ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS. LÂM VĨNH SƠN
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ TP.HỒ CHÍ
MINH
KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ CÔNG NGHỆ SINH HỌC
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
NGHIÊN CỨU MÔ HÌNH
PHỤC VỤ TÍNH TOÁN
THIẾT KẾ HỆ THỐNG
XỬ LÝ NƯỚC THẢI CHO
NHÀ MÁY DỆT
KHATOCO – KHÁNH HÒA
Chuyên ngành : Môi trường
Mã số ngành : 108
GVHD : Th.S LÂM VĨNH SƠN
SVTH : LÊ NGUYỄN HẠNH NHIÊN
MSSV : 103108141
LỚP : 03DHMT02
Tp. Hồ Chí Minh, tháng 12 năm 2007
SVTH: LÊ NGUYỄN HẠNH NHIÊN Trang 1
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS. LÂM VĨNH SƠN
CHƯƠNG 1:
MỞ ĐẦU
1.1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong những năm gần đây phát triển kinh tế gắn với bảo vệ môi trường là
chủ đề tập trung sự quan tâm của nhiều nước trên thế giới.
Một trong những vấn đề đặt ra cho các nước đang phát triển trong đó có
Việt Nam là cải thiện môi trường ô nhiễm do các chất độc hại do nền công
bảo các điều kiện mặt bằng, kinh tế.
1.3. PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN ĐỒ ÁN
Trong quá trình thực hiện đồ án có sử dụng một số phương pháp sau:
Phương pháp điều tra khảo sát
Phương pháp tổng hợp tài liệu
Phương pháp phân tích các chỉ tiêu chất lượng nước thải
Phương pháp thực nghiệm
Lựa chọn các phương pháp tính toán và thiết kế hệ thống xử lý nước thải
thích hợp, tính toán kinh tế.
SVTH: LÊ NGUYỄN HẠNH NHIÊN Trang 3
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS. LÂM VĨNH SƠN
CHƯƠNG 2:
TỔNG QUAN VỀ NGÀNH CÔNG NGHIỆP DỆT NHUỘM VÀ
KHẢ NĂNG GÂY Ô NHIỄM CỦA NƯỚC THẢI DỆT
NHUỘM – CÁC PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ
2.1. TỔNG QUAN VỀ NGÀNH DỆT NHUỘM
Ngành dệt nhuộm là một trong những ngành quan trọng và có từ lâu đời vì
nó gắn liền với nhu cầu cơ bản của loài người là may mặc. Ngành công nghiệp
này chiếm vò trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, đóng góp đáng kể cho
ngân sách nhà nước và giải quyết công ăn việc làm cho nhiều lao động. Ở nước ta
hiện nay đã sản xuất được trên 2000 triệu m
3
vải/năm. Công nghệ dệt sợi nhuộm,
in hoa ngày càng phát triển và hiện đại thì lượng nước thải ra cũng rất lớn. Ngành
dệt là ngành công nghiệp có dây chuyền công nghệ phức tạp, áp dụng nhiều loại
hình công nghệ khác nhau. Đồng thời trong quá trình sản xuất sử dụng các nguồn
nguyên liệu, hóa chất khác nhau và cũng sản xuất ra nhiều mặt hàng có mẫu mã,
màu sắc, chủng loại khác nhau. Do đó, nước thải ngành dệt nhuộm rất đa dạng và
phức tạp. Nước thải nhuộm thì không ổn đònh và đa dạng thay đổi trong từng nhà
máy.
b. Nguyên liệu nhuộm và in hoa:
Các phẩm nhuộm được sử dụng bao gồm:
Phẩm nhuộm phân tán: là dạng phẩm không tan trong nước, nhưng ở dạng
phân tán trong dung dòch và có thể phân tán trên sợi, mạch phân tử thường nhỏ,
có nhiều họ khác nhau: anthraquinon, nitroanilamin … được dùng để nhuộm sơ
poliamide, poliester, axêtat …
SVTH: LÊ NGUYỄN HẠNH NHIÊN Trang 5
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS. LÂM VĨNH SƠN
Phẩm trực tiếp: Dùng để nhuộm vải cotton trong môi trường kiềm, thường
là muối sunfonat của các hợp chất hữu cơ: R – SO
3
Na, kém bền với ánh sáng và
khi giặt giũ.
Phẩm nhuộm axit: đa số những hợp chất sulfo chứa một hay nhiều nhóm
SO
3
H và một vài dẫn xuất chứa nhóm COOH dùng nhuộm trực tiếp các loại tơ sợi
chứa nhóm bazơ như: len, tơ, poliamide …
Phẩm nhuộm hoạt tính: có công thức tổng quát là S – F – T = X, trong đó F
là phân tử mang màu, S là nhóm tan trong nước (SO
3
Na, COONa), T là gốc mang
phản ứng (có thể là nhóm clo hay vinyl), X là nhóm có khả năng phản ứng …
Thuốc sẽ phản ứng sơ trực tiếp và sản phẩm phụ là HCl, nên cần nhuộm trong
môi trường kiềm yếu.
Phẩm hoàn nguyên: bao gồm các họ màu khác nhau như indigo, dẫn xuất
anthraquinon, phẩm sunfua … dùng để nhuộm chỉ, sợi bông, visco và sợi tổng hợp.
Ngoài ra để mặt hàng bền và đẹp thích hợp với nhu cầu, ngoài phẩm
nhuộm cón sử dụng các chất phụ trợ khác như: chất thấm, chất tải, chất giặt, chất
điện ly (Na
sợi, tăng độ bean, độ trơn và độ bóng của sợi để có thể tiến hành dệt vải. Hóa
chất hồ sợi: tinh bột, keo động vật, chất làm mềm, chất béo, PVA…
e. Dệt vải
Kết hợp sợi ngang với sợi dọc đã mắc để hình thành tấm vải mộc .
f. Giũ hồ
Tách các thành phần của hồ bám lên trên vải mộc bằng enzym hoặc axit.
Vải sau khi giũ hồ được giặt bằng nước, xà phòng, xút, chất họat động bề mặt rồi
đưa sang nấu tẩ .
g. Nấu vải
Loạt trừ phần hồ còn lại và các tạp chất thiên nhiên của xơ sợi như dầu
mỡ, sáp… sau khi nấu vải có độ mao dẫn và khả năng thấm ướt cao, hấp thụ hóa
chất, thuốc nhuộm cao hơn, vải mềm mại và đẹp hơn. Vải được nấu trong dung
dòch kiềm và các chất tẩy giặt ở áp suất và nhiệt độ cao. Sau đó vải được giặt
nhiều lần.
h. Làm bóng vải
Mục đích làm cho sợi cotton trương nở làm tăng kích thước các mao quản
giữa các mạch phân tử làm cho sợi trở nên xốp hơn, dễ thấm nước, sợi bóng và
tăng khả năng bắt màu thuốc nhuộm.
SVTH: LÊ NGUYỄN HẠNH NHIÊN Trang 8
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS. LÂM VĨNH SƠN
i. Tẩy trắng
Tẩy màu tự nhiên của vải, làm sạch các vết bẩn làm cho vải có độ trắng
đúng yêu cầu chất lượng. Các chất tẩy: NaOCl, H
2
O
2
và các chất phụ trợ khác.
Đối với các mặt hàng vải khác nhau đòi hỏi các phẩm nhuộm và môi trường khác
nhau.
j. Nhuộm vải và hoàn thiện
xenlulo, polyvinyl alcaol, nhựa,
chất béo, sáp
BOD cao ( 34-50%tổng sản lượng
BOD
Nấu tẩy
NaOH, chất sáp và dầu mỡ, tro,
soda, silicat natri và xơ sợi vụn
Độ kiềm cao, màu tối, BOD
cao( 30% tổng BOD)
Tẩy trắng
Hypoclorit, hợp chất chứa clo,
NOH,axit…
Độ kiềm cao, chiếm 5%BOD
Làm bóng
NaOH, tạp chất Độ kiềm cao, BOD thấp (dưới
1%BOD)
Nhuộm
Các loại thuốc nhuộm, axit axetic
và các muối kim loại
Độ màu rất cao, BOD khá
cao(6%tổng BOD, TS cao)
In
Chất màu, tinh bột, dầu, đất sét,
muối kim loại, axít…
Độ màu cao, BOD cao và dầu mỡ
Hoàn thiện Vết tinh bột, mỡ động vật, muối Kiềm nhẹ, BOD thấp.
Nguồn: Trần Văn Nhân – Ngô Thò Nga, Giáo trình Công nghệ Xử ly ùNước thải,
Nhà xuất bản Khoa học Kỹ thuật, năm 1999.
Bảng 2.2: Tính chất nước thải của một số nhà máy Dệt nhuộm ở Hà Nội
Tên nhà máy
132 443 496 8 – 12 168 199
Nguồn: Phòng Quản lý Môi trường, Sở Khoa học Công nghệ Môi trường
Thành phố Hồ Chí Minh
Bảng 2.3: Tính chất nước thải của các nhà máy Dệt nhuộm lớn ở TP.Hồ Chí Minh
Tên
nhà máy
Q
m
3
/ngày
pH Độmàu
Pt-Co
COD
mg/l
BOD
mg/l
SS
mg/l
SO
4
2-
mg/l
PO
4
3-
mg/l
KLN
Thành
công
6500 9.2 1160 280 651 98 298 0.25
chiều sâu, như các máy văng sấy Monforts, máy nhuộm liên tục Monforts ở Công
ty dệt Việt Thắng; các máy in lưới quay Stork, máy in lưới phẳng Buser ở hai
Công ty dệt may Thắng Lợi và dệt 8-3; các máy nhuộm “khí động lực” (Air- Jet)
do được chế tạo ở dệt kim Đông Xuân và dệt 8-3; máy làm bóng trục mới của
Công ty dệt Nam Đònh, hệ thống máy xử lý trước - xử lý hoàn tất vải pha len của
Công ty Dệt lụa Nam Đònh và Công ty 28 (Bộ Quốc phòng) v.v Và gần đây
SVTH: LÊ NGUYỄN HẠNH NHIÊN Trang 12
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS. LÂM VĨNH SƠN
nhất là dây chuyền thiết bò hiện đại của Công ty nhuộm Yên Mỹ vừa đi vào sản
xuất.
Song về tổng thể, ngành nhuộm- in hoa- xử lý hoàn tất ở Việt Nam vẫn
còn đang áp dụng các công nghệ và máy móc thiết bò “truyền thống”. Do vậy
năng suất chưa cao, chất lượng chưa thật tốt và sử dụng nhiều hoá chất, thuốc
nhuộm, tốn nhiều nước và năng lượng, giá thành cao đã làm giảm tính cạnh tranh
trên thương trường. Ngoài ra, còn để lại hậu quả là lượng nước thải nhiều và bò ô
nhiễm nặng nề, rất tốn kém khi phải xử lý nước thải. Để giảm thiểu ô nhiễm do
nước thải ngành dệt nhuộm để lại, cần chú ý 2 giải pháp sau:
+ Trước hết, các công ty dệt nhuộm cần rà soát một cách kỹ lưỡng, cẩn thận
những hoá chất, chất trợ, thuốc nhuộm đang sử dụng (bao gồm cả hàng nhập khẩu
và sản xuất trong nước), phải biết rõ nguồn gốc, xuất xứ của chúng và cần có “hồ
sơ” của từng loại hoá chất, chất trợ, từng mầu thuốc nhuộm. Đó là “Các phiếu dữ
liệu an toàn” (safety data sheets) mà các hãng sản xuất hoá chất, thuốc nhuộm
đều có.
+ Thay thế vào đó là những hoá chất, chất trợ thân thiện với môi trường, các
thuốc nhuộm biết rõ nguồn gốc xuất xứ, chất lượng tốt, loại mới, không độc hại
và ít ô nhiễm môi trường.
2.6. TỔNG QUAN VỀ CÁC PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ NƯỚC THẢI
CÔNG NGHIỆP
2.6.1. Phương pháp cơ học
Đặc trưng của phương pháp này là loại bỏ các tạp chất không hòa tan ra
lắng để xử lý các chất lơ lửng, độ đục, độ màu. Độ đục, độ màu gây ra bởi các
SVTH: LÊ NGUYỄN HẠNH NHIÊN Trang 14
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS. LÂM VĨNH SƠN
hạt keo có kích thước bé (10
-2
÷ 10
-1
µ
m). Các chất này không thể lắng hoặc xử lý
bằng phương pháp lọc mà phải sử dụng các chất keo tụ và trợ keo tụ để liên kết
các hạt keo lại thành các bông cặn có kích thước lớn để dễ dàng loại bỏ ở bể
lắng.
Các chất keo tụ thường sử dụng là phèn nhôm, phèn sắt, các polyme…
Trong đó, được dùng rộng rải nhất là phèn nhôm và phèn sắt vì nó hòa tan tốt
trong nước, giá rẻ, hoạt động trong khoảng pH lớn .
Để tăng cường quá trình keo tụ, tăng tốc độ lắng người ta thường cho thêm
vào nước thải các hợp chất cao phân tử gọi là chất trợ keo tụ. Thông thường liều
lượng chất trợ keo tụ khoảng 1 - 5 mg/l.
Để phản ứng diễn ra hoàn toàn và tiết kiệm năng lượng, phải khuấy trộn
đều hóa chất với nước thải. Thời gian lưu lại trong bể trộn khoảng 5 phút. Tiếp đó
thời gian cần thiết để nước thải tiếp xúc với hóa chất cho đến khi bắt đầu lắng
dao động khoảng 30 – 60 phút. Trong khoảng thời gian này các bông cặn được
tạo thành và lắng xuống nhờ vào trọng lực. Mặt khác, để tăng cường quá trình
khuấy trộn nước thải với hóa chất và tạo được bông cặn người ta dùng các thiết bò
khuấy trộn khác nhau như: khuấy trộn thủy lực hay khuấy trộn cơ khí.
- Khuấy trộn bằng thủy lực: trong bể trộn có thiết kế các vách ngăn để tăng
chiều dài quãng đường mà nước thải phải đi nhằm tăng khả năng hòa trộn nước
thải với các hóa chất.
- Khuấy trộn bằng cơ khí: trong bể trộn lắp đặt các thiết bò có cánh khuấy có thể
quay ở các góc độ khác nhau nhằm tăng khả năng tiếp xúc giữa nước thải và hóa
trường hợp tốc độ hấp phụ được hạn đònh bởi cả hai giai đoạn này.
Tái sinh chất hấp phụ là một giai đoạn quan trọng trong quá trình hấp phụ
Các chất bò hấp phụ có thể được tách ra khỏi than hoạt tính bằng quá trình nhả
hấp nhờ hơi bảo hòa hay hơi hóa nhiệt hoặc bằng khí trơ nóng. Ngoài ra, còn có
thể tái sinh chất hấp phụ bằng phương pháp trích ly.
Phương pháp hóa học và hóa lý được ứng dụng chủ yếu để xử lý nước thải
công nghiệp.
Phụ thuộc vào điều kiện đòa phương và mức độ cần thiết xử lý mà phương
pháp xử lý hóa lý hay hóa học là giai đoạn cuối cùng (nếu như mức độ xử lý đạt
yêu cầu có thể xả ra nguồn) hoặc chỉ là giai đoạn sơ bộ (khử một vài liên kết độc
hại ảnh hưởng đến chế độ làm việc bình thường của các công trình xử lý).
2.6.3. Phương pháp sinh học
Xử lý nước thải bằng phương pháp sinh học là dựa vào khả năng sống và
hoạt động sống của vi sinh vật có tác dụng phân hóa chất hữu cơ. Do quá trình
phân hóa phức tạp nhưng chất bẩn có được kháng hóa và trở thành nước, chất vô
cơ và những chất khí như : H
2
S, Sunfit, Amoniac, Nitơ …
Phương pháp này dựa trên cơ sở sử dụng hoạt động của các vi sinh vật để
phân hủy chất hữu cơ có trong nước thải. Các vi sinh vật sử dụng chất hữu cơ và
một số muối khoáng làm nguồn dinh dưỡng và tạo năng lượng. Trong quá trình
dinh dưỡng chúng nhận các chất dinh dưỡng để xây dựng tế bào, sinh trưởng và
sinh sản nên sinh khối của chúng tăng lên. Quá trình phân hủy chất hữu cơ nhờ
sinh vật gọi là quá trình oxy hóa sinh hóa. Như vậy nước thải có thể xử lý bằng
SVTH: LÊ NGUYỄN HẠNH NHIÊN Trang 17
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS. LÂM VĨNH SƠN
phương pháp sinh học sẽ đặc trưng bằng các chỉ tiêu BOD, COD. Để xử lý nước
thải bằng phương pháp sinh học hiệu quả thì tỷ số
5,0≥
COD
đó, việc xử lý nhằm giảm thiểu các chất ô nhiểm có trong nước thải tùy thuộc vào
mục đích và nguồn tiếp nhận sau cùng.
2.7.1. Điều hòa lưu lượng và nồng độ nước thải:
Nước thải dệt nhuộm phụ thuộc vào dây chuyền công nghệ sản xuất, loại
nguyên liệu sử dụng và thành phẩm nên thường thay đổi theo thời gian. Bể điều
hòa cần được xây dựng để ổn đònh nước thải vì lưu lượng và nồng độ làm mất tính
ổn đònh.
Khi lưu lượng và nồng độ nước thải thay đổi thì kích thước các công trình
(bể lắng, trung hòa, và các công trình xử lý sinh học) cũng phải thay đổi theo, chế
độ làm việc của chúng mất ổn đònh. Nếu nồng độ các chất bẫn trong nước thải
chảy vào các công trình đột ngột tăng lên, nhất là các chất độc hại đối với vi sinh
vật thì có thể làm cho công trình hoàn toàn mất tác dụng.
Bể điều hòa hoạt động liên tục, nó có thể cung cấp cho các công trình khác
hoạt động 24 / 24. Hiệu suất điều hòa phụ thuộc vào thời gian điều hòa hay thời
gian nước lưu lại trong bể tức là tùy thuộc vào dung tích bể.
2.7.2. Phương pháp cơ học:
Nhằm loại bỏ các tạp chất không tan ra khỏi nước thải.
SVTH: LÊ NGUYỄN HẠNH NHIÊN Trang 19
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS. LÂM VĨNH SƠN
• Lọc qua song chắn: Song chắn được đặt trước các công trình làm sạch
nước thải để loại bỏ các tạp chất sơ sợi. Lượng xơ sợi trong nước thải dệt nhuộm
không nhiều nên có thể dùng thủ công để thu hồi rác.
• Bể lắng: Bể lắng cát dùng để tách các tạp chất không tan dạng vô cơ
như cát sỏi ra khỏi nước. Các chất không tan dạng hữu cơ được giữ lại ở các bể
lắng khác nhau. Có nhiều loại bể lắng phụ thuộc một số chỉ tiêu ô nhiễm.
• Lọc qua lớp vật liệu: Dùng để tách các tạp chất phân tán loại nhỏ mà
bể lắng không lắng đươc. Người ta sử dụng các loại vật liệu lọc như : cát thạch
anh, than cốc, sỏi nghiền, …Bên cạnh các bể lọc với các vật liệu lọc, người ta còn
dùng các máy vi lọc có lưới và các lớp vật liệu tự hình thành khi máy vi lọc làm
việc.
4
)
3
+ 3Ca(HCO
3
)
2
= 2Al(OH)
3
+ 3CaSO
4
+ 6CO
2
.
SVTH: LÊ NGUYỄN HẠNH NHIÊN Trang 20
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS. LÂM VĨNH SƠN
Bông Al(OH)
3
sẽ hấp phụ và dính kết các chất huyền phù, các chất ở dạng
keo trong nước thải, tức là chuyển sang trạng thái hỗn hợp không ổn đònh , các
bông sẽ lắng xuống đáy bể.
Khi dùng muối Fe sẽ tạo hrôxýt sắt.
2FeCl
3
+ 3Ca(OH)
2
= 3CaCl
2
+ 2Fe(OH)
3
trung trên bề mặt mà còn bò hút sâu vào các lớp bên trong của chất
rắn.
• Hấp phụ lý học: Là quá trình hút ( hay còn gọi là tập trung ) của
một hoặc hỗn hợp chất bẩn hòa tan thể khí hoặc thể lỏng trên bề
mặt chất rắn
SVTH: LÊ NGUYỄN HẠNH NHIÊN Trang 21
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS. LÂM VĨNH SƠN
• Hấp phụ hóa học: Là quá trình hút các chất tan dạng khí dưới tác
dụng hóa học.
Những biện pháp làm tăng tốc độ hấp phụ là tăng nhiệt độ, tăng nồng độ
chất tan giảm pH của dung dòch nước thải. Khả năng hấp phụ phụ thuộc vào loại
than hoạt tính và chất bò hấp phụ, có thể dao động từ 200 – 400 gCOD / kg than.
2.7.4. Phương pháp hóa học:
Trong nhiều trường hợp xử lý hóa học là giai đoạn sơ bộ trước khi làm sạch
sinh hóa. Tùy thuộc đặc tính của chất bẫn, để làm sạch nước thải người ta có thể
sử dụng các phương pháp như : đông tụ, trung hòa và ôxy hóa.
• Phương pháp trung hòa:
Axit và bazơ cũng như nước thải có độ axít và độ kiềm cao không được xả
vào nguồn nước. Trong các nhà máy nhuộm, độ pH dao động từ 4 – 12, nên cần
thiết phải trung hòa để tạo pH tối ưu cho quá trình keo tụ.
Để trung hòa nước thải chứa axít có thể dùng dung dòch xút và vôi. Khác
với vôi, khi châm xút, lượng cặn không tăng lên bao nhiêu. Nhược điểm của dung
dòch này là đắt tiền hơn vôi.
Trong nhà máy dệt nhuộm, để trung hòa nước thải chứa axít và kiềm người
ta không trộn lẫn nước thải với nhau. Do đó phải xây dựng bể điều hòa, thể tích
của bể phải đủ để có thể điều hòa cả về lưu lượng, nồng độ chất bẫn và trung hòa
pH.
Mặc dù khối lượng cặn lắng trong bể trung hòa không nhiều , nhưng do cặn
chứa nhiều nước và có lẫn các độc chất nên không thể sử dụng cho nông nghiệâp.
Có thể chuyển cặn ra sân phơi bùn hoặc dùng các thiết bò cơ học để tách nước.
Bể aeroten là công trình làm bằng bê tông, bê tông cốt thép… Với mặt
bằng thông dụng là hình chữ nhật. Hỗn hợp bùn và nước thải cho chảy suốt qua
SVTH: LÊ NGUYỄN HẠNH NHIÊN Trang 23
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP GVHD: ThS. LÂM VĨNH SƠN
chiều dài của bể là nguyên liệu chủ yếu dùng xử lý nước thải. Bùn hoạt tính là
loại bùn xốp chứa nhiều vi sinh có thể ôxy hóa các chất hữu cơ chứa trong nước
thải. Để giữ cho bùn hoạt tính có thể lơ lửng, đảm bảo ôxy cho quá trình ôxy hóa
các chất hữu cơ thì phải thông gió. Thời gian nước lưu trong bể sục khí không lâu
quá 12 giờ (4 – 8 h). Số lượng bùn tuần hoàn và số lượng không khí cần cấp phụ
thuộc độ ẩm và mức độ yêu cầu xử lý nước thải. Hiệu quả xử lý BOD
5
= 90 –
95%.
2.7.6. Phương pháp xử lý bùn:
Bùn từ bể lắng đợt I, bùn từ bể lọc sinh học, bùn hoạt tính dư từ bể xử lý
aeroten được nén và tách nước bằng bơm ly tâm, lọc ép hoặc lắng trọng lực. Bùn
không nên giữ lại vì các phản ứng lên men làm cho bùn khó tách nước.
a. Phương pháp lắng trọng lực
Có thể tăng hàm lượng chất rắn trong bùn từ 1 – 2% lên đến 6 – 10%. Đối
với bùn sinh học hoặc bùn của quá trình keo tụ bằng hóa chất, nồng độ bùn chỉ
tăng 4 – 6%. Sau đó thực hiện quá trình làm khô trong không khí lọc chân không,
ly tâm hay lọc ép để tăng nồng độ bùn. Chỉ khi nồng độ bùn > 25% thì mới dừng.
b. Phương pháp ly tâm bùn
Có thể vừa nén bùn vừa tách nước. Bùn sau khi xử lý có hàm lượng chất
rắn 30 – 35%. Tuy nhiên biện pháp này đòi hỏi phải chi phí đầu tư, vận hành và
bảo dưỡng. Ngoài ra công suất tối thiểu của máy ly tâm bùn là 5m
3
/ giờ nên chỉ
ứng dụng cho các hệ thống xử lý có công suất lớn hơn 120 m
3