tiểu luận tổng quan về thi trường tiền tệ - thị trường eurodolalar ( thị trường tiền gửi, cho vay ) - Pdf 15


Tiểu luận
TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG TIỀN
TỆ - THỊ TRƯỜNG EURODOLLAR (THỊ
TRƯỜNG TIỀN GỬI, CHO VAY)
Nhóm thực hiện : 3A


lượng lớn, tại các điểm giao dịch vốn lớn nhằm đáp ứng
các nhu cầu sản xuất kinh doanh
 Căn cứ vào điểm giao dịch:
 Thị trường Luân đôn
 Thị trường New York
 Thị trường Tokyo

Tổng quan về thị trường tiền tệ quốc tế:
Thị trường tiền tệ quốc tế là thị trường tiến hành các hoạt động mua
bán, chuyển giao, cho vay bằng ngoại tệ với thời hạn ngắn và lãi suất thích
hợp.
Đặc điểm của thị trường tiền tệ quốc tế
- Thị trường tiền tệ quốc tế rất rộng lớn, ở bất kỳ đâu, không có vị trì
địa lý được xác định chính thức của thị trường, thường 3 khu vực chính của
thị trường này là Châu Âu, Châu Á và Bắc Mỹ
- Các công cụ tài chính được giao dịch trên thị trường tiền tệ quốc tế có
thời hạn ngắn ( thường dưới 1 năm )
- Các công cụ trên thị trường này có tính lỏng cao, có độ an toàn lớn,
các thị trường riêng biệt của các công cụ này tạo ra thị trường tiền tệ thống
nhất
- Chủ thể chính tham gia thị trường là các nhà đầu tư quốc tế, các doanh
- nghiệp với hình thức tài chính đặc trưng là hình thức tài chính gián
tiếp. các ngân hàng thương mại thường đóng vai trò trung gian tài chính.

A/ Khái niệm và đặc điểm của thị trường eurodollar:
1. Khái niệm:
Ta sẽ bắt đầu tìm hiểu thế nào là “eurodollar” đó là đồng đô la Mỹ sử
dụng trong hoạt động tín dụng tại các nước bên ngoài nước Mỹ được gọi
chung là "Eurodollar". Lúc đầu Eurodollar chỉ được áp dụng cho thị trường
châu Âu, nhưng dần dần cho tới ngày nay khái niệm Eurodollar đã được

ngoại.

 Những nhân tố làm cho thị trường Eurodollars phát triển:
Chúng ta sẽ phân tích những nhân tố làm tăng cung tiền gửi trên thị trường
Eurodollars và những nhân tố làm tăng cầu tín dụng từ các Eurobanks
1/ Về cung tiền gửi Eurodollars:
 Fed (Cục dự trữ liên bang Hoa Kỳ) khống chế trần lãi suất
tiền gửi tối đa:
Trong những năm 1960 và 1970, thông qua Quy chế Q,Fed khống
chế trần lãi suất tối đa đối với các khoản tiền gửi tại các ngân hàng và các tổ
chức nhận tiền gửi ở Mỹ.Trong khi đó,các ngân hàng ở London và các trung
tâm tài chính khác lại không bị khống chế trần lãi suất huy động USD nên
trả lãi suất tiền gửi USD cao hơn và hấp dẫn được các USD chuyển sang
đây.Để đối phó với Quy chế Q,nhiều ngân hàng Mỹ đã mở chi nhánh ở nước
ngoài để thu hút các luồng vốn này.Nhưng quy chế này đã được dỡ bỏ(1970)
và các luồng tiền USD lại trở về Mỹ.
 Fed yêu cầu dự trữ bắt buộc và bảo hiểm tiền gửi:
Cung tiền gửi Eurodollars tăng lên từ lợi thế của các ngân hàng Mỹ
chuyển họat động ra nước ngoài để tránh Quy chế M của Fed về yêu cầu dự
trữ bắt buộc(1969).Vì khoản dự trữ bắt buộc không sinh lời,nên các hoạt
động ở hải ngoại chịu ít chi phí hơn do vậy đã kích thích các ngân hàng Mỹ
chuyển 1 số tài khoản tiền gửi của khách hàng sang thị trường hải ngoại tự
do.Do không bị khống chế Quy chế M nên các ngân hàng Mỹ ở hải ngoại có
mức lãi suất cao hơn so với các ngân hàng nội địa.
2/ Về cầu tín dụng Eurodollars:
 Những hạn chế vay USD tại Mỹ:
Trong những năm 1960 và 1970 do có những hạn chế đối với người không
cư trú trong việc tiếp cận tín dụng tại các ngân hàng ở Mỹ(nhưng các
Eurobanks lại không bị hạn chế) nên đã kích thích những người này quay
sang vay USD tại các Eurobanks.Đây được xem như tiền đề và là động lực

từ hàng trăm triệu đến nghìn triệu USD có nghĩa là chi phí hoạt động trung
bình liên quan đến mỗi USD nhận tiền gửi hay cho vay là rất thấp đối với
các Eurobanks.
Các Eurobanks tránh được đáng kể những chi phí phụ trội liên quan đến
tổ chức cán bộ, hành chính và sự chậm trễ phát sinh do phải tuân theo các
quy định tại mỗi ngân hàng nội địa trong khi đó các ngân hàng nội địa phải
chi 1 khoản khá lớn cho các họat động này.
Những hoạt động của các Eurobanks chịu sự cạnh tranh quốc tế mạnh mẽ và
có điều kiện dễ dàng tham gia hoạt động trên thị trường này hơn.
Các Eurobanks không phải trả phí bảo hiểm tiền gửi, trong khi đó các ngân
hàng Mỹ phải trả phí bảo hiểm tiền gửi.
Nhìn chung, đội ngũ khách hàng được các Eurobanks cho vay đều là những
khách hàng có chất lượng cao, có tỷ lệ vỡ nợ không đáng kể còn ngân hàng
nội địa thì ngược lại.Nên thu thêm một khoản phí cho vay để bù đắp rủi ro,
làm cho mức lãi suất cho vay bị đội lên và mức lãi suất tiền gửi giảm xuống.
4/ Thặng dư thương mại của các nước OPEC:
Trên cơ sở cú sốc giá dầu những năm 73/74 và năm 78, các Eurobanks đã
cho vay hỗ trợ các nước nhập khẩn dầu đang gặp khó khăn trong cán cân
thanh toán quốc tế nên Eurobanks đã đóng vai trò quan trọng trong việc chu
chuyển vốn nhàn rỗi từ những quốc gia xuất khẩn dầu đếnnhững nước nhập
khẩn dầu đang có nhu cầu USD.Phần lớn các khoản tín dụng của Eurobanks
cấp cho các nước đang phát triển đều dưới hình thức đồng tài trợ vốn(hợp
vốn).
5/Vai trò thâm hụt cán cân thương mại Mỹ:
Trong thời kỷ đầu phát triển,nguyên nhân tăng trưởng của thị trường
Eurodollars thường được gắn với thâm hụt cán cân thương mại của
Mỹ.Thâm hụt cán cân thương mại của Mỹ đồng nghĩa với việc người không
cư trú có thu nhập bằng USD và tích lũy chúng tuy nhên nó cũng chỉ đóng
vai trò mờ nhạt trong việc mở rộng tiền gửi Eurodollars.
Tiền gửi Eurodollars tại các Eurobanks chỉ phát triển khi có lợi cho người

dàng mua bán lại trên thị trường thứ cấp,điều này làm cho NCD có tính
thanh khoản cao hơn so với tiền gửi kỳ hạn.Tuy nhiên các Euro NCD không
phải bằng USD lại có tính thanh khoản không cao.
+Thị trường NCD bắt đầu hoạt động tại London với đồng Eurodollar
vào năm 1967. Tính theo Eurodollar,các NCD chiến khoảng 20% nguồn vốn
của các Eurobank,80% còn lại là tiền gửi có kỳ hạn thông thường.
+Từ năm 1981,một số ngân hàng tại London như Barclays Bank
International,Chemical Bank,Hong Kong Bank…đã huy động SDR bằng
phương thức phát hành NCD như các loại tiền gửi kỳ hạn khác.
Sự tiện lợi của tiền gửi Eurodollar:
Trong những năm cuối 1960 eurodollar tăng trưởng mạnh do sự tiện
lợi của chúng.Eurodollars tiện lợi hơn nhiều so với những USD nằm trên tài
khoản tại các ngân hàng ở Mỹ. Những công dân Châu Âu và những công
dân khác không phải công dân Mỹ có những khoản thu và chi thường bằng
USD không bằng nhau tại mỗi thời điểm. Rủi ro hoạt động của thị trường
Eurodollar không những ảnh hưởng gián tiếp mà còn ảnh hưởng trực tiếp
đến nền kinh tế của nước chủ quyền đồng tiền này. Một trong những mối
quan tâm chính đến thị trường Eurodollar là thị trường này bao gồm một
khối lượng khổng lồ nguồn vốn có khả năng tạo tín dụng nhưng lại không có
bất cứ một quy chế điều chỉnh nào.
VD: những người nước ngoài không phải công dân Mĩ có những
khoản thu và chi bằng USD.Khi có nhu cầu sử dụng họ có thể bán USD lấy
nội tệ hay đổi nội tệ lấy USD.Tuy nhiên sẽ phải chịu phí giao dịch là chênh
lệch tỷ giá mua-bán và các rủi ro tỷ giá.Vì thế sẽ hiệu quả và thuận lợi hơn
nhều nếu họ kí gửi USD tại 1 NH ở xung quanh họ ngay tại nước bản địa mà
không phải nước Mĩ. Điều này trở thành động lực khiến cho thị trường
Eurocurrency phát triển nhanh chóng.

3.Các loại giao dịch trên thị trường tiền gửi:
a. Giao dịch qua đêm: (J+1, Overnight, O/N). Tức là giao dịch mà

phủ nào đó. Trong trường hợp này, một nhóm ngân hàng sẽ đứng ra dàn xếp
giao dịch này, cùng đồng thời cho vay. Một ngân hàng đứng đầu chịu trách
nhiệm thương lượng với khách hàng, các ngân hàng khác tham gia tài trợ
cho khoản nợ này. Nhóm ngân hàng này thường được hình thành trong
khoản 6 tuần hoặc ít hơn hếu khách hàng là một tổ chức có tên tuổi, bởi rủi
ro tín dụng trong trường hợp này sẽ được thẩm định một cách nhanh chóng.
 Người đi vay phải gánh chịu nhiều khoản chi phí cho bên cạnh lãi suất
của khoản nợ vay. Bao gồm: chi phí chi trả cho việc tổ chức các ngân hàng
đồng tài trợ và bảo lãnh vay. Them vào đó là khoảng 0,25 – 0,5% được trả
hàng năm cho việc gia hạn tín dụng
 Các khoản vay tài trợ được định danh bằng nhiều đồng tiền khác
nhau. Lãi suất phụ thuộc vào đồng tiền định khoản vay, thời gian đáo hạn, và
khả năng trả nợ của đơn vị đi vay. Và thường được điều chỉnh theo biến
động của lãi suất cho vay lien ngân hàng có thể điều chính 6 tháng đến 1
năm 1 lần
 Các khoản cho vay đồng tài trợ làm tăng khả năng hoàn trả các khoản
vay một cách nhanh chóng

3/ Lãi suất:

 Điểm quan trọng nhất của thị trường tiền Châu Âu là việc vay, cho
vay được dựa trên cơ sở lãi suất thả nổi. Lãi suất cho vay đối với chính phủ
và các cơ quan chính phủ, những tập đoàn, cho đến các ngân hàng được định
trên lãi suất biên tế cố định (fixed margin) trên LIBOR (London Interbank
Offer Rate-LIBOR) cho 1 thời hạn và 1 đồng tiền chọn trước. Tới mỗi cuối
hạn kỳ, lãi suất cho kỳ tới được tính ở mức lãi suất biên tế cố định trên
LINOR mới

 Hay có thể nói : Mức lãi suất quan trọng nhất trên thị trường
Eurodollar là lãi suất cho vay liên ngân hàng tại London.Lãi suất này được

ạn

USD

EUR

JPY

CHF

GBP

1
tháng

0,52313

1,20146

0,48500

0,25000

1,12875

2
tháng

0,97063



0,55333

1,98000

12
tháng

2,00625

1,91118

0,95000

0,86500

2,15313

Theo nguồn : www.thitruonggiaca.com.vn/

 Lãi suất biên tế, hoặc mức chênh lệch giữa chi phí vốn của ngân hàng
cho vay và lãi suất tính cho người vay, thay đổi tùy theo người vay và được
tính dựa trên cơ sở rủi ro có thể có từ người vay. Đặc biệt mức này có thể từ
dưới 0,5% đến 3% với mức trung bình từ 1-2% tùy nơi. Đáo hạn của khoản
vay cũng có thể từ 3-10 năm. Các đáo hạn thường thay đổi theo thời gian,
lúc đầu thường khoản 5 năm, ngày nay thì từ 8 hay 10 năm cho người vay
lần đầu tiên. Người cho vay trên thị trường này hầu hết là những ngân hàng
độc quyền. Với bất kỳ món vay đơn giản nào đều có một số ngân hàng tham
gia tạo nên một liên kết. Ngân hàng gốc của món nợ thường sẽ quản trị hiệp
hội này. Ngân hàng này, ngược lại có thể mời 1-2 ngân hàng khác cùng quản

asiadollar market ). Hầu hết các hoạt động của thị trường này diễn ra ở
Hoongkong và Singapore.

 Nét khác nhau cơ bản của thị trường đô la Châu Á và thị trường đồng
tiền Châu Âu là địa điểm. Cũng giống như thị trường đồng tiền Châu Âu, thị
trường đô la Châu Á tăng trưởng để đáp ứng nhu cầu của hoạt động kinh
doanh sử dụng đô la Mỹ ( hoặc các đồng tiền ngoài nước khác) như là một
trung gian thanh toán trong thương mại quốc tê. Những hoạt động kinh
doanh này phụ thuộc vào ngân hàng châu âu vì sự bất tiện về khoảng cách
và sự chênh lệch múi giờ

 Nguồn huy động tiền chính của các ngân hàng Châu á là các công ty
đa quốc gia ( multi natural company – MNC ) và các cơ quan chính phủ có
vốn nhàn rỗi. người đi vay chủ yếu ở thị trường này là các nhà sản xuất.
Chức năng cơ bản của các ngân hàng ở thị trường đô la Châu Á là kênh
chuyển giao vốn giữa người gửi tiền và người đi vay. Một chức năng khác là
cho vay và đi vay liên ngân hàng. Các ngân hàng có nhiều khác hàng cần
vay tiền họ sẽ sử dụng thị trường liên ngân hàng để bổ sung nguồn quỹ. Các
ngân hàng ở thị trường Châu Á thường vay và cho vay trên thị trường đồng
tiền Châu Âu
 Ở thị trường này áp dụng chủ yếu là Lãi suất SIBOR (Singapore
Interbank Offering Rate). Lãi suất SIBOR (Singapore Interbank Offering
Rate) hoặc LIBOR (london interbank offerring rate) lã lãi suất cho vay liên
ngân hàng, nó chỉ có quan hệ gián tiếp tới yếu tố rủi ro (rủi ro hệ thống). Có
hai lý do sau mà đây không trực tiếp phản ánh rủi ro hệ thống:
1. Rủi ro được đo lường bằng chỉ số riêng phản ảnh rủi ro. Rủi ro chỉ được
phản ảnh gián tiếp thông qua lãi suất (rủi ro càng cao, lãi suất càng cao)
2. Lãi suất của các khoản cho vay liên ngân hàng, mà trong thực tế, trong
portfolio của chúng ta có các khoản đầu tư chứng khoán, trái phiếu, v.v. nữa.
Cho nên lãi suất SIBOR chẳng hạn, chỉ phản ánh lãi suất của một danh mục

0,59375

6
tháng
1,74000

0,71875

9
tháng
1,86600

0,78125

12
tháng
2,00200

0,87500


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status