1
bộ y tế Báo cáo kết quả nghiên cứu đề tài cấp Bộ
nghiên cứu Tác nhân
vi sinh vật gây bệnh và kết quả
phòng chống viêm loét giác mạc
tại vùng đồng bằng Bắc bộ Chủ nhiệm đề tài: TS. Hoàng Năng Trọng
Cơ quan chủ trì đề tài: Trờng Đại học Y Thái Bình
7413
22/6/2009
Trong đó kinh phí SNKH: 157.800.000 đồng
Nguồn khác: Không
Năm 2008 3Báo cáo kết quả nghiên cứu đề tài cấp Bộ
nghiên cứu Tác nhân
vi sinh vật gây bệnh và kết quả
phòng chống viêm loét giác mạc
tại vùng đồng bằng Bắc bộ
TKMX Trùc khuÈn mñ xanh
TK Trùc khuÈn
VLGM Viªm loÐt gi¸c m¹c
5
Mục lục
Trang
A. Tóm tắt và đánh giá các kết quả của đề tài
B. Nội dung báo cáo chi tiết kết quả nghiên cứu
Đặt vấn đề
Phần 1: Tổng quan
1. Bệnh viêm loét giác mạc
1.1. Cơ sở giải phẫu sinh lí giác mạc
1.2. Cơ chế bệnh sinh
1.3. Đặc điểm lâm sàng
2. Vi sinh vật gây viêm loét giác mạc
2.1. Các vi sinh vật gây viêm loét giác mạc thờng gặp
2.2. Xét nghiệm vi sinh vật phục vụ chẩn đoán và điều trị
3. Phòng chống mù loà do viêm loét giác mạc
3.1. Các yếu tố nguy cơ
3.2. Một số đặc thù của vùng đồng bằng Bắc bộ
Phần 2: Đối tợng và phơng pháp
1. Đối tợng nghiên cứu
1.1. Nghiên cứu tại bệnh viện
1.2. Nghiên cứu can thiệp cộng đồng
2. Phơng pháp nghiên cứu
2.1. Thời gian nghiên cứu
24
24
25
29
29
29
31
40
47
47
47
6
3.3. Nội dung và kết quả triển khai
3.4. Đánh giá hiệu quả can thiệp
Phần 4: Bàn luận
1. Đặc điểm lâm sàng và tác nhân vi sinh vật
1.1. Đặc điểm lâm sàng
1. 2. Kết quả xét nghiệm vi sinh vật
2. Một số đặc điểm dịch tễ học
3. Hiệu quả biện pháp can thiệp
3.1. Địa bàn can thiệp
3.2. Công tác tổ chức triển khai
3.3. Nội dung và kết quả triển khai
3.4. Đánh giá hiệu quả can thiệp
Phần 5: Kết luận
Kiến nghị
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
48
1.1. Đóng góp mới của đề tài
Viêm loét giác mạc (VLGM) do vi sinh vật hiện vẫn là một trong những
nguyên nhân gây mù loà phổ biến ở các nớc vùng nhiệt đới và các nớc đang
phát triển trong đó có Việt Nam. Vùng đồng bằng Bắc bộ từng xảy ra tình trạng
VLGM xuất hiện trên diện rộng, ảnh hởng lớn đến sức khoẻ của ngời dân, gây
hậu quả nặng nề đến hoạt động của các cơ sở y tế. Hằng năm, các cơ sở nhãn khoa
trong khu vực phải tiếp nhận điều trị hàng trăm bệnh nhân VLGM, hầu hết đã ở
giai đoạn muộn. Công tác điều trị gặp nhiều khó khăn do vấn đề xét nghiệm tìm vi
sinh vật gây bệnh còn nhiều bất cập. Tuy nhiên cho đến nay tại các tỉnh trong khu
vực vẫn cha một nghiên cứu đầy đủ và có hệ thống nào về VLGM. Việc đặt vấn
đề nghiên cứu đề tài Nghiên cứu tác nhân vi sinh vật gây bệnh và kết quả
phòng chống viêm loét giác mạc tại vùng đồng bằng Bắc bộ là cần thiết.
Đề tài có một số đóng góp mới nh sau:
- Xác định đợc một số tác nhân vi sinh vật thờng gặp trong các viêm loét
giác mạc tại các tỉnh vùng đồng bằng Bắc bộ.
- Xác định đợc tính nhạy cảm với kháng sinh của một số vi khuẩn thờng
gặp.
- Xác định đợc đặc điểm dịch tễ và lâm sàng của bệnh viêm loét giác mạc
do vi sinh vật tại các tỉnh trong khu vực.
- Xây dựng và chứng minh đợc hiệu quả các biện pháp can thiệp tại cộng
đồng góp phần hạn chế nguy cơ mù loà do viêm loét giác mạc.
1.2. Kết quả cụ thể
1.2.1. Vi sinh vật gây viêm loét giác mạc
Viêm loét giác mạc do vi sinh vật còn khá phổ biến tại vùng đồng bằng Bắc
bộ. Tỷ lệ bệnh nhân viêm loét giác mạc trong tổng số bệnh nhân bệnh nhân mắt
điều trị tại bệnh viện tỉnh dao động từ 15-20%. Qua nghiên cứu đã xác định đợc
một số nhóm tác nhân vi sinh vật gây viêm loét giác mạc thờng gặp ở vùng đồng
bằng Bắc bộ gồm:
- Vi khuẩn:
Là tác nhân gây bệnh thờng gặp nhất, có cả cầu khuẩn và trực khuẩn.
triển khai rộng rãi tại cộng đồng.
1.3. Hiệu quả về đào tạo
- Kết quả nghiên cứu của đề tài là cung cấp thông tin các tài liệu giảng dạy
của Trờng, các giáo trình, sách tham khảo về viêm loét giác mạc.
- Các cán bộ tham gia, cộng tác nghiên cứu đề tài đợc đào tạo về chuyên
môn, kỹ thuật, góp phần nâng cao chất lợng, hiệu quả công tác chẩn đoán, điều
trị, đặc biệt là về các xét nghiệm vi sinh vật.
Có 1 cán bộ Trờng Đại học Y Thái Bình sử dụng kết quả nghiên cứu của
đề tài bảo vệ thành công luận án bác sĩ chuyên khoa cấp II;
Có 6 kỹ thuật viên của Trờng Đại học Y Thái Bình và các bệnh viện các
tỉnh Thái Bình, Nam Định, Hà Nam đ
ợc tập huấn nâng cao trình độ về kỹ thuật
xét nghiệm vi sinh vật tại mắt.
1.4. Hiệu quả về kinh tế
- Các biện pháp phòng chống đợc triển khai đại trà sẽ làm giảm số bệnh
nhân, giảm chi phí điều trị, tăng ngày công lao động.
- Triển khai việc xử trí, điều trị tích cực viêm loét giác ngay tại tuyến cơ sở
sẽ hạn chế đợc các tổn thơng và biến chứng nặng, giảm tỷ lệ bệnh nhân điều trị
tại tuyến tỉnh, giảm chi phí do phải giải quyết các di chứng gây mù loà.
4
1.5. Hiệu quả về xã hội
- Viêm loét giác mạc là bệnh của ngời nông dân, sống tại các vùng nông
thôn. Nghiên cứu đã góp phần giải quyết một vấn đề sức khoẻ cộng đồng của bộ
phận dân c chủ yếu của vùng đồng bằng Bắc bộ.
Trên thực tế, kết quả đề tài đã đợc ứng dụng tại các tuyến cơ sở của địa
bàn nghiên cứu.
- Nâng cao nhận thức cho cộng đồng về một loại bệnh mắt nguy hiểm
thờng gặp, về cách xử trí ban đầu dơn giản nhng có hiệu quả trong việc phòng
chống biến chứng mù loà.
5
B. Néi dung b¸o c¸o chi tiÕt kÕt qu¶ nghiªn cøu
6
Đặt vấn đề
Viêm giác mạc do vi sinh vật (microbial keratitis) là loại bệnh mắt khá
phổ biến trên thế giới, đặc biệt là các nớc vùng nhiệt đới. Trên lâm sàng,
bệnh còn có một số tên gọi khác nh loét giác mạc (corneal ulcer), viêm
mủ giác mạc (suppurative keratitis) [78, 84, 88]. Bệnh gây nhiều biến
chứng nặng nề nh hoại tử thủng giác mạc, viêm nội nhãn , nguy cơ gây mù
lòa rất cao. Nhiều trờng hợp đợc điều trị vẫn để lại những di chứng nặng nề
nh phình giãn nhãn cầu, teo nhãn cầu và phổ biến nhất là sẹo đục giác mạc.
Trên thế giới, VLGM còn lu hành chủ yếu ở các nớc đang phát triển,
các nớc vùng nhiệt đới nh ấn Độ, Madagasca, Myanma, Bangladesh,
biệt là những kháng sinh thờng hay sử dụng. Mức độ nhạy cảm với kháng
sinh của vi khuẩn cũng thay đổi theo khu vực và ngay cả trong trong bệnh
viện [12, 13, 34, 35, 48, 57, 77]. Việc xác định chính xác tác nhân vi sinh vật
7
gây bệnh và xác định mức độ nhạy cảm của thuốc với những chủng vi sinh vật
này giúp cho các nhà nhãn khoa có thể chẩn đoán sớm đợc bệnh và lựa chọn
kháng sinh phù hợp, giảm tỉ lệ mù lòa do VLGM gây ra.
Việc phòng chống VLGM và hậu quả mù loà do bệnh gây nên là hết
sức cấp bách. Trên thực tế, các bệnh nhân khi đến bệnh viện đều đã ở mức độ
nặng, việc điều trị rất nan giải [43, 44, 45, 46, 66, 67]. Nhiều nghiên cứu đã
khẳng định mù loà do VLGM là có thể phòng tránh đợc thông qua hoạt động
chăm sóc mắt ban đầu. Vấn đề đặt ra là cần tìm ra các yếu tố nguy cơ và từ đó
có biện pháp can thiệp thích hợp. Hiệu quả của các biện pháp can thiệp cũng
cần đợc đánh giá để có cơ sở triển khai rộng rãi, tiến tới khống chế một bớc
căn bản thực trạng mù loà do VLGM gây nên [9, 50, 56, 80, 100, 104].
Xuất phát từ cơ sở lý luận và thực tiễn trên, chúng tôi tiến hành nghiên
cứu đề tài Nghiên cứu tác nhân vi sinh vật gây bệnh và kết quả phòng
chống viêm loét giác mạc tại vùng đồng bằng Bắc bộ nhằm các mục tiêu:
- Xác định một số vi sinh vật gây bệnh thờng gặp trong bệnh VLGM
tại vùng đồng bằng Bắc bộ.
- Đánh giá kết quả điều trị dựa vào xét nghiệm vi sinh vật và kháng
sinh đồ.
- Xây dựng và đánh giá hiệu quả mô hình phòng chống mù loà do
VLGM tại cộng đồng.
8
Phần 1
Tổng quan
1. Bệnh viêm loét giác mạc
mạc là một mô rất nhạy cảm. Chi phối cảm giác cho giác mạc là các dây thần
kinh xuất phát từ nhánh thần kinh mắt Willis (V
1
). Từ vùng rìa, có 40-60 sợi
thần kinh đi vào giác mạc, phân nhánh theo kiểu chia đôi, tiến dần về phía bề
mặt giác mạc, qua lớp Bowman thì tạo thành đám rối dới biểu mô. Các
nhánh tận chạy giữa những tế bào biểu mô. Độ nhạy cảm của giác mạc là cơ
sở của phản xạ nhắm mắt tự phát, tự động trong cơ chế bảo vệ mắt đối với
những sang chấn bất ngờ, đột xuất. Chỉ những tác nhân có tốc độ lớn hoặc ở
quá gần mắt mới có khả năng chạm tới giác mạc.
Nớc mắt ngoài chức năng dinh dỡng cho giác mạc cũng còn có khả
năng rửa trôi các dị vật nhỏ, làm loãng hoặc trung hoà các độc tố và dị ứng
nguyên. Nhng đặc biệt phải kể đến vai trò của lớp biểu mô, đây là hàng rào
lý tởng ngăn cản các vi sinh vật xâm nhập bề dày giác mạc.
Các cơ chế phòng vệ tự nhiên đã hạn chế phần lớn các tác động có hại
từ môi trờng vào mắt. Tổn thơng chỉ xảy ra khi một phần hoặc toàn bộ hệ
thống phòng vệ này bị phá vỡ.
1.1.3. Quá trình lành sẹo giác mạc
Có thể coi sự lành sẹo giác mạc gồm 3 quá trình đan xen, kế tiếp nhau.
- Quá trình liền biểu mô: Thoft đã đa ra giả thuyết về sự duy trì tính ổn
định của biểu mô giác mạc với công thức:
X + Y = Z
Trong đó: X : Tế bào đáy mới sinh;
Y : Các tế bào di chuyển hớng tâm từ vùng rìa;
Z : Các tế bào bề mặt bong ra. 10
Hình 1.2. Sơ đồ giải thích tính ổn định của biểu mô giác mạc [113]
+ Giai đoạn tổng hợp collagen và mucoprotein: Ngay sau chấn thơng,
trong những giờ đầu đã có các nguyên bào sợi xâm nhập vết thơng. Nguồn
gốc các nguyên bào sợi là những giác mạc bào chuyển dạng hoặc những bạch
cầu đơn nhân đến từ các mạch máu vùng rìa. Yếu tố kích thích sự biến đổi này
là sự giập nát của tế bào biểu mô.
+ Giai đoạn hình thành mô liên kết: Giai đoạn này kéo dài nhiều tháng.
Dới sự chi phối tác động của nhãn áp, các sợi fibrin xích lại gần nhau và dần
dần sắp xếp song song. Riêng màng Bowman không bao giờ đợc tái tạo.
Trong các yếu tố ảnh hởng đến quá trình liền nhu mô, ngời ta thấy vị
trí tổn thơng và tân mạch có vai trò rõ rệt. Những tổn thơng vùng rìa thờng
lành sẹo nhanh hơn so với những tổn thơng ở trung tâm. Những tổn thơng
viêm loét, nếu xuất hiện tân mạch, quá trình liền sẹo thờng diễn ra một cách
thuận lợi. Nhng nếu viêm đã ổn định mà tân mạch không mất đi sẽ vẫn còn
nguy cơ viêm loét tái phát. Việc sử dụng các thuốc có corticoid không đúng
chỉ định đợc coi là một trong những nguyên nhân gây cản trở sự lành sẹo của
giác mạc [94], [113].
1.2. Cơ chế bệnh sinh
Cơ chế bệnh sinh của bệnh VLGM rất phức tạp. Lấy một trờng hợp
viêm loét giác do vi khuẩn để mô tả, có thể tóm tắt bằng sơ đồ nh sau: Cơ chế bệnh sinh viêm loét giác mạc [25, 65]
Khi biểu mô giác mạc bị tổn thơng, vi khuẩn dính kết với tế bào vật
chủ, phát triển, sinh sản và tiếp tục xâm nhập vào các lớp sâu của giác mạc.
Phản ứng viêm gây tình trạng giãn mạch và tăng tính thấm của hệ thống mạch
máu kết mạc. Từ các mạch máu vùng rìa, tế bào viêm xâm nhập giác mạc. Bản
12
thân các tế bào vật chủ sản xuất ra prostaglandin, cytokin, các thành phần bổ
đập lúa bằng gậy là nguyên nhân chủ yếu gây các "chấn th
ơng mắt do hạt
thóc" (paddy grain injury of the eye) [90]
Về lâm sàng, dù có dị vật hay không, bệnh nhân vẫn có cảm giác dị vật
trong mắt rất rõ. Phản ứng thông thờng của bệnh nhân là day dụi, tìm cách
lấy dị vật, càng gây tổn thơng thêm cho giác mạc. Thăm khám lâm sàng với
đèn khe và thuốc nhuộm màu (nh Fluorescein) dễ dàng phát hiện đợc tổn
thơng trên giác mạc: các vết trợt biểu mô, vết xớc, dị vật Các vết xớc
thẳng, nằm dọc trên kết mạc có thể là một gợi ý cho loại dị vật nằm ở bờ mi
hoặc sụn mi trên. Nếu dị vật là các mảnh thuỷ tinh thờng có nhiều và khó
phát hiện bằng mắt thờng. Đặc biệt, các loại dị vật nhỏ nh lông thực vật,
lông côn trùng chỉ có thể phát hiện bằng sinh hiển vi. Các lông này có thể
tồn tại một thời gian dài trớc khi tự rơi ra khỏi giác mạc. Ngay một số dị vật
lớn nh hạt thóc, mảnh vỏ trấu cũng có thể nằm trong cùng đồ mắt của bệnh
nhân nhiều ngày trớc khi đợc phát hiện nhờ thăm khám. Với một số dị vật
13
kim loại nh sắt, nếu nằm trên giác mạc nhiều giờ sẽ xẩy ra hiện tợng nhiễm
kim loại với hình ảnh "vòng rỉ sắt" màu nâu rất đặc trng. Đối với các tổn
thơng trợt xớc không có dị vật, việc thăm khám bằng đèn khe và
Fluorescein cho phép xác định độ rộng, độ sâu của tổn thơng, phân biệt một
tổn thơng còn "sạch" với một tổn thơng đã xuất hiện tình trạng viêm nhiễm.
1.3.2. Giai đoạn viêm nhiễm
Diễn biến quá trình viêm nhiễm tuỳ thuộc tác nhân gây bệnh. Các triệu
chứng viêm nhiễm có thể xuất hiện rất nhanh và rầm rộ do vi khuẩn nhng
cũng có thể ít rầm rộ hơn trong các trờng hợp nhiễm nấm. Đặc biệt trong
nhiễm trực khuẩn mủ xanh, thờng chỉ trong vòng một ngày, viêm mủ đã có
thể lan ra toàn bộ giác mạc. Nói chung các triệu chứng kinh điển vẫn là mắt
đau nhức, kích thích (co quắp mi, sợ ánh sáng, chảy nớc mắt), kết mạc cơng
tụ rìa hoặc tỏa lan toàn bộ. Mắt nhìn mờ ít hay nhiều tuỳ thuộc tổn thơng.
nhuộm màu bằng Fluorescein), viêm mủ dày đặc của nhu mô bên dới, bờ ổ
loét nham nhở, có phù nhu mô xung quanh. Đặc biệt, trực khuẩn mủ xanh gây
14
ra hoại tử nhu mô với bề mặt lởm chởm và có tiết tố mủ nhầy dính vào. Ngoài
ra các viêm loét do vi khuẩn thờng gây viêm nội mô, phản ứng mủ tiền phòng.
ổ loét do nấm thờng có vẻ khô, nông làm cho bề mặt giác mạc nổi cao hơn
bình thờng. Nếu là nấm sợi, thâm nhiễm có màu trắng xám, bờ ổ loét lờm xờm
nh có các sợi lông nhỏ. Loét giác mạc do nấm men (chủng Candida) rất giống
với loét giác mạc do vi khuẩn Gram (+). Nói chung, khi đã tiến triển nặng, mủ
nhiều hơn, loét do nấm và do vi khuẩn trở nên khó phân biệt.
Mủ tiền phòng là một triệu chứng thờng gặp trong các trờng hợp loét
nặng, là hậu quả phản ứng xuất tiết của mống mắt thể mi đối với tác nhân gây
bệnh hoặc độc tố của chúng. Thành phần của mủ thờng là tế bào viêm, fibrin
và không nhất thiết có tác nhân gây bệnh. Lúc đầu mủ mới đợc tạo ra số
lợng ít thờng bám ở mặt sau giác mạc, sau nhiều lần và lắng xuống tạo
thành ngấn mủ. Nếu nh mủ tiền phòng trong các loét do vi khuẩn xuất hiện
và rút lui tơng đối chậm, tuần tự thì trong các do loét nấm thờng xuất hiện
nhanh, rút lui nhanh rồi có khi lại bất ngờ xuất hiện trở lại (hiện tợng mủ
"ma trơi").
Bảng 3: Các mức độ tổn thơng giác mạc [31]
Mức
độ
Đờng
kính ổ loét
Mức độ thẩm lậu Độ sâu ổ loét
Nhẹ < 3 mm Độ I: Còn nhìn rõ chi tiết
mống mắt, diện đồng tử.
< 1/3 bề dầy giác
triệu chứng xuất tiết, dính mống mắt.
1.3.3. Biến chứng và di chứng
Loét giác mạc nặng không đợc điều trị kịp thời có thể dẫn đến nhiều
biến chứng và di chứng nặng nề.
Sẹo giác mạc
Đây là di chứng phổ biến nhất của các viêm loét giác mạc tiến triển
thuận lợi, thờng là do đợc điều trị. Sẹo giác mạc ảnh hởng chức năng mắt
từ giảm thị lực đến mù loà tuỳ theo mức độ.
ở mức độ nhẹ, sẹo nông, mỏng nh màn khói. Mức độ nặng, sẹo dầy có
khi kèm theo dính mống mắt, hình thành mộng giả, tân mạch. Các sẹo ở trung
tâm gây giảm thị lực nhiều hơn các sẹo ở ngoại vi.
Thủng giác mạc
- Trờng hợp tiến triển xấu đi, hoại tử nhu mô tiến triển sẽ dẫn đến
thủng giác mạc. Quá trình này có 2 dấu hiệu đáng chú ý:
+ Dấu hiệu doạ thủng: Xảy ra sau khi nhu mô vùng ổ loét đã bị hoại tử
gần hết. Nếu nhu mô chỉ bị hoại tử khu trú, màng Descemet ở phía sau do tính
chất dai và đàn hồi, bị áp lực của nhãn áp từ phía sau đẩy ra trớc sẽ chui vào phần
giác mạc mất nhu mô tạo hình ảnh bọng thuỷ trong bề dầy giác mạc (hình ảnh "mắt
cua"). Trờng hợp nhu mô hoại tử rộng màng Descemet có thể bị đẩy phồng hẳn ra
ngoài. Tuy nhiên trong cả 2 trờng hợp này giác mạc cha thủng thực sự, biểu hiện
là vẫn có tiền phòng, thử nghiệm Seidel âm tính.
+ Thủng giác mạc thực sự:
Trong các loét hoại tử giác mạc, nếu thấy tiền phòng tự nhiên nông hơn
bình thờng là bắt đầu có sự rò rỉ thuỷ dịch, cũng có nghĩa là giác mạc bắt đầu
thủng thực sự. Sự rò rỉ thuỷ dịch có thể phát hiện một cách đơn giản nhờ thử
nghiệm Seidel.
Giác mạc thờng bị thủng ngay tại ổ loét nhng đôi khi trong một số
trờng hợp hoại tử ở mức độ nặng, giác mạc có thể bị vỡ (nứt) vợt qua ngoài
giới hạn của ổ loét.
Viêm nội nhãn
Staphylococcus aureus và nhóm Pseudomonas. Trong số các vi khuẩn ít gặp
hơn có Streptococcus pyogenes, Enterobacteriaceae, Moraxella lancunata
Theo Vaughan [113], từ năm 1952, khi các chế phẩm có corticoid đợc
dùng trong nhãn khoa, danh sách các vi khuẩn gây bệnh có thêm nhiều vi
khuẩn cơ hội nh Moraxella liquefaciens, Serratia marcescens,
Mycobacterium fortuitum, Streptococcus viridans, Staphylococcus
epidermidis, Escherichia coli, Proteus Mức độ phổ biến của các tác nhân
gây bệnh thay đổi theo từng quốc gia. Tại Mỹ, Staphylococcus aureus đứng
hàng đầu trong các tác nhân gây viêm loét giác mạc [25].
Tại Việt Nam, trớc những năm 1980, các nghiên cứu ở Viện Mắt đã
xác định đợc vi khuẩn chủ yếu gây VLGM thuộc các nhóm: Staphylococcus,
Pseudomonas, Moraxella và Streptococcus [16].
Theo nghiên cứu của Hoàng Năng Trọng, Hoàng Thị Phúc, Hoàng Thị
Minh Châu năm 1996 tỷ lệ bệnh nhân VLGM do vi khuẩn điều trị tại Viện
Mắt Trung ơng là 32.7% [68]. Theo nghiên cứu của Trần Tất Thắng [58], tỷ
lệ viêm loét giác mạc do vi khuẩn điều trị tại Viện Mắt Trung ơng 1999 là
44.07%.
- Nấm
17
Cả nấm sợi (molds) và nấm men (yeast) đều có khả năng gây bệnh.
Bình thờng, ở bờ mi, kết mạc của mắt ngời vẫn có một số chủng nấm sinh
sống với tỷ lệ xét nghiệm dơng tính từ 10,3% đến 27,9%.
Lần đầu tiên Leber (1879) phát hiện nấm gây bệnh tại giác mạc. Viêm
loét giác mạc do nấm rất phổ biến tại các nớc nhiệt đới. Theo Dunlop [84], tỷ
lệ viêm loét giác mạc do nấm tại Bangladesh là 35,9%.
Các giống nấm gây bệnh trên giác mạc có thể là Candida, Aspergillus,
Fusarium, Penicillium, Cephalosporium Theo Maurin và Cornand [108], ở
các nớc nhiệt đới thờng gặp nhất là Aspergillus và Fusarium.
Tại Việt Nam, trờng hợp hợp nhiễm nấm giác mạc đầu tiên đợc phát
hạch dây thần kinh số V, HSV-2 ở hạch tủy sống) tồn tại âm ỉ ở đó. Trên một
số bệnh nhân virus hồi trở lại dạng hoạt động và theo trục thần kinh quay
18
ngợc trở lại gây bệnh. Herpes thờng gây nên những tổn thơng nông trên
giác mạc dới hình thái cành cây hoặc địa đồ.
- Acanthamoeba:
Acanthamoeba là nguyên sinh động vật (protozoa) thuộc bộ Amoebida
(amip) sống tự do trong thiên nhiên: không khí, đất ẩm và nhất là nớc.
Jones (1973), lần đầu tiên phát hiện Acanthamoeba trong các viêm
nhiễm giác mạc. Acanthamoeba đặc biệt hay gây viêm loét giác mạc cho
ngời thờng xuyên sử dụng kính tiếp xúc. Thờng gặp nhất là A. castellani
và A. polyphaga.
Tại Việt Nam, năm 1997, Hoàng Minh Châu lần đầu tiên công bố 6
trờng hợp viêm loét giác mạc do Acanthamoeba điều trị tại Viện Mắt [7].
Sau đó, các trờng hợp viêm loét giác mạc do Acanthamoeba tiếp tục đợc
phát hiện.
2.2. Xét nghiệm vi sinh vật phục vụ chẩn đoán và điều trị [4, 5, 10, 36]
2.2.1. Soi tơi, nhuộm soi
- Soi tơi: cho kết quả nhanh, cho phép nhận định nhanh về loại tác
nhân gây bệnh có mặt tại ổ loét.
- Nhuộm soi:
Đối với vi khuẩn, có kỹ thuật nhuộm Gram cho phép phát hiện nhanh
các vi khuẩn gây bệnh thờng gặp. Căn cứ vào tính chất bắt màu mà chia
thánh vi khuẩn Gram (+) hay Gram (-).
Đối với nấm và Acanthamoeba, cần làm thêm các kỹ thuật khác nh
nhuộm Giemsa, PAS, KOH 10%. Phơng pháp nhuộm Gram và Giemsa
không nhuộm đợc vách tế bào và vách ngăn của sợi nấm nhng chất nguyên
sinh của của nấm sợi hấp thu đợc các chất này. Các loài Aspergillus có đặc
điểm đặc trng khi soi trực tiếp là những sợi nấm nhỏ phân nhánh ở 45
loại cần thời gian 5-7 ngày, thậm chí lâu hơn.
Virus
Có nhiều kỹ thuật nh xét nghiệm tế bào học, miễn dịch chẩn đoán,
huyết thanh học Trên lâm sàng, để phục vụ cho chẩn đoán viêm loét giác
mạc do virus Herpes, thờng làm xét nghiệm tế bào học.
2.2.3. Đánh giá mức độ nhạy cảm với kháng sinh của vi khuẩn
Phân lập vi khuẩn thờng đợc tiến hành đồng thời với làm kháng sinh
đồ nhằm xác định tính nhạy cảm của vi khuẩn với kháng sinh phục vụ cho
mục đích điều trị. Một vấn đề luôn đợc quan tâm là tình hình kháng kháng
sinh của vi khuẩn có xu hớng ngày càng gia tăng [12, 13, 26, 34, 35, 48, 57,
77].
3. Phòng chống mù loà do viêm loét giác mạc
3.1. Các yếu tố nguy cơ
- Chấn thơng mắt
Nhiều nghiên cứu khẳng định chấn thơng mắt là yếu tố nguy cơ hàng
đầu gây viêm loét giác mạc đặc biệt là các chấn thơng tác động trực tiếp vào
giác mạc. Trong các loại tác nhân, ngời ta nhấn mạnh những tác nhân bản
chất thực vật vì một số đặc điểm:
+ Bề mặt tác nhân thờng thô ráp, sắc cạnh (cọng rạ, lá lúa ), có khi có
lông hoặc gai nhọn (hạt thóc, quả ké ), khi tiếp xúc với giác mạc, rất dễ gây
tổn thơng phức tạp. Theo Joseph T. [90], rất nhiều trờng hợp "chấn thơng
do hạt thóc, lông hạt thóc còn nằm lại giác mạc, gây tình trạng kích thích mắt
kéo dài.
+ Thờng chứa các vi sinh vật gây bệnh (trực khuẩn mủ xanh, nấm )
vốn luôn có sẵn trong môi trờng nông nghiệp.
- Xử trí y tế muộn
Viêm loét giác mạc có thể xuất hiện đột ngột hoặc sau các yếu tố khởi
phát, trớc hết là các chấn thơng nông.
Trong mọi trờng hợp, hầu nh bệnh nhân đều có xu hớng tìm cách tự
điều trị. Tuy nhiên, có thể thấy các biện pháp đều rất tuỳ tiện, nhiều việc làm