định rõ, mọi tài sản văn hoá đều thuộc quyền sở
hữu của các công dân, các cơ quan sự vụ, các tổ chức chính phủ và phi chính phủ.
Quyền sở hữu của chủ sở hữu đối với tài sản văn hoá bao gồm quyền chiếm hữu,
quyền sử dụng và quyền định đoạt. Việc công nhận quyền của các chủ sở hữu được
đảm bảo bằng một “Giấy chứng nhận” do Bộ trưởng Bộ Giáo dục cấp. Bộ luật cũng
quy định rõ, chính phủ và các cấp chính quyền địa phương phải tôn trọng quyền của
các chủ sở hữu và quyền sở hữu của những người hữu quan. Như vậy, từ một khái
niệm triết học (di sản văn hoá), các vật thể mang các giá trị văn hoá được gọi là tài
sản văn hoá (thuật ngữ luật học) có thể sở hữu. Khi di sản văn hoá được công nhận là
tài sản văn hoá sẽ tạo nên chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức và hành động nhằm
bảo tồn và phát huy các di sản văn hoá. Bởi vì, việc bảo tồn và khai thác tài sản văn

sản văn hóa thành nguồn tài nguyên quí giá phục vụ cho công cuộc xây dựng đất nước.
Kinh nghiệm của Nhật Bản về vai trò chủ đạo của nhà nước trong công tác bảo tồn và
khai thác các DSVH là một bài học quý cho nước ta trong quá trình phát triển hiện nay.
Một bài học kinh nghiệm nữa của Nhật Bản trong việc bảo tồn, khai thác các
DSVH là phải có một bộ máy hành chính có tính chuyên biệt và thống nhất cao, tạo
điều kiện thuận lợi cho việc triển khai, chỉ đạo và giám định thi hành pháp luật. Cục
Văn hoá Nhật Bản là cơ quan duy nhất có chức năng pháp lý điều hành các hoạt động
bảo tồn và phát huy DSVH từ Trung ương đến địa phương. Cơ quan này có nhiệm vụ
phổ biến văn hoá, bảo tồn và sử dụng các tài sản văn hoá, cũng như thực hiện việc quản
lý nhà nước liên quan đến tôn giáo với sự cộng tác của các cơ quan chính phủ hữu quan.
Người đứng đầu Cục Văn hóa Nhật bản có quyền tiến hành hoặc đình chỉ mọi hoạt động
bảo tồn và khai thác DSVH trong trường hợp cần thiết, theo quy định của pháp luật.
Nếu chính quyền các địa phương các cấp muốn tiến hành hoạt động bảo tồn và khai thác
DSVH, phải được uỷ quyền của Cục Văn hoá. Ngân sách cho những hoạt động của Cục
Văn hoá cũng không ngừng tăng theo các năm.
Như vậy, cách thức tổ chức của Cục Văn hoá Nhật Bản và ngân sách dồi dào
của chính phủ nước này đã giúp cho bộ máy điều hành triển khai các hoạt động bảo tồn
và khai thác DSVH một cách hiệu quả.
Ở Việt Nam, mặc dù đã có Luật Di sản Văn hoá nhưng trên thực tế, nhiều vấn đề
"nóng" như lấn chiếm di tích, trộm cắp cổ vật hay thiếu một quy hoạch tổng thể để bảo
tồn vẫn là những "bài toán khó" mà bao năm nay vẫn chưa tìm được lời giải. Những bài
học của Nhật Bản trên đây có thể là kinh nghiệm quý, góp phần giải quyết những vấn đề
còn tồn tại trong công tác bảo tồn DSVH nước ta.
* Khai thác các giá trị của văn hoá truyền thống trên cơ sở gắn với đời sống
hiện đại
Bảo tồn DSVH không chỉ là cất giữ cho khỏi mất tài sản, để giữ gìn bản sắc dân
tộc hoặc tự ca ngợi mình. Bài học kinh nghiệm của Nhật Bản, Trung Quốc là chủ

chuyển từ cơ quan nhà nước sang nhân dân. Sự hợp tác rộng rãi của các lực lượng toàn
xã hội trong hoạt động khai thác tài sản văn hoá đã làm tăng lên mạnh mẽ sức sống của
những giá trị truyền thống. Với các hình thức tồn tại khác nhau, được khai thác từ
những mối quan tâm khác nhau, vô số tài sản văn hoá từ truyền thống đã hoá thân vào
cuộc sống hiện tại, trở thành một bộ phận quan trọng và gần gũi với đời sống cộng
đồng.
Ở Trung Quốc, bên cạnh việc hoàn thiện pháp chế về bảo vệ các DSVH lịch sử,
thực hiện phân cấp bảo vệ văn vật, nhà nước yêu cầu các cấp chính quyền đưa việc bảo
vệ văn vật vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, vào quy hoạch xây
dựng thành thị và nông thôn, vào ngân sách, vào cải cách thể chế; đồng thời cũng nhấn
mạnh nghĩa vụ bảo vệ của cộng đồng, huy động lực lượng của toàn xã hội tham gia
công tác bảo vệ văn vật.
Trong quá trình đẩy mạnh hội nhập thế giới, Trung Quốc đặc biệt chú trọng thúc
đẩy việc bảo vệ DSVH thông qua giáo dục cộng đồng. Đề cương về chương trình: “Mỗi
người đều có trách nhiệm bảo vệ di sản văn hóa của đất nước” do Bộ Văn hóa và Cục
Di sản đã công bố từ năm 1989, được quán triệt và thực hiện trong cả nước. Các viện
bảo tàng, nhà tưởng niệm và các cơ quan bảo vệ DSVH đã mở cửa đón công chúng và
cung cấp nhiều chương trình về bảo vệ DSVH. Các phương tiện thông tin đại chúng
thường xuyên đề cập nhiều tới tầm quan trọng và giá trị lịch sử, thẩm mỹ và khoa học
của DSVH Trung Quốc. Nhiều tờ báo lớn đã có chuyên mục về luật bảo vệ DSVH.
Chính phủ Trung Quốc đã xác định: những tài sản văn hoá là do nhân dân tạo nên, chỉ
khi nào bản thân tài sản ấy được nhân dân nhận thức đúng đắn, khi ấy nó mới có những
giá trị đích thực. Đặc biệt từ sau khi gia nhập WTO, công tác bảo tồn, phát huy và
quảng bá DSVH dân tộc của Trung Quốc càng được coi trọng. Trong Báo cáo Chính trị
của Đại hội 17, Tổng bí thư Hồ Cẩm Đào đã chỉ rõ, Trung Quốc sẽ đẩy mạnh bảo tồn
văn hoá trong quá trình xây dựng một xã hội thịnh vượng hài hoà trên tất cả các lĩnh
vực. Có thể nói, đây là lần đầu tiên, vấn đề bảo tồn văn hoá được đưa vào một văn kiện

Noh ra nc ngoi hc tp, gii thiu vừ thut Nht Bn ra nc ngoi. Nht Bn ó n
lc truyn bỏ cỏc hot ng ngh thut tuyn thng ca mỡnh ra khp th gii, u t
nhiu tin ca cho n lc y mnh cỏc mi quan h trao i, hp tỏc quc t v vn
hoỏ. ú l thc hin cỏc trin lóm ti sn vn hoỏ Nht Bn ti nc ngoi, t chc cỏc
liờn hoan mi cỏc on ngh thut dõn gian t cỏc nc n biu din cựng vi cỏc
nhúm nhc dõn gian Nht Bn. Qua ú, nhng giỏ tr vn hoỏ truyn thng ca Nht
Bn c truyn bỏ rng rói ra khp th gii, tr thnh ti sn chung ca vn hoỏ nhõn
loi. Trong s cỏc nc chõu , Nht Bn cú l l nc ó thnh cụng nht trong vic
xut khu cỏc hỡnh nh vn húa mang tớnh thng hiu, m mi khi nú xut hin, lp
tc khin ngi ta ngh ngay n nn vn húa Nht. ú l cỏc biu tng mang tớnh
truyn thng nh hoa Anh o, Tr o, cỏc mụn vừ thut Sumo, Judo, Karate, Kendo
1.2. Quan im, ng li ca ng, chớnh sỏch ca Nh nc v bo tn v phỏt
huy DSVH
Năm 1945, Cách mạng tháng Tám thành công, n-ớc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
ra đời. Ngay sau khi giành đ-ợc chính quyền, Đảng và Nhà n-ớc ta đã rất quan tâm
đến giữ gìn DSVH dân tộc. Ngày 23/11/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lập tức ký
và công bố Sắc lệnh số 65/SL về bảo tồn cổ tích trên toàn cõi Việt Nam.
Ngày 29/10/1957, Nghị định số 519-TTg về bảo vệ di tích lịch sử và danh
lam thắng cảnh do Thủ t-ớng Chính phủ công bố đã tạo điều kiện cho ngành VHTT
tiến hành kiểm kê phổ thông các di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh ở
các tỉnh và thành phố toàn miền Bắc; giúp bảo vệ những di tích quan trọng nhất
của đất n-ớc nh- Đền Hùng, Cổ Loa, Văn Miếu, Đình Tây Đằng, Bãi Cọc Bạch Đằng;
xây dựng đ-ợc hệ thống bảo tàng Cách mạng Việt Nam, Bảo tàng Quân đội, Bảo
tàng Hải Phòng, Bảo tàng Việt Bắc và nhiều bảo tàng khác ở cơ sở. Pháp lệnh bảo
vệ và sử dụng di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh do Hội đồng Nhà n-ớc công bố
ngày 31/3/1984, đã chứng tỏ sự quan tâm của Đảng và Chính phủ đối với công tác giữ
gìn DSVH của dân tộc. Những Nghị định, Pháp lệnh này thể hiện quan điểm của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status