Đề cương ôn tập ngữ văn lớp 8 học kỳ 2 - Pdf 15


ĐỀ 1 : Văn học là tình thương
Từ xưa đến nay, dân tộc Việt nam ta luôn đề cao tư tưởng nhân ái, một đạo lí cao đẹp.
Bởi vì chúng ta đều là con Rồng cháu Tiên, đều được sinh ra từ cha Lạc Long Quân và mẹ
Âu Cơ nên truyền thống “lá lành đùm lá rách cũng được phát huy qua nhiều thế hệ. Những
tình cảm cao quí ấy được kết tinh, hội tụ và phản ánh qua những tác phẩm văn học dân tộc.
Nói văn học dân tộc ta luôn ca ngợi lòng nhân ái và tình yêu thương giữa người và người
quả không sai. Trước hết Văn học của ta đề cập đến tình cảm trong gia đình, bởi gia đình là
nơi con người sinh ra và lớn lên, là chiếc nôi khởi nguồn và nuôi dưỡng của lòng nhân ái.
Trong đó thì tình mẫu tử là cao quí hơn cả. Hình ảnh cậu bé Hồng trong tác phẩm “những
ngày thơ ấu”, đã cho chúng ta thấy rằng: “tình mẫu tử là nguồn thiêng liêng và kì diệu, là
mối dây bền chặt không gì chia cắt được”. Cậu bé Hồng phải sống trong cảnh mồ côi, chịu
sự hành hạ của bà cô, cha mất, mẹ phải đi tha hương cầu thực, ấy vậy mà cậu không hề oán
giận mẹ mình, ngược lại lại vô cùng kính yêu, nhờ thương mẹ. Câu chuyện đã làm rung
động biết bao trái tim của độc giả. Không chỉ phản ánh tình mẫu tử, văn học còn cho ta
thấy một tình cảm vô cùng đẹp đẽ, sâu sắc không kém, đó là tình cảm vợ chồng. Tiểu
thuyết “tắt đèn” của nhà văn Ngô Tất Tố là minh chứng rõ nét nhất cho điều này. Nhân vật
chị Dậu được tác giả khắc họa thành một người phụ nữ điển hình nhất trong những năm
30-40. Chị là một người vợ thương chồng, yêu con, luôn ân cần, nhẹ nhàng chăm sóc cho
chồng dù trong hoán cảnh khó khăn, nguy như thế nào. Chị Dậu đã liều mình, đánh trả
tên người nhà lí trưởng để bảo vệ cho chồng, một việc mà ngay cả đàn ông trong làng cũng
chưa dám làm. Quả là đáng quí phải không các bạn! Thật đúng với câu ca dao:
.“Thuận vợ thuận chồng tát biển đông cũng cạn”
Và chắc hẳn, những người nào đã và đang học cấp II đều biết đến truyện “cuộc chia tay của
những con búp bê”. Thật cảm động khi chứng kiến cảnh 2 anh em Thành và Thủy chia tay
nhau đầy nước mắt. Qua đó, văn học đã gửi đến chúng ta một tình cảm gắn bó giữa anh em
với nhau trong gia đình:
“Anh em như thể tay chân
rách lành đùm bọc dở hay đỡ đần”
Từ tình yêu thương trong gia đình, mở rộng ra ngoài xã hội thì có tình yêu đôi lứa, tình bạn
bè hay nói chung đó là tình yêu thương đồng loại mà văn học cũng như người xưa luôn

chúng ta không nên phân biệt đối xử với người tàn tật, có hình dáng xấu xí, đánh giá con
người qua vẻ bề ngoài bởi vì: “tốt gỗ hơn tốt nước sơn”. Con người thực sự của mỗi người
chính là ở trong tâm hồn, tấm lòng của họ.
Bên cạnh việc ca ngợi những con người “thương người như thể thương thân”, văn học
cũng phê phán những kẻ ích kỉ, vô lương tâm. Đáng ghê sợ hơn nữa là những người cạn
tình máu mủ. Điển hình là nhân vật bà cô trong truyện “những ngày thơ ấu”, một người
độc ác, “bề ngoài thơn thớt nói cười-mà trong nham hiểm giết người không dao”. Bà cô nỡ
lòng nào lại nói xấu, sỉ nhục mẹ bé Hồng trước mặt bé-đứa cháu ruột của mình, lẽ ra bà cô
phải đối xử tốt với bé Hồng để bù đắp lại những mất mát mà bé phải hứng chịu. Hay trong
tiểu thuyết “Tắt đèn”, nhà văn Ngô Tất Tố đã cho chúng ta thấy sự tàn ác, bất nhân của tên
cai lệ và người nhà lí trưởng. Chúng thẳng tay đánh đập những người thiếu sưu, đến những
người phụ nữ chân yếu tay mềm như chị Dậu mà chúng cũng không tha. Thật là một bọn
mất hết tính người. Còn những cấp bậc quan trên thì sao? Ông quan trong truyện “sống
chết mặc bay” là tiêu biểu cho tầng lớp thống trị, quan lại ngày xưa. Trong cảnh nguy cấp,
dân nhân đội gió, tắm mưa cứu đê thì quan lại ngồi ung ung đánh tổ tôm. Trước tình hình
đó, ngoại trừ những tên lòng lang dạ sói như tên quan hộ đê thì có ai mà không thương xót
đồng bào huyết mạch. Ngay cả khi có người vào báo đê vỡ mà hắn còn không quan tâm,
bảo lính đuổi ra ngoài. Thật là lũ người bất nhân vô lương tâm phải không các bạn! Đến
cuối truyện, khi quan lớn ù ván bài to thì cả làng ngập nước, nhà cửa lúa mà bị cuốn trôi
hết, tình cảnh thật thảm sầu. Chính cao trào đó đã lên án gay gắt tên quan hộ đê, hay chính
là đại diện cho tầng lớp thống trị, dửng dưng trước sinh mạng của biết bao người dân. Thật
đau xót cho số phận người dân thời ấy!
Qua những tác phẩm văn học ở trên, chúng ta có thể thấy được rằng: văn học Việt Nam
luôn để cao lòng nhân ái, ca ngợi những người “thương người như thể thương thân”, và
cũng lên án kịch liệt những kẻ thờ ơ, vô trách nhiệm. Đây cũng là minh chứng rõ nét cho tư
tưởng nhân đạo, tình yêu thương cao cả… đã trở thành một truyền thống cao đẹp, quý báu
của dân tộc ta. Chúng ta cần phải biết yêu thương người khác, biết giúp đỡ nhau trong công
việc cũng như trong học tâp để cùng nhau tiến bước trong cuộc sống, chung tay xây dựng
đất nước giàu mạnh. Như nhà thơ Tố Hữu đã viết:
"Còn gì đẹp trên đời hơn thế

Đối với sĩ tử ngày xưa, đi học là để hiểu rõ Đạo. Đó là lẽ đối xử hằng ngày giữa con người
với nhau. Người đi học mà không hiểu rõ đạo, không biết vận dụng đạo lý thánh hiền để cư
xử với nhau mà chỉ “đua nhau lối học hình thức hòng cầu danh lợi,không còn biết đến tam
cương, ngũ thường”. Chắc chắn điều đó sẽ dẫn đến kết quả “chúa tầm thường thần nịnh
hót”. Và hậu quả tất yếu sẽ là “ nước mất nhà tan ”.
Ngược lại, nếu mọi người biết vận dụng lẽ đạo vào trong cuộc sống thì xã hội sẽ tốt đẹp
hơn nhiều. La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp đã nhấn mạnh “Đạo học thành thì người tốt
nhiều,người tốt nhiều thì triều đình ngay ngắn mà thiên hạ thịnh trị”
Tuy nhiên việc thực hành muốn đạt đến thành công cần phải có vai trò khơi gợi dẫn
dắt của lí thuyết. Những kiến thức đã học luôn có tác dụng định hướng, dẫn dắt để việc
thực hành được tốt hơn. Người thực hành mà không có sự dẫn dắt của học vấn thì khó có
hy vọng đạt được mục đích, chẳng khác gì một người đi trong bóng đêm mà không có ánh
sáng của ngọn đuốc soi đường.Không một học sinh nào có thể làm được bài tập mà không
căn cứ vào những công thức hay định lý đã học. Cũng không một ai thành công ngay ở thí
nghiệm đầu tiên mà không có sự hướng dẫn thao tác của thầy cô. Qua bài tấu, để củng cố
và phát huy vai trò của việc học, La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp đã thiết tha đề nghị xin vua
Quang Trung thay đổi phương pháp học tập sao cho thích hợp: “Lúc đầu học tiểu học để
bồi lấy gốc.Tuần tự tiến lên học đến tứ thư, ngũ kinh, chư sử. Học rộng rồi tóm lược cho
gọn, theo điều học mà làm.”

Có một phương pháp học tập tốt và đúng đắn, kết hợp với những thao tác thực hành
bài bản, chắc chắn kết quả học tập sẽ được nâng cao và “nhân tài mới lập được công. Triều
đình nhờ thế cũng được vững yên”.
Tóm lại, từ viếc tìm hiểu bài tấu “Bàn luận về phép học” của La Sơn Phu Tử Nguyễn
Thiếp, em nhận thấy hai yếu tố “học” và “hành” đều có tầm quan trọng như nhau và quan
hệ mật thiết cùng nhau. “Học” có vai trò dẫn dắt việc “hành” và “hành” có tác dụng củng
cố khắc sâu và hoàn chỉnh việc “học”. Từ đó, em phải thay đổi phương pháp học tập sao
cho đúng đắn, biết kết hợp vận dụng tốt cả hai yếu tố “học” và “hành” để nâng cao trình độ
học vấn của bản thân và áp dụng linh hoạt vào thực tế.
ĐỀ 3 : Trang phục và văn hóa

mức và tư cách xã hội của trang phục. Để có được phục trang ổn định một cách tương đối
(như cái chúng ta thường gọi là trang phục người Việt, trang phục người Chăm, Khơme,
Tày, Thái.v.v…), con người phải trải qua một quá trình dài lâu lựa chọn, lặp đi lặp lại
những trang phục đó từ một vài sản phẩm lưu hành trong đời sống tộc người và dân tộc để

từ những lựa chọn cá nhân đẩy thành lựa chọn cộng đồng. Do đó, mốt thời trang (vốn
mang đậm tính cá nhân) dần trở thành thị thiếu thời trang của cả cộng đồng, được cộng
đồng chấp nhận, ưa thích, bảo lưu, cải biến cho ngày càng phù hợp, ngày càng hoàn thiện.
Như vậy, bỏ qua rất nhiều điều kiện xã hội, dân tộc, văn hóa … trong quá trình hình thành
thị hiếu thẩm mỹ trang phục tộc người cũng như dân tộc, chúng tôi đi vào sự chuyển biến
từ mốt thời trang đến thị hiếu dân tộc về trang phục, một yếu tố quan trọng thể hiện quá
trình xã hội hóa trang phục của con người, một hiện tượng được quan tâm hiện nay.
Mốt trang phục có nội hàm ngữ nghĩa khá rộng. Thứ nhất, có thể hiểu nó như phương thức
thực hành thẩm mỹ, xã hội, tư duy con người thông qua trang phục. Thứ hai, nó hàm nghĩa
thời thượng, tức sự ưa chuộng, đánh giá sáng tạo, thể hiện trang phục (mặc gì, phối hợp các
trang phục ra sao, sự sưu tập các trang phục cổ của các đối tượng khác nhau như vua chúa,
quý tộc, những người nổi tiếng…) của số đông trong xã hội. Thứ ba, nó mang ý nghĩa thời
trang, tức quá trình hưởng thụ, sáng tạo, thể hiện trang phục được ưa chuộng và phổ biến
trong từng thời kỳ, mang đậm tính cá thể và tính nhóm xã hội, linh hoạt và năng động.
Hiểu một cách đầy đủ, mốt không chỉ là phần nổi, là hiện tượng thời trang nhất thời như ta
từng thấy mà còn bao hàm cả phần chìm, tức những gì thể hiện phương thức thẩm mỹ trang
phục cũng như hàng loạt điều kiện kinh tế, văn hóa xã hội chi phối nó trong không gian và
thời gian.
Như vậy, phía sau hiện tượng mốt thời trang là cả một quá trình hình thành, vận động, biến
đổi của trang phục theo quy luật của cuộc sống xã hội và quy luật phát triển của bản thân
trang phục từ truyền thống đến hiện đại.
Trang phục hay hiện tượng nổi của nó – mốt trang phục, do đó, phải được tìm hiểu qua
hàng loạt yếu tố nội hàm và ngoại diên liên quan. Chẳng hạn: truyền thống văn hóa, môi
trường thẩm mỹ, quan niệm đạo đức, mức sống, đặc điểm tâm sinh lý, quá trình giao lưu và
tiếp biến, tính ổn định tương đối, tính thời đoạn, đặc trưng chu kỳ, khả năng truyền lan, sự

nhóm xã hội là những yếu tố trực tiếp ảnh hưởng đến trang phục. Trong thực tiễn
đa dạng, phong phú của chủ thể trang phục cũng như kiểu
Lòng yêu nước trong Chiếu dời đô, Hịch tướng sĩ, Nước Đại Việt ta?
Thảo luận 1
Điểm chung của ba tác phẩm này là lòng yêu nước, đây cũng là tư tưởng lớn trong văn học
từ thế kỉ X đến thế kỉ XV bạn ơi. Mình phân tích cho bạn 3 ý lớn trong lòng yêu nước được
thể hiện trong 3 tác phẩm nhé.
Cả 3 tác phẩm này đều thể hiện tình yêu nước rất sâu đậm bạn nhé
* Đọc kỹ ba áng văn chương kiệt tác này, ta cảm nhận sâu sắc tấm lòng của những con
người luôn suy nghĩ, lo lắng cho nước, cho dân Đối với họ, nỗi niềm dân nước là niềm
trăn trở lớn nhất, luôn canh cánh khôn nguôi.
- Vừa mới được suy tôn lên ngôi hoàng đế, chưa kịp hưởng vinh hoa phú quý của một vị đế
vương, Lí Thái Tổ (Lí Công Uẩn) đã nghĩ ngay đến việc dời đô. Đây không phải là việc
làm tùy tienj, theo ý riêng của mình để thỏa mãn thói chơi ngông với đời, cũng không phải
là lợi ích cá nhân, gia tộc. Đó là nghĩ cho nước, cho dân
- Tình cảm này còn được bộc lộ sâu sắc ở vị danh tướng kiệt xuất của đời Trần: Hưng đạo
vương Trần Quốc Tuấn. Là một bậc vương thân, lại là chủ soái thống lĩnh toàn quân, trước
hiểm họa xâm lăng, vận mệnh dân tộc đang ngàn cân treo sợi tóc, Trần Quốc Tuấn vô cùng
lo lắng. Nỗi căm giận quân giặc, sự đau xót trước cảnh đất nước bị sỉ nhục, tàn phá vò xé
trái tim ông, trào dâng sôi sục trong ông: "Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối "
Càng nghĩ việc quân việc nước, vị chủ tướng càng thấy lo lắng và đau lòng.
- Nỗi niềm dân nước với Nguyễn Trãi càng trở nên sâu đậm. Nó không chỉ là niềm trăn trở
mà trở thành lẽ sống cúa ông, thành lý tưởng mà ông tôn thờ: "Việc nhân nghĩa cốt ở yên
dân/ Quân điếu phạt trước lo trừ bạo".
Những tấm lòng vì nước vi dân ấy khiến ta xiết bao cảm phục và xúc động.
* Tình cảm yêu nước không chỉ dừng lại ở việc lo nghĩ cho nước cho dân mà đã phát triể
thành một khát vọng lớn lao: Khát vọng về một đất nước độc lập, thống nhất và hùng
cường:
- Khát vọng về một đất nước độc lập, thống nhất, hùng cường ở Lí Thái Tổ thể hiện ở việc
quyết tâm dời đô, xây dựng đất nước phồn thịnh hơn. (dẫn chứng)

- Đều thể hiện lòng căm thù giặc sâu sắc.
- Đều thể hiện tinh thần quyết chiến, quyết thắng quân xâm lược.
Có thể thấy rõ điều đó khi nhìn lại sự phát triển của tư tưởng yêu nước Việt Nam qua văn
học viết thời Trung Đại. Liên quan đến chuyện yêu nước, cho đến nay, hầu như mọi nhà
nghiên cứu đều đồng ý, trong gần một ngàn năm văn học viết bằng chữ Hán và chữ Nôm,
ba tác phẩm tiêu biểu nhất là: “Thơ thần” (1076) của Lý Thường Kiệt, “Hịch tướng sĩ”
(1285) của Trần Hưng Đạo và “Bình Ngô đại cáo” (1428) của Nguyễn Trãi. Trong ba tác
phẩm ấy, tác phẩm đầu và tác phẩm cuối được xem là hai bản tuyên ngôn độc lập của Việt
Nam thời tiền- hiện đại.
Gọi là “Thơ thần” vì, theo tương truyền, Lý Thường Kiệt cho người nửa đêm vào đền
Trương Hát và Trương Hống ở cửa sông Như Nguyệt đọc vang bài thơ lên để kích động
tinh thần binh sĩ trong trận chiến sinh tử chống lại quân Tống vào năm 1076. Lúc ấy, thế
giặc đang rất mạnh. Binh sĩ dưới quyền Lý Thường Kiệt không ít người nao núng. Cũng
theo tương truyền, nghe tiếng đọc thơ vang vang giữa khuya khoắt từ một đền thờ nổi tiếng
linh thiêng, “quân ta phấn khởi, quân Tống vỡ mật không đánh đã tan”.

Tuy nhiên, liên quan đến bài thơ này, có mấy điều cần bàn: Trước hết, nói về văn bản.
Trong bài “Thử xác lập văn bản bài thơ ‘Nam quốc sơn hà’” đăng trên tạp chí Hán Nôm số
1 năm 1986, Trần Nghĩa cho biết ông tìm thấy cả thảy 26 dị bản khác nhau của bài thơ ấy.
Bảy năm sau, cũng trên tạp chí Hán Nôm, số 2 năm 1993, có người cung cấp thêm một dị
bản khác được khắc trên biển gỗ trong đền thờ Trương Hống, Trương Hát ở Hà Bắc. Cũng
chưa hết. Ngay sau đó, cũng trên tạp chí ấy, có người lại công bố một dị bản khác nữa.
Như vậy, đến nay, chúng ta có ít nhất 28 văn bản với câu, chữ khác nhau. Về hiện tượng đa
dị bản này, Trần Nghĩa có một nhận xét rất đáng lưu ý: “trong đời sống xã hội của nó, bài
thơ mà chúng ta đang theo dõi không ngừng được sửa sang, không ngừng được tái tạo và
chưa bao giờ thật sự định hình.”
Như vậy, bài thơ được xem là “bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên” của dân tộc Việt Nam,
thật ra, chỉ là một huyền thoại, hoặc ít nhất, được huyền thoại hoá. Tại sao người ta cần
một huyền thoại như thế? Thì cũng vì chính trị. Huyền thoại Lạc Long Quân - Âu Cơ với
trăm trứng trăm con cần thiết để đoàn kết mọi người. Huyền thoại về bản “tuyên ngôn độc

niên anh hùng Trần Quốc Toản. Cũng thời nhà Trần.
Hơn một thế kỷ rưỡi sau, với “Bình Ngô đại cáo” (1428), Nguyễn Trãi là người đầu tiên có
được một tầm nhìn bao quát và chính xác về khái niệm quốc gia.

Source:
Đoạn thơ ngắn nhưng bao quát được khá đầy đủ những yếu tố chính của một quốc gia: lãnh
thổ, văn hiến, phong tục, chủ quyền, và lịch sử. Trong đó, có hai yếu tố mới: văn hoá và
lịch sử. Nước, do đó, là một cộng đồng có một lãnh thổ riêng, độc lập, tự chủ, và một lịch
sử cũng như một nền văn hoá với những phong tục riêng. Nhấn mạnh vào yếu tố văn hoá
và lịch sử, trong quan niệm về lòng yêu nước của Nguyễn Trãi có một yếu tố vốn đã manh
nha từ thời Trần: lòng tự hào. Tự hào về các bậc “hào kiệt đời nào cũng có”. Và sự quan
tâm sâu sắc đến số phận của dân chúng: “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”. Có điều sự quan
tâm ấy xuất phát từ đạo lý hơn là từ tình đồng bào như trong huyền thoại trăm trứng trăm
con hay như những điều chúng ta thường nhắc đến, sau này.
Hướng Dẫn Làm Bài Văn Lớp 8 Đề Chứng minh tinh yêu nước nồng nàn của dân tộc
ta trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm qua hai văn bản Hịch tướng sĩ
của Trần Quốc Tuấn và Nước Đại Việt ta của Nguyễn Trãi
Lịch sử Việt Nam từ thế kỉ XI đến thế kỉ XV là lịch sử chống quân xâm lược phương Bắc.
Đó là lịch sử của 2 lần chiến thắng quân Tống, 3 lần đánh bại quân Nguyên Mông hùng
mạnh và 10 năm gian khổ chống quân Minh mà những chiến công hiển hách Bạch Đằng,
Như Nguyệt, Chi Lăng vẫn còn vang dội đến tận ngày nay. Chính vì vậy, văn học thời kì
đó đã phản ánh khá rõ nét tư tưởng yêu nước cùng lòng tự hào sâu sắc của dân tộc ta, nhất
là qua hai văn bản Hịch tướng sĩ và Nước Đại Việt ta.
Tinh thần yêu nước là một truyền thống quý báu của dân tộc ta từ trước đến nay. Nó là một
tình cảm thiêng liêng, sâu sắc mà mỗi con người luôn dành cho quê hương đát nước mình.
Đặc biệt là trong hoàn cảnh đát nước có chiến tranh đó còn là ý thức, trách nhiệm của một
người dân đối với vận mệnh đất nước bằng một tinh thần yêu nước. Tinh thần đó đã được
những anh hùng dân tộc ghi lại vào những bài văn, bài thơ thật hào hùng.
Nước Đại Việt đã viết nên những trang sử vàng chọi lọi dưới thời kì nhà Trần với những
chiến công oanh liệt. Những người lãnh đạo thời kì này đều ghi tên mình vào sử sách .

Như nước Đại Việt ta từ trước
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu
Núi sông bờ cõi đã chia
Phong tục bắc nam cũng khác
Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời gây nền độc lập
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương
Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau
Song hào kiệt đời nào cũng có
Những điều trên cho ta thấy rõ niềm tin của dân tộc vào cuộc kháng chiến chính nghĩa,
niềm tự hào trước truyền thống oanh liệt của dân tộc. Theo quan điểm của tác giả thì chống
xâm lược là chính nghĩa, cứu dân cứu nước là đại nghiã. Đây có thể xem là một nguyên lý
đạo đức, đã góp phần hình thành nên hệ tư tưởng yêu nước truyền thống của nhân dân ta.
Trong Nước Đại Việt ta, nổi bật là việc nhấn mạnh đến tư tưởng vì dân, quan tâm trước hết
đến đời sống nhân dân, đến hạnh phúc của mọi người. Đây chính là một tư tưởng lớn nhất
đã được thiên cổ hùng văn này thể hiện:
Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo
Ý tưởng đó là sự nối tiếp lời tâm huyết trong di chúc của Trần Hưng Đạo cho Vua Trần:
"Khoan thư sức dân. Lấy kế bền gốc sâu rễ là thượng sách giữ nước". Đây chính là tư
tưởng chính trị quan trọng trong chính sách quản lý đất nước.

Qua ngôn ngữ thể hiện trong ba văn bản trên, tư tưởng yêu nước đã được phản ánh rất rõ
nét:
Yêu nước, trước hết cần khẳng định nước ta là một dân tộc, quốc gia văn hiến, có đầy đủ
các quyền, ngang hàng với quốc gia dân tộc khác, đặc biệt là "Bắc quốc".
Cơ sở tư tưởng yêu nước thể hiện qua việc tố cáo tội ác dã man của quân xâm lược
để nung nấu ý chí căm thù giặc, đồng thời tô đậm những chiến công mà tổ tiên đã giành
được trong lịch sử để không ngừng nâng cao ý thức tự hào dân tộc.
Yêu nước đi đôi với xả thân cứu nước kiên quyết giành và giữ vững chủ quyền
dân tộc. Đây là nguyên tắc đạo đức trong lối sống của người Đại Việt.

thịnh? Đó là nguồn vọng của một vị hoàng đề và cũng là ý muốn của muôn dân trăm họ. Ý
nguyện của dân chúng là đã thôi thúc hoàng đế Lý Thái Tổ (Lý Công Uẩn) dời đô từ Hoa
Lư về Đại La.
Kinh đô là trung tâm chính trị, hành chính, là điểm tụ của quốc gia. Khi dời kinh đô đi nơi
khác, người đứng đầu cuộc “hành trình” phải có những hiểu biết sâu rộng về địa hình, có
cẻ sự nhạy bén và can đảm để đi đến quyết định cuối cùng. Qua đó, ta thấy rõ được tài
năng “xuất chúng” của Lý Công Uẩn - vị vua anh minh và tài giỏi. Ông nắm giữ được tình
hình, thời vận của đất nước, ông muốn mọi thứ dưới quyền hành của mình phải thực sự tốt
đẹp - dân ấm no, nước hưng thịnh. Chính vì vậy, Người quyết định dời đo - một quyết định
không có gì trái với luân lí, trái với quy luật tự nhiên cả. Muốn vậy, việc dời đô là phải tìm
một nơi “trung tâm của đất trời”, địa thế “rồng cuộn hổ ngồi” - và ông đã chọn Đại La.
“Đại La là nơi trung tâm của đất trời, mở ra bốn hướng Nam - Bắc, Đông - Tây; có núi lại
có sông, đất rộng mà bằng phẳng, cao mà thoáng, tránh được nạn lụt lội, còn là kinh đô cũ
của Cao Vương, muôn vật tốt tươi, xem khắt Đại Việt cỉ có nơi đây là thắng địa”. Nhìn sâu
vào khát vọng của vị vua anh minh này, chúng ta mới thực sự cảm nhận được tình yêu
mãnh liệt hằn ẩn trong con người ông. Lý Công Uẩn chính là một trong những con người
bước lên và đã có công khiến cho “con thuyền “ Đại Việt băng băng lướt sóng trên con
đường xấy dựng và phát triển đất nươc.
Nếu lòng yêu nước, thương dân của Lý Công Uẩn đã được bộc lộ trong “Chiếu dời đô” với
nguyện vọng đất nước phồn thịnh muôn đời thì với Trần Quốc Tuấn - một vị chủ tướng tài

ba đã chứng minh lòng yêu nước của mình qua lòng căm thù giặc sâu sắc và ý niệm sẵn
sàng hi sinh vì đất nước qua tác phẩm “Hịch tướng sĩ”.
Là một chủ tướng có lòng yêu nước hào hùng, ông không thể “mặt lấp tai ngơ” trước
những hành động bạo tàn của kẻ thù, ông căm thù chúng làm ông không tiếc những lời cay
xé để lên án hành động như “nghênh ngang đi lại ngoài đường” như một đất nước không
vua, “uốn lưỡi cú diều mà sỉ mắng triều đình” hay “vơ vét vàng bạc, ngọc lụa để vung đầy
túi tham của chúng”. Từ lòng căm thì giặc, ta lại càng cảm thương cho vị chủ tướng khi
quên ăn, mất ngủ, đau đớn đến “tim gan thắt ruột”, “nước mắt đầu đìa” vì uất ức chưa trả
được mối thù nợ nước. Từ đó, tấm lòng xả thân vì nước, nguyện hi sinh “trăm thân” cho

Quốc Tuần, Nguyễn Trãi là niềm tin vững chắc về một tương lai tốt đẹp của nhân dân ta từ
xưa đến nay. Một lần nữa, khúc khải hoàn kia lại khẳng định cao hơn, chi tiết hơn tầm
quan trọng cả họ vô cùng to lớn đến giang sơn đất nước. Những vị ấy đã cố gắng giữ gìn và
gây dựng đất nước thì con cháu chúng ta lại càng phải cùng nhau gây dựng và bảo vệ đất
nước vững mạnh hơn.
híng dÉn «n tËp häc k× II.
M«n ng÷ v¨n líp 8. N¨m häc 2010-2011
I. Phần văn bản:
1.Lập bảng thống kê các văn bản, tác giả, thể loại, nội dung cơ bản theo mẫu dưới đây.
TT VB Tác giả Thể loại Nội dung
1.
Nhớ
rừng
Thế Lữ Thơ mới
tám chữ
Mượn lời con hổ bị nhốt ở vườn bách thú để diễn tả sâu sắc
nỗi chán ghét thực tại tầm thường, tù túng và niềm khao khát
tự do mãnh liệt bằng những vần thơ tràn đầy cảm hứng lãng
mạn. Bài thơ đã khơi gợi niềm yêu nước thầm kín của người
dân mất nước thuở ấy.
2.
Ông đồ Vũ Đình
Liên
Thơ mới
ngũ
ngôn
Là bài thơ ngũ ngôn bình dị mà cô đọng, đầy gợi cảm. Bài
thơ đã thể hiện sâu sắc tình cảnh đáng thương của " ông đồ"
qua đó toát lên niềm cảm thương chân thành trước một lớp
người đang tàn tạ và tiếc nhớ cảnh cũ người xưa của nhà

Là bài thơ tứ tuyệt bình dị pha giọng vui đùa cho thấy tinh
thần lạc quan, phong thái ung dung của Bác hồ trong cuộc
sống cách mạng đầy khó khăn gian khổ ở Pác Bó. Vời
Người, làm cách mạng và sống hòa hợp với thiên nhiên là
một niềm vui lớn.
6. Ngắm
trăng
Là bài thơ tứ tuyệt giản dị mà hàm súc, cho thấy tình yêu
thiên nhiên đến say mê và phong thái ung dung của Bác Hồ
ngay cả trong cảnh ngục tù cực khổ tối tăm
7. Đi
đường
Là bài thơ tứ tuyệt giản dị mà hàm súc, mang ý nghĩa tư
tưởng sâu sắc; từ việc đi đường núi đã gợi ra chân lí đường
đời : vượt qua gian lao chồng chất sẽ tới thắng lợi vẻ vang.
8. Chiếu
dời đô
Lí Công
Uẩn
Chiếu
(Chữ
hán)
Phản ánh khát vọng của nhân dân về một đát nước độc lập,
thống nhất, đồng thời phản ánh ý chí tự cường của dân tộc
Đại Việt đang trên đà lớn mạnh. Bài chiếu có sức thuyết
phục mạnh mẽ vì nói đúng được ý nguyện của nhân dân, có
sự kết hợp hài hòa giữa lí và tình.
9.
Hịch
tướng

Tấu Với cách lập luận chặt chẽ , bài văn giúp ta hiểu mục đích
của việc học là để làm người có đạo đức có tri thức góp phần
làm hưng thịnh đất nước, chứ không phải để cầu danh lợi.
Muốn học tốt phải có phương pháp, học cho rộng nhưng
phải nắm cho gọn, đặc biệt học phải đi đôi với hành.
12
Thuế
máu
Nguyễn
Ái Quốc
Phóng
sự
Chính quyền thực dân đã biến người dân nghèo khổ ở các xứ
thuộc địa thành vật hi sinh để phục vụ cho lợi ích của mình
trong các cuộc chiến tranh tàn khốc. Nguyễn Ái Quốc đã
vạch trần sự thực ấy bằng những tư liệu phong phú, xác
thực, bằng ngòi bút sắc sảo. Đoạn trích Thuế máu có nhiều
nhiều hình ảnh giàu giá trị biểu cảm, có giọng điệu vừa đanh
thép vừa mỉa mai, chua chát.
13
Đi bộ
ngao
du
Ru-xô Tiểu
thuyết
Để chứng minh muốn ngao du cần phải đi bộ, bài Đi bộ
ngao du lập luận chặt chẽ, có sức thuyết phục, lại rất sinh
động do các lí lẽ và thực tiễn cuộc sống tác giả từng trải qua
luôn bổ sung cho nhau. Bài này còn thể hiện rõ Ru-xô là một


cầu
khiến
* Câu cầu khiến là câu có những từ cầu khiến như : hãy, đừng, chớ, đi, thôi, nào, hay ngữ
điệu cầu khiến; dùng để ra lệnh, yêu cầu, đề nghị, khuyên bảo
* Khi viết câu cầu khiến thường kết thúc bằng dấu chấm than, nhưng khi ý cầu khiến
không được nhấn mạnh thì có thể kết thúc bằng dấu chấm.
3. Câu
cảm
thán
* Là câu có những từ cảm thán như: ôi, than ôi, hỡi ơi dùng để bộc lộ trực tiếp cảm xúc
của người nói hoặc người viết, xuất hiện chủ yếu trong ngôn ngữ nói hàng ngày hay ngôn
ngữ văn chương.
- Khi viết câu cảm thán thường kết thúc bằng dấu chấm than.
4. Câu
trần
thuật
* Câu trần thuật không có đặc điểm hình thức của các kiểu câu nghi vấn, cầu khiến, cảm
thán; thường dùng để kể, thông báo, nhận đinh, miêu tả,
- Ngoài những chức năng trên đây câu trần thuật còn dùng để yêu cầu, đề nghị hay bộc lộ
tình cảm, cảm xúc ( vốn là chức năng chính của những kiểu câu khác).
* Khi viết câu trần thuật thường kết thúc bằng dấu chấm, nhưng đôi khi nó có thể kết thúc
bằng dấu chấm than hoặc dấu chấm lửng.
* Đây là kiểu câu cơ bản và được dùng phổ biến trong giao tiếp.
5. Câu
phủ
định
* Câu phủ định là câu có những từ ngữ phủ định như: không, chưa, chẳng, đâu
*Câu phủ định dùng để :
- Thông báo, xác nhận không có sự vật, sự việc, tính chất, quan hệ nào đó (Câu phủ định
miêu tả)

- m bo s hi hũa v mt ng õm ca li núi.
III. Phần tập làm văn
* Vn ngh lun: Mt s v dn ý tham kho
1 Tỏc dng ca sỏch i vi i sng con ngi
A. M bi
- Vai trũ ca tri thc i vi loi ngi
- Mt trong nhng phng phỏp con ngi cú tri thc l chm ch c sỏch bi sỏch l
ti sn quý giỏ, ngi bn tt ca con ngi .
B. Thõn bi
* Gii thớch : Sỏch l ti sn vụ giỏ, l ngi bn tt bi vỡ sỏch l ni lu gi ton b sn
phm trớ tu ca con ngi, giỳp ớch cho con ngi v nhiu mt trong cuc sng
* Chng minh tỏc dng ca sỏch
- Sỏch giỳp ta cú kin thc, m rng tm hiu bit , thu nhn thụng tin mt cỏch nhanh
nht+ DC chng minh
- Sỏch bi dng tinh thn , tỡnh cm cho chỳng ta chỳng ta tr thnh ngi tt + DC
- Sỏch l ngi bn ng viờn ,chia x lm vi i ni bun ca ta + DC
* Tỏc hi ca vic khụng c sỏch : Hn hp v tm hiu bit tri thc, tõm hn cn ci
* Phng phỏp c sỏch
- Phi chn sỏch tt, cú giỏ tr c
- Phi c k, va c va nghin ngóm ,suy ngh , ghi chộp nhng iu b ớch
- Thc hnh , vn dng nhng iu hc c t sỏch vo i sng.
C. Kt bi
- Khng nh sỏch l ngi bn tt
- Li khuyờn phi chm ch c sỏch , phi yờu quý sỏch

Đề 2 Hãy viết một bài văn nghị luận để khuyên một số bạn còn lười học, đi học không
chuyên cần.
A. Mở bài
Giới thiệu bài : Lười học là tình trạng phổ biến đối với học sinh hiện nay, nhất là học sinh
vùng nông thôn và vùng sâu xa

+ Luận điểm 1: Thiên nhiên là nơi cho ta sức khoẻ
- Nếu đứng trong một căn phòng nhỏ, và dầy khói thuốc lá và ở ngoài kia là thiên nhiên
hùng vĩ, có núi, có sông thì bạn sẽ chọn nơi nào? - Con người nếu như không có thiên
nhiên thì con người chỉ như một cái máy, chắc chắn không ai có thể thoát khỏi hội chứng
của sự căng thẳng. Thiên nhiên chính là liều thuốc bổ đối với sức khoẻ của con người
+ Luận điểm 2: Thiên nhiên đem đến cho ta sự hiểu biết niềm vui
- Tham quan thiên nhiên ta sẽ tích luỹ được các kiến thức về sinh học, vật lý hay hoá
học.
- Thiên nhiên là nơi ta thực hành những kiến thức mà ta tích luỹ được qua sách vở
- Gần gũi với thiên nhiên là thêm yêu đời, yêu cuộc sống, tạo nên cảm hứng sáng tác văn
học.
(Dẫn chứng một số nhà văn gần gũi với thiên nhiên trong văn học:Nguyễn Trãi trong Côn
Sơn ca)

* Cần gần gũi với thiên nhiên, yêu mến với thiên nhiên. Bằng cách: Cùng gia đình có
những ngày nghỉ cuối tuần đến với thiên nhiên; sưu tần các mẫu trong thiên nhiên; vẽ tranh
phong cảnh; chăm sóc cây xanh
C. Kết bài -Khái quát lại vai trò của thiên nhiên với đời sống con người. Lời kêu gọi mọi
người hãy gần gũi với thiên nhiên.
ĐỀ 5 Một số bạn lớp em đang đua đòi ăn mặc theo lối không lành mạnh, không phù hợp với lứa
tuổi học sinh, với truyền thống dân tộc, gia đình. Em hãy viết một bài văn nghị luận để thuyết phục
các bạn đó thay đổi cách ăn mặc cho đứng đắn hơn.
A. Mở bài - Vai trò của mốt trang phục đối với xã hội và con người có văn hoá nói chung
và tuổi học trò nói riêng.
B. Thân bài:
- Tình hình ăn mặc hiện nay của lứa tuổi học sinh
+ Đa số các bạn ăn mặc đứng đắn, có văn hoá
+ Tuy nhiên vẫn còn một số bạn đua đòi chạy theo mốt ăn mặc không lành mạnh ( đan xen
yếu tố tự sự, miêu tả )
- Tác hại của lối ăn mặc không lành mạnh

lập , Bác Hồ thiết tha căn dặn : “Non sông Việt Nam có trở học tập của các cháu”
Em hiểu lời dạy trên của Bác như thế nào

A. Mở bài : Giới thiệu nội dung câu nói của Bác Hồ gửi học sinh
B. Thân bài
- Thế nào là một dân tộc vẻ vang: Dân tộc độc lập , đời sống vật chất no đủ, đời sống tinh
thần lành mạnh, xã hội văn minh tiên tiến
- Sánh vai với các cường quốc năm châu có nghĩa là đưa nước ta phát triển ngang tầm vóc
với các cường quốc , khoa học kỹ thuật phát triển mạnh cùng nền văn hoá đa dạng , đậm đà
bản sắc
- Muốn có được điều đó phần lớn dựa vào công lao học tập của các cháu-> làm rõ mối
quan hệ giữa tương lai tươi sáng của dân tộc với …
- Liên hệ thực tế học sinh và thế hệ trẻ hiện nay đang và đã làm gì cho sự phát triển của đất
nước , liên hệ bản thân
C. Kết bài :Khẳng định lại vai trò của học sinh với tương lai đất nước
ĐỀ 8 Hình ảnh Bác Hồ qua các bài thơ: “Ngắm trăng” “Đi đường” “Tức cảnh Pác Bó”
A. Mở bài :
-Dẫn dắt, giới thiệu về 3 bài thơ có trong đề.
- Giới thiệu hình ảnh của Bác qua 3 bài thơ: Hoà nhập với thiên nhiên, yêu thiên nhiên;
luôn lạc quan trong mọi hoàn cảnh, có nghị lực phi thường.
B. Thân bài:
- Lần lượt làm rõ nội dung các luận điểm:
+Yêu thiên nhiên, hoà hợp với thiên nhiên ( dẫn chứng và phân tích dẫn chứng )
+ Có tinh thần lạc quan ( lấy dẫn chứng và phân tích )
+ Nghị lực phi thường ( lấy dẫn chứng và phân tích )
C Kết bài: - Khẳng định lại vấn đề. Nêu cảm xúc, suy nghĩ.
ĐỀ 9 Lời ca tiếng hát làm con người thêm vui vẻ,cuộc sống thêm tươi trẻ.Em hãy
chứng minh nhận xét trên.
A. Mở bài :
-Hàng ngày lời ca tiếng hát đến với con người và trở thành món ăn tinh thần của con

lc
C. Kt bi
Khng nh giỏ tr ca " Hch tng s, Chiu di ụ " , cm ngh ca bn thõn
Đề 11 : Thảm hoạ động đất, sóng thần tại Nhật Bản ngày 11/3/2011 vừa qua thật thảm
khốc khiến cho cả thế giới bàng hoàng xót thong bằng cả tấm lòng thơng ngòi nh thể
thong thân. Hãy trình bày suy nghĩ của em về những nghĩa cử cao đẹp đó.
Dàn ý và biểu điểm:
1. Kiểu bài: nghị luận giải thích, chứng minh
2. Vấn đề: Thơng ng nh thể thg thân.
3. Bài viết cần có đủ 3 phần: MB, TB, KB, diễn đạt mạch lạc, lập luận chặt chẽ và có sức
thuyết phục, xen một cách khéo léo các yếu tố miêu tả, biểu cảm, tự sự.
4. Dàn ý:
a) MB:
- Thảm hoạ tại Nhật Bản 11/3 và những nghĩa cử cao đẹp
- Dn câu tc ng thg ng nh thể thg thân
- Khẳng định đó là truyền thống đạo lí tốt đẹp
b) TB:
* GiảI thích:
- Tình thg và biểu hiện của tình thg ( biết quan tâm chia sẻ)
- Thg thân: Thg yêu chính bản thân mình
- Ng: Mọi ng xquanh ta ( anh em, bạn bè, gđình, lành xóm,đnc, dtộc )
- Thg ng: Tình thg thể hiện với mọi ng xquanh ( thg yêu đồng loại) nhất là khi họ lâm vào
hcảnh khoa khăn cơ cực
* Lập luận : Tại sao con ng phảI sống có tình thg?
- Con ng không thể sống lẻ loi ( Con ong làm mật yêu hoa.)
- Tình thân áI giữa con ng với con ng lam cho ta tốt đẹp hơn, nhất là khi ng khác lâm vào
hcảnh khó khăn một miếng khi đói
- Cội nguồn của tình thg yêu mà mỗi ng cần có đó chính là lòng nhân ái
* Chứng minh: Biểu hiện của tình thg
- Trong mối quan hệ ruột thịt : anh em nh thể chân tay

A. Lối học thụ động, bắt chước.
B. Lối học rập khuôn, không sáng tạo.
C. Lối học sách vở, không gắn với thực tiễn.
D. Lối học thực dụng, cầu danh lợi.
Câu 6. Phương tiện dùng để thực hành động nói là gì?
A. Nét mặt B. Cử chỉ C. Điệu bộ D. Ngôn
từ
Câu 7. Dòng nào nói đúng nhất về nội dung bài thơ “Khi con tu hú” ( Tố Hữu ) ?
A. Thể hiện lòng yêu cuộc sống của nhà thơ
B. Thể hiện lòng yêu thiên nhiên của nhà thơ
C. Thể hiện niềm khát khao tự do cháy bỏng của nhà thơ
D. Thể hiện lòng yêu cuộc sống và niềm khát khao tự do cháy bỏng của nhà thơ
Câu 8. Vai xã hội trong hội thoại là gì ?
A. Vị thế của những người tham gia hội thoại
B. Tình cảm của những người tham gia hội thoại
C. Lượt lời của những người tham gia hội thoại
D. Quan hệ thân – sơ của những người tham gia hội thoại
Câu 9. Dòng nào nói đúng điểm giống nhau giữa hai bài thơ “Nhớ rừng” ( Thế Lữ ) và
“Ông đồ”
( Vũ Đình Liên ) ?
A. Đều thể hiện sự bất hòa sâu sắc với cuộc sống hiện tại
B. Đều thể hiện sự hoài niệm về quá khứ

C. u th hin s khao khỏt t do
D. u th hin s thng cm lp ngi xa c
Cõu 10. Ct lừi t tng nhõn ngha ca Nguyn Trói trong vn bn Nc i Vit ta l
gỡ ?
A. Yờu nc, ỏnh k bo ngc.
B. Dit tr cỏc th lc tn bo, ngang ngc ngoi xó hi.
C. Yờn dõn, tr k bo ngc.

rộng thuộc địa
4. Những câu nào sau đây không có ý nghĩa phủ định?
A. Không phải là nó không biết. B. Trong tù không rợu cũng không hoa.
C. Qua đờng không ai hay. D. Ai chẳng có một thời cắp sách tới tr-
ờng.
5. Những dòng nào sau đây nêu đúng hiệu quả diễn đạt của việc sắp xếp trật tự các
cụm từ in đậm (gạch chân) trong câu văn: Từ Triệu, Đinh, Lí, Trần bao đời xây nền
độc lập Cùng Hán, Đ ờng, Tống, Nguyên mỗi bên xng đế một phơng?
A. Nhằm thể hiện trình tự theo thời gian của sự việc đợc nói đến.
B. Nhằm thể hiện quan hệ trong không gian của sự việc đợc nói đến.
C. Nhằm tạo mối liên kết giữa hai vế của câu văn.
D. Nhằm thể hiện thứ bậc quan trọng của sự việc đợc nói đến.
6. Trong văn nghị luận, yếu tố tự sự và miêu tả có vai trò gì?
A. Giúp cho việc trình bày các luận điểm, luận cứ chặt chẽ hơn
B. Giúp cho việc trình bày các luận điểm, luận cứ rõ ràng, cụ thể sinh động hơn
C. Giúp bài văn nghị luận dễ hiểu.
D. Giúp cho bài văn nghị luận mạch lạc hơn.
7- Vn bn ( on trớch) no sau õy khụng cựng th loi vi cỏc vn bn cũn li?

A .Hch tng s B. Quờ hng C .Nc i Vit ta D. Bn v phộp hc.
8- Vn bn no gn vi s kin chớnh tr quan trng thi Lý?
A. Hch tng s B. Chiu di ụ C. Nc i Vit ta D. Bn
v phộp hc.
9- Th hin tõm hn lóng mn, tỡnh yờu thiờn nhiờn trong cnh tự y ca Bỏc l ch
ca vn bn?
A. Ngm trng B. Tc cnh Pỏc Bú C. Khi con tu hỳ D. Quờ
hng.
10- Th hin tinh thn lc quan, phong thỏi ung dung ca Bỏc trong cuc sng cỏch
mng y khú khn, gian kh l ch ca vn bn?
A. Ngm trng B. Tc cnh Pỏc Bú C. Khi con tu hỳ D. Quờ

cuộc sống của nó trong quá khứ, nơi chốn giang sơn hùng vĩ của nó.

+ Đó là khung cảnh núi rừng hùng vĩ, tráng lệ với những đêm vàng bên bờ suối, với những
ngày ma rung chuyển cả bốn phơng ngàn, với những buổi bình minh rộn rã tiếng chim ca,
với những chiều sau rừng đỏ rực màu máu.
+ Trong khung cảnh hùng vĩ tráng lệ và cũng bí ẩn đó con hổ luôn luôn hiện ra với t thế uy
nghi của một vị chúa tể.
Câu 2 (5 điểm)
Tiêu chí Yêu cầu cần đạt
Thang
điểm
Hình thức
*Yêu cầu:
- Viết đúng kiểu bài Nghị luận văn học (chứng minh)
- Bố cục rõ ràng; hệ thống luận điểm chặt chẽ
- Câu và chữ đúng văn phạm
0,5
Nội dung
1. Mở bài
- Dẫn dắt vấn đề
- Giới thiệu đợc vấn đề cần chứng minh
- Trích dẫn
2. Thân bài: Chứng minh
Thái độ và hành động bịp bợm, dối trá của bọn thực dân bản địa đối với ngời
dân thuộc địa trớc chiến tranh, trong chiến tranh và sau chiến tranh
a. Trớc chiến tranh: Coi ngời dân thuộc địa là những ngời hạ đẳng, bản thỉu,
làm nhục, đánh đập họ.
b. Khi chiến tranh xảy ra:
- Tâng bốc họ thành những ngời bạn hiền, những đứa con yêu, những chiến
sĩ bảo vệ công lí và tự do để đẩy họ ra mặt trận làm bia đỡ đạn (dẫn chứng về


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status