Đề án môn học GV hướng dẫn: Ths. Nguyễn Thị Minh Quế
1
Tiểu luận
TỔNG QUAN VỀ VÀNG VÀ THỊ TRƯỜNG VÀNG
Đề án môn học GV hướng dẫn: Ths. Nguyễn Thị Minh Quế
2 CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ VÀNG VÀ THỊ TRƯỜNG VÀNG
1.1. TỔNG QUAN VỀ VÀNG
khi nào những trầm tích vàng lớn được phát hiện. Bởi giá trị cao từ trong lịch sử,
đa số vàng đã được khai thác trong suốt lịch sử vẫn đang được lưu hành dưới hình
thức này hay hình thức khác.
1.1.3 Chế độ bản vị vàng
1.1.3.1 Khái niệm
Chế độ bản vị vàng là chế độ tiền tệ trong đó đồng tiền của 1 nước được đảm bảo
bằng 1 hàm lượng vàng nhất định theo pháp luật
1.1.3.2 Đặc điểm
- Dưới chế độ bản vị Vàng, quốc gia ấn định cố định giá trị đồng tiền của
mình với vàng, sẵn sàng mua bán vàng ở mức giá quy định không hạn chế.
Ví dụ trong trường hợp của Mỹ, giá của 1 troy ounce vàng nguyên chất là
20.67 USD, do đó sở đúc tiền Mỹ sẵn sàng không hạn chế mua vàng vào và
bán ra ở mức giá này. Bản vị vàng giữa 2 đồng tiền trở thành tỷ lệ trao đổi
giữa chúng.
- Dưới chế độ bản vị vàng, xuất khẩu và nhập khẩu vàng giữa các quốc gia
được tự do hoạt động. Do vàng được tự do chu chuyển giữa các quốc gia,
cho nên tỷ giá trao đổi thực tế trên thị trường tự do không biến động đáng kể
so với bản vị vàng.
- Dưới chế độ bản vị vàng, NHTW luôn phải duy trị một lượng vàng dự trữ
trong mối quan hệ trực tiếp với số tiền phát hành. Số vàng dự trữ này nhằm
Đề án môn học GV hướng dẫn: Ths. Nguyễn Thị Minh Quế
4
đảm bảo cho NHTW xử lý uyển chuyển việc chuyển đổi tiền ra vàng mà
không gặp bất cứ 1 trở ngại nào. Tiền do NHTW phát hành được đảm bảo
bằng vàng 100%. Quy định này buộc NHTW khi muốn mở rộng cung ứng
tiền cho nền kinh tế phải tuân thủ kỷ luật “chỉ phát hành tiền khi có luồng
vàng từ công chúng chảy vào NHTW”. Khả năng thay đổi cung ứng tiền
chính là sự thay đổi lượng vàng có sẵn trong tay người cư trú. Như vậy trong
- Hạn chế: +Nền kinh tế thường xuyên phải trải qua sự bất ổn định do phải
điều chỉnh cán cân thanh toán quốc tế thông qua giá cả, lãi suất,
+ Quốc gia có thâm hụt cán cân thanh toán quốc tế phải trải qua
thời kỳ kinh tế đình đốn trong khi quốc gia có thặng dư cán cân thanh toán lại
phải trải qua thời kỷ lạm phát.
+ Trữ lượng vàng quyết định cung ứng tiền tệ của quốc gia, trở
thành nguyên nhân kìm hãm phát triển kinh tế. Những phát hiện về các mỏ
vàng có thể xuất hiện bất cứ lúc nào, là nguyên nhân làm tăng lượng cung
ứng tiền, tăng lạm phát đột biến.
+ Tồn tài luồng vàng ròng di chuyển giữa các quốc gia
1.1.3.4 Chế độ bản vị vàng hiện đại 1925-1931
- Chế độ bản vị vàng sau chiến tranh gặp nhiều khó khăn, biến dạng không
giống như bản vị vàng nguyên thủy 1980-1914.
- Là chế độ bản vị hối đoái vàng: Tiền giấy không được trực tiếp chuyển đổi
ra vàng mà phải thông qua một ngoại tệ khác. Ngoại tệ đó phải đảm bảo:
+ Được chuyển đổi tự do và không hạn chế ra vàng
+Được tin cậy làm phương tiện trong thanh toán quốc tế, được chấp
nhận rộng rãi
- Hoạt động không ổn định như chế độ vàng cổ điển 1880-1914
- NHTW thay đổi cơ cấu dự trữ quốc tế, chuyển từ vàng sang nắm giữ ngoại
tệ được chuyển đổi ra vàng như bảng Anh và ngày càng nhiều bằng Đô la
Đề án môn học GV hướng dẫn: Ths. Nguyễn Thị Minh Quế
6
- Sau cuộc Đại suy thoái kinh tế 1931: chế độ bản vị vàng hối đoái sụp đổ
1.1.3.5 Sự sụp đổ của chế độ bản vị vàng
Số lượng vàng trên thế giới là hữu hạn và việc sản xuất không gia tăng so với nền
kinh tế thế giới. Với sự tăng trưởng mạnh của các nền kinh tế, sư gia tăng trao đổi
quốc tế, dự trữ vàng thế giới và thị trường của nó trở thành một nhánh nhỏ của toàn
khác. Hàm lượng vàng trong hợp kim được xác định bằng cara(k). vàng nguyên
chất được định là 24k, các đồng xu vàng được đưa vào lưu thông từ năm 1526 đến
năm 1930 là hợp chất vàng tiêu chuẩn 22k gọi là vàng hoàng gia.
1.1.4.2 Cất giữ của cải
Nhiều người sở hữu vàng và giữ chúng dưới hình thức các thỏi nén hay thanh như
một công cụ cất giữ của cải. Vàng được thừa nhận giá trị, và có giá trị tương đối ổn
định so với các hàng hóa khác
1.1.4.3 Trang sức
Do vàng nguyên chất mềm, vàng thường được kết hợp với các kim loại khác để
làm các đồ nữ trang cho con người. Lĩnh vực dùng vàng vào ngành trang sức ngày
càng phát triển, và gia tăng vị trí của nó trong các ngành chế tác ứng dụng vàng.
1.1.4.5 Y tế
Các hợp kim vàng được sử dụng trong việc phục hồi nha khoa, đặc biệt là răng.
Tính dễ uốn của các hợp kim vàng tạo điều kiện thuận lợi cho việc tạo bề mặt kết
nối răng.
Vàng keo được sử dụng trong nghiên cứu ý khoa, sinh học và khoa học vật liệu
1.1.4.6 Công nghiệp
Hàn vàng được dùng để gắn kết các thành phần vàng trang sức bằng chất hàn
cứng nhiệt độ cao hay đồng thau.
Vàng có thể được chế tạo thành sợi chì và được dùng trong thêu thùa
Vàng có thể chế tạo thành lá vàng
Vàng cũng được ứng dùng để chuyển đổi màu của các điểm trắng và đen trên giấy
ảnh thành màu xanh và xám trong công nghệ ảnh.
Đề án môn học GV hướng dẫn: Ths. Nguyễn Thị Minh Quế
8 1.1.5 Đơn vị đo lường và cách quy đổi giá vàng thế giới và vàng trong nước
- Trên thị trường thế giới, vàng thường được đo lường theo hệ thống khối
Các nhóm thành viên thị trường duy trì quan hệ liên tục với nhau thông qua các
phương tiện điện tử: điện thoại, mạng vi tính, telex và fax. Do thông tin được
truyền đi rất nhanh và hiệu quả nên tuy các thành viên tham gia thị trường ở rất xa
nhau, nhưng vẫn như đang hoạt động dưới một mái nhà chung
- Thị trường nhạy cảm với chính sách tiền tệ của các quốc gia, các sự kiện chính
trị, kinh tế, xã hội, tâm lý.
1.2.3 Phân loại
1.2.3.1 Thị trường vàng giao ngay
Thị trường vào giao ngay là thị trường mà ở đó việc mua và bán vàng được thực
hiện ngay hoặc chậm nhất là sau 2 ngày kể từ thời điểm thỏa thuận. Các nghiệp vụ
này được thực hiện trên cơ sở giá vàng giao ngay, giá được xác định và có giá trị
tại thời điểm giao dịch
1.2.3.2 Thị trường vàng kỳ hạn
Thị trường vàng kỳ hạn là thị trường mà ở đó việc mua bán vàng sẽ được thực
hiện sau một thời gian nhất định kể từ khi thỏa thuận. Thị trường vàng kỳ hạn là
nơi cung cấp phương tiện phòng chổng rủi ro khi giá vàng biển đổi bất thường.
Hợp đồng mua bán vàng kỳ hạn được sử dụng để cố định giá mua hoặc bán vàng
theo một mức giá cố định đã biết trước mà không cần tính đến sự biến động của giá
vàng trên thị trường.
1.2.4 Mối quan hệ giữa thị trường vàng và các thị trường đầu tư khác
1.2.5 Các nhân tố tác động đến giá vàng và thị trường vàng
- Trên thế giới: biến động USD, biến động giá dầu, tình hình lạm phát
- Ở Việt Nam: giá vàng thế giới, cung cầu vàng, chính sách về vàng của nhà nước
Đề án môn học GV hướng dẫn: Ths. Nguyễn Thị Minh Quế
10
Khi chênh lệch giữa giá vàng trong nước và giá vàng quốc tế tăng cao, những người
đầu cơ thường mua USD để mang lậu vàng vào, áp lực giảm giá đối với tiền đồng
ngày một lớn hơn.
trang sức tăng 17% nhờ sức mua tăng mạnh tại hai quốc gia tiêu thụ vàng hàng đầu
thế giới là Ấn Độ và Trung quốc, tổng nhu cầu ở 2 quốc gia này chiếm hơn 1 nửa
nhu cầu vàng trang sức thế giới. Sau Ấn Độ va Trung Quốc lượng mua vào của các
ngân hàng trung ương( NHTW) trên thế giới lần đầu tiên trong 21 năm qua đã vượt
lượng bán ra, nguyên nhân đẩy vàng tăng giá và đạt mức kỷ lục.
Qúy 4 năm 2010, nhập khẩu ròng vàng của Ấn Độ tăng gần 30% sau 2 năm
bị kìm nén, sức mua tăng bất chấp giá vàng cao nhằm mục tiêu tránh thuế do chính
phủ Ấn Độ đã quyết định nâng thuế nhập khẩu vàng bắt đầu từ ngày 28/2/2011. Ở
Trung Quốc, nhu cầu vàng tại quốc gia này tăng 70% so với năm trước riêng nhu
cầu vàng trang sức đạt con số kỷ lục 428 tấn, đưa quốc gia này trở thành thị trường
vàng lớn thứ 2 thế giới. Các NHTW các nước đang phát triển như Trung Quốc,
Nga và Thái Lan đã tăng cường mua vàng nhằm bảo tồn và đa dạng hóa dự trữ
ngoại tệ. Một số NHTW ở châu Âu bắt đầu bán ra khi giá vàng tăng, nhưng sau đó
lại mua vào khi xảy ra cuộc khủng hoảng nợ công và lo ngại rủi ro.
Theo đánh giá của Cục Dự Trữ liên bang Mỹ, kinh tế Mỹ sẽ phục hồi mạnh sau
thời kỳ suy thoái và sẽ là động lực thúc đẩy tăng trưởng toàn cầu. Sự thiếu phối
hợp giữa các nền kinh tế hàng đầu trong việc tái cân bằng kinh tế toàn cầu sẽ làm
thiết lập một mặt bằng giá mới, trong khi USD tiếp tục mất giá. Rối loạn Lybia, và
tình hình căng thẳng khu vực Trung Đông đã gây tâm lý lo âu về bất ổn trên phạm
vi toàn cầu
Trong khi đó trên thế giới tình hình khu vực đồng euro chưa sáng sủa, quan hệ
thương mại Mỹ- Trung còn căng thẳng, giá cả lương thực và nguyên nhiên liệu tiếp
tục leo thang do nhu cầu ngày càng tăng của các nền kinh tế mới nổi.
Đề án môn học GV hướng dẫn: Ths. Nguyễn Thị Minh Quế
12
Tóm lại, lạm phát tiếp tục hoành hoành, bạo đồng xã hội còn u ám, nhu cầu vàng
tại Ấn Độ có thể hạ nhiệt, nhưng nhu cầu vàng tại Trung quốc và một số nước châu
Á tiếp tục tăng đã làm cho giá vàng tăng cao. Mức độ rủi ro của việc đầu tư quá
trong ngày 15.7, dấu hiệu cho thấy nhu cầu sẽ còn gia tăng đối với hàng hoá kim
loại quý này.
2.1. THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG VÀNG VIỆT NAM TỪ 2010 ĐẾN NAY
2.1.1 Tình hình khai thác vàng
Vàng là một trong số những khoáng sản có diện phân bố rộng nhất Việt Nam, có
nhiều nguồn gốc và quặng hóa khác nhau. Vàng tập trung chủ yếu ở phần rìa vùng
trũng song hiển ( Pắc lạng, Nà pái), dọc theo các đứt gãy sâu sông Hồng, Sông Đà,
sông Mã hoặc ở phần rìa các khối nâng Hòa Bình( mỏ Kim Bôi), Kon Tum(mỏ
Bồng Miêu, Trà Năng, Suối Ty).
Vàng gốc phát triển chủ yếu trong một số kiểu thành hệ khoáng hóa như: thạch
anh-vàng(mỏ Bồ Cu- Thái nguyên), vàng- bạc( Nà Pái, Xà Khía).
Vàng cộng sinh: đây là nguồn tài nguyên khá quan trọng, hiện nay đã phát hiện
vàng cộng sinh với antimon, đồng, thiếc, chì, kẽm song có ý nghĩa kinh tế hơn cả
là vàng trong mỏ đồng Sinh Quyền với trữ lượng gần 35 tấn và hàm lượng trung
bình Au=0,46-0,55 g/t.
Các nhà địa chất thống kê rằng trữ lượng vàng của nước ta còn khoảng 1000-
3000 tấn. Các mỏ quặng nằm rải rác ở các tỉnh Bắc Cạn, Cao Bằng, Quảng Nam
với quy mô khác nhau. Tuy vậy 95% trữ lượng vàng tiêu thụ trong nước đều được
nhập khẩu.
Đề án môn học GV hướng dẫn: Ths. Nguyễn Thị Minh Quế
14
Vàng được khai thác ở VN hiện nay đa số là vàng nguyên chất, lẫn quặng, chất
lượng thấp và thô sơ. Do vậy còn phải xuất khẩu sang nước ngoài gia công và nhập
khẩu vàng về tiêu thụ trong nước.
Lợi nhuận cao, số doanh nghiệp tham gia vào khai thác vàng ngày càng gia tăng.
Đầu tư cho khai thác vàng cũng ngày một lớn. Tuy vậy đóng góp của khai thác
vàng vào GDP lại ngày càng giảm. Khai thác bừa bãi, đất nước ngày một nghèo đi,
môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng là những nghịch lý trong việc khai thác vàng.
Qúy I/ 2011, hội đồng Vàng thế giới (WGC) công bố lượng vàng tiêu thụ ở Việt
Nam là 19.2 tấn, tăng 2% so với cùng kỳ năm trước. Vàng được coi là kênh trú ẩn
an toàn trong thời kỳ lạm phát tăng cao như hiện nay. Gía trị của tổng lượng vàng
tiêu thụ ở Việt Nam tương đương với 878 triệu USD, tăng 28% so với cùng kỳ
2010. Nhu cầu vàng nữ trang ở Việt Nam quý I/2011 tương đương với 5.5 tấn,
trong khí đó vàng đầu tư tăng 1%, tương ứng 14.2 tấn.
2.1.3.Tình hình nhập khẩu vàng
- 95% trữ lượng vàng tiêu thụ trong nước đều được nhập khẩu. Nhập khẩu chiếm
quy mô gần tuyệt đối trong thị trường vàng Việt Nam. Do vậy mọi biến động về
giá vàng quốc tế đều gây ra những ảnh hưởng trực tiếp và mạnh mẽ đến thị trường
vàng Việt Nam.
- Việt Nam cho phép nhập khẩu vàng từ những năm 90. Năm 1997, Nhà nước cấm
nhập vàng do khan hiếm ngoại tệ. Đến năm 2001, nhà nước Việt Nam chính thức
cho phép nhập khẩu vàng trở lại, và được điều tiết bởi Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam. Các doanh nghiệp kinh doanh muốn nhập khẩu phải xin hạn ngạch và giấy
phép từ ngân hàng nhà nước.
Hoạt động nhập khẩu vàng bị quản lý chặt chẽ bởi NHNN. Tháng 5/2008, NHNN
ngừng cấp phép nhập khẩu vàng trong động thái để kiềm chế thâm hụt thương mại,
làm dịu áp lực lạm phát và giúp bình ổn nền kinh tế.
Đề án môn học GV hướng dẫn: Ths. Nguyễn Thị Minh Quế
16
Năm 2006, Việt Nam nhập khẩu 91 tấn vàng, số vàng được nhập trong năm
2007 va năm 2008 lần lượt là 51 và 90.5 tấn. Hiệp hội kinh doanh vàng Việt Nam
cho rằng Việt Nam hiện có thểđang nắm giữ khoảng 500 tấn vàng. Người Việt
Nam quá quen với lạm phát cao và bất ổn trong nhiều năm, thường có thói quen dự
trữ vàng. Người Việt Nam nắm giữ vàng tính trên mỗi đồng đô la thu nhập nhiều
hơn bất kỳ người dân nước nào trên thế giới.
nhap khau vang, quyet dinh nhap khau vang khien viet nam lo to, nhap khau vang co phai la
USD/ounce thì với 5 tấn vàng đã tiêu hóa hơn 300 triệu USD, trung bình 60 triệu USD/tấn vàng. Trong khi đó, nhiều
tháng trước, Việt Nam chỉ xuất khẩu với giá 40 triệu USD/tấn vàng. Như vậy, trước mắt toàn xã hội phải bù đắp 20
triệu USD/tấn vàng, tính ra phải bù đắp 100 triệu USD cho việc nhập khẩu 5 tấn vàng và nhiều khả năng tăng lên 200
triệu USD nếu số vàng nhập khẩu lên tới 10 tấn trong vài ngày tới.
Thực tế cho thấy những bất cập trong cơ chế điều hành xuất nhập khẩu vàng là nguyên nhân sâu xa dẫn đến cơn
sốt vàng và những thiệt hại không đáng có. Từ năm 2008 đến nay, mỗi năm, NH Nhà nước chỉ cho phép nhập khẩu
vàng vài đợt với số lượng nhỏ giọt, gắn liền với những thời điểm người dân đổ xô mua vàng, giá trong nước cao hơn
giá thế giới hàng triệu đồng/lượng. Trong khi đó, hạn ngạch xuất khẩu vàng gần như bỏ ngỏ. Doanh nghiệp chỉ cần
có giấy phép hoặc giấy chứng nhận đủ điều kiện xuất khẩu; hạ hàm lượng, trọng lượng vàng để hưởng thuế suất 0%
là xuất được hàng chục tấn vàng ra nước ngoài. Hệ quả là cung cầu về vàng nhiều thời điểm mất cân đối, giới đầu
cơ tranh thủ làm giá. Biểu hiện rõ nhất là những ngày gần đây, chỉ trong vài giờ, giá vàng trong nước tăng – giảm 1-2
triệu đồng/lượng, trong khi sức mua bán vàng vào những thời điểm đó rất yếu.
Giá vàng giảm mạnh – nhap khau vang
Ngày 10-8, thị trường vàng TPHCM trở nên trầm lắng sau hai ngày “nổi sóng”, giá vàng giảm mạnh về mốc 44,5 triệu
đồng/lượng. Lúc 16 giờ, Công ty Vàng bạc Đá quý Sài Gòn (SJC) niêm yết giá mua bán lần lượt là 44,1 triệu – 44,6
triệu đồng/lượng. Mức giá này cũng được các thương hiệu vàng lớn tại Hà Nội niêm yết. So với chiều hôm trước,
vàng giảm 500.000 đồng/lượng và giảm gần 2 triệu đồng/lượng so với “đỉnh” ngày 9-8.
Cùng ngày, giá vàng thế giới cũng có phiên biến động mạnh với biên độ rộng. Lúc 16 giờ ngày 10-8 (giờ Việt Nam),
giá vàng thế giới giảm về mốc 1.743 USD/ounce, giảm 7 USD/ounce chiều hôm trước. Giá vàng thế giới giảm mạnh
trước áp lực chốt lời của nhà đầu tư. Hiện quy đổi theo tỉ giá USD trong NH, vàng thế giới đang ở mốc 43,7 triệu
đồng/lượng, thấp hơn giá trong nước gần 1 triệu đồng/lượng.
T.Phương
Đề án môn học GV hướng dẫn: Ths. Nguyễn Thị Minh Quế
18
Cần dự báo xu hướng thị trường
TS Lê Xuân Nghĩa, Phó Chủ tịch Ủy ban Giám sát Tài chính quốc gia, cho rằng cơ quan quản lý cần dự báo xu
hướng thị trường vàng để từ đó đưa ra quyết định xuất nhập khẩu vàng linh hoạt, cân đối cung cầu thị trường. NH
Nhà nước nên học tập NH Trung ương Trung Quốc, tức là điều hành xuất nhập khẩu vàng sao cho giá trong nước
tăng 22% so với đầu năm. Vàng đã trở thành tài sản đặc biệt, không chỉ các Ngân hàng trung ương (NHTW)
mà các quỹ đầu tư nhỏ lẻ rất quan tâm. Giá vàng thế giới tăng do 3 nguyên nhân chính:
Khủng hoảng tài chính toàn cầu khiến nhà đầu tư tìm đến vàng như một chỗ trú ẩn an toàn: Nhân tố chính kích
động giá vàng là lạm phát hoành hành các nền kinh tế. Trong hai năm qua, cùng với các chiến dịch kích thích
tăng trưởng kinh tế, các NHTW của Mỹ, châu Âu, Trung Quốc, Nhật Bản và nhiều nước khác đã tìm cách tăng
Đề án môn học GV hướng dẫn: Ths. Nguyễn Thị Minh Quế
19
chi tiêu đồng thời in thêm tiền mặt. Hàng nghìn tỷ USD được bơm vào nền kinh tế toàn cầu, khiến lạm phát gia
tăng.
Mặt khác, các yếu tố quốc tế đầy rủi ro sau khủng hoảng khiến vàng trở thành tài sản được ưa chuộng để tích
trữ. Chiến dịch nới lỏng chính sách tiền tệ đã không thể thúc đẩy nền kinh tế và giảm thất nghiệp ở các nước
như mong muốn. Thay vào đó, luồng "tiền nóng" chảy sang các nền kinh tế đang nổi, nơi chúng được đổ vào
các mặt hàng giữ giá như vàng.
Tại Mỹ, sự mất lòng tin vào đồng USD khiến giá trái phiếu chính phủ Mỹ giảm mạnh và lãi suất tăng vọt. Cứ 18
ngày, Mỹ lại phát hành các loại giấy tờ ghi nợ tương đương giá trị sản lượng vàng khai thác 1 năm và mỗi năm
nước Mỹ vay nợ tương tương 1/3 tổng số lượng vàng hiện có trên thế giới. Tại Châu Âu, nợ xấu tại một số
quốc gia có biểu hiện ngày một trầm trọng hơn, thúc đẩy nhà đầu tư tìm đến kênh đầu tư vàng…
Cung yếu: Bất chấp giá vàng đang ở mức cao kỷ lục, các Công ty khai thác vàng không thể đáp ứng đủ mức
cầu. Dưới góc độ kinh tế, mỗi khi cầu tăng thì cung sẽ tăng theo, qua đó giữ giá ổn định. Tuy nhiên điều này
không xảy ra với vàng, đơn giản vì không có nguồn quặng mới đủ để tăng sản lượng khai thác và thay thế
lượng vàng đi vào tiêu dùng. Trong năm qua, sản lượng vàng thế giới chỉ tăng được 3%, trong khi giá vàng
tăng hơn 20%.
Cầu bùng nổ: Bên cạnh các yếu tố cơ bản khiến giá vàng luôn theo xu thế đi lên như: nhu cầu vàng trang sức
và vàng công nghiệp ngày càng tăng; tâm lý ưa chuộng vàng của một số quốc gia (điển hình là Trung Quốc và
Ấn Độ), thì động thái găm giữ vàng của các nhà đầu tư, các chính phủ đã khiến nhu cầu vàng năm 2010 tăng
vọt. Theo Hội đồng vàng toàn cầu, tổng giá trị đầu tư vào vàng trong quý 3/2010 tăng lên mức kỷ lục 9,6 tỷ
USD, tăng 60% so với cùng kỳ năm 2009. Đồng thời, các nhà đầu tư và một số NHTW, chủ yếu ở Trung Đông
và châu Á, cũng chuyển sang dự trữ vàng. Trong năm 2009-2010, các NHTW của Ấn Độ, Sri Lanka và Cộng
ổn nền kinh tế, NHNN ngừng cấp phép nhập khẩu vàng. Điều này hạn chế lượng ngoại hối dùng để nhập
vàng, nhưng lại tạo ra ít nhất là ý niệm khan hiếm vàng. Khi chênh lệch giữa giá vàng trong nước và thế giới
tăng cao, không được phép nhập khẩu qua đường chính thức, nhà đầu cơ đẩy mạnh mua USD để nhập lậu
vàng, tạo áp lực khan hiếm đồng USD và đẩy giá USD lên cao.
Thứ tư: tỷ giá hối đoái tăng cao
Giá vàng hiện chủ yếu được yết bằng USD, do vậy khi USD bị đẩy lên cao, đến lượt nó lại ảnh hưởng trực tiếp
đến giá vàng. Theo đó, khi giá USD tăng, giá vàng sẽ tăng tương ứng. Giá vàng tăng trong khi cầu về vàng
vượt quá cung khiến nhu cầu mua USD để nhập khẩu vàng tăng, lúc này, giá vàng đã tác động ngược trở lại
giá USD, tạo vòng xoáy giữa vàng, USD.
2. Tác động của giá vàng đến các yếu tố kinh tế vĩ mô và hoạt động của các Ngân hàng thương mại
(NHTM)
Theo báo cáo của Hội đồng Vàng thế giới, lượng vàng hiện có tại Việt Nam (lấy lượng vàng nhập khẩu trừ đi
số đã xuất khẩu) khoảng 1.000 tấn, tương đương với 45 tỷ USD. Tuy con số này chưa được công nhận,
nhưng chắc chắn một lượng vàng rất lớn đang được người dân nắm giữ, đang trở thành luồng vốn hoạt động
không chính thức, gây sức ép không nhỏ đến chính sách tiền tệ, tăng trưởng kinh tế nói chung và hoạt động
của các NHTM nói riêng.
Mặt khác, giá vàng tăng cao gây ảnh hưởng lớn đến hiệu quả của chính sách tiền tệ và ổn định kinh tế vĩ mô
trong trung hạn. Xét từ quan hệ ảnh hưởng từ trực tiếp đến gián tiếp có thể thấy tác động của giá vàng tăng
như sau:
- Ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng huy động nguồn vốn của khu vực tài chính: Khi giá vàng tăng người dân
rút tiết kiệm để đầu tư vàng thay vì gửi tiết kiệm tại ngân hàng. Đồng thời vốn rút ra lại loanh quanh ở TTV và
ngoại tệ dẫn đến khả năng huy động vốn của các NHTM bị giảm sút, ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh
của hệ thống ngân hàng nói riêng và nền kinh tế nói chung.
- Thị trường ngoại tệ tự do bành trướng: Tình trạng đô la hóa ở Việt Nam không chỉ biểu hiện bằng tỉ lệ tiền gửi
ngoại tệ/tổng tiền gửi trong hệ thống ngân hàng mà còn là khối lượng ngoại tệ lưu hành ngoài hệ thống tài
chính. Khi giá vàng tăng làm cho nhu cầu mua USD trên thị trường tự do để nhập khẩu vàng lậu lớn dẫn đến
tỷ giá USD tăng, khó kiểm soát.
- Nguy cơ lạm phát: Tuy chưa thống kê được quy luật cụ thể cho mối liên quan chặt chẽ giữa vàng và lạm
phát. Tuy nhiên, trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế dẫn đến hiện tượng dùng vàng để định giá các tài sản
lớn, điển hình là giá bất động sản. Khi vàng trở thành thước đo giá trị, việc vàng tăng giá kéo giá bất động sản
bất ổn kinh tế – xã hội, NHNN đã yêu cầu bãi bỏ kinh doanh vàng trên tài khoản ở trong nước dưới mọi hình
thức. Đồng thời, NHNN cũng huỷ bỏ quy định về việc kinh doanh vàng trên tài khoản ở nước ngoài của các
NHTM vì mức rủi ro của hoạt động này rất cao khi giá vàng thế giới có những biến động mạnh, lên xuống thất
thường với biên độ lớn.
Sau các biện phát siết chặt nguồn cung “vàng thật” và cấm kinh doanh “vàng ảo”, NHNN thực hiện hạn chế
các hoạt động huy động và cho vay vàng của NHTM trong nước:
Tháng 10/2010 NHNN ban hành Thông tư số 22/2010/TT-NHNN với mục tiêu hạn chế các hoạt động huy động
và cho vay vàng của các tổ chức tín dụng (TCTD): chỉ cho phép các TCTD huy động vốn bằng vàng thông qua
phát hành giấy tờ có giá, cho vay vốn bằng vàng để sản xuất (chế tác) và kinh doanh vàng trang sức (không
được cho vay để sản xuất và kinh doanh vàng miếng); TCTD không được chuyển đổi vốn huy động bằng vàng
thành VND và các hình thức bằng tiền khác.
Với mục tiêu làm giảm sức hấp dẫn của kênh đầu tư vàng, loại bỏ dần việc vàng hóa, NHNN hy vọng Thông tư
22 sẽ khiến các NHTM bán lượng vàng đang nắm giữ, làm giảm sức nóng của thị trường. Mặt khác, cơ chế
mới sẽ khắc phục rủi ro về kỳ hạn, thanh khoản và lãi suất đối với TCTD huy động và cho vay bằng vàng. Qua
đó tăng cường quản lý hoạt động kinh doanh vàng, ổn định thị trường ngoại hối, thị trường tiền tệ. Hiệu quả
của Thông tư cần phải có thời gian để đánh giá, tuy nhiên sau những biện pháp can thiệp nói trên, giá vàng
trong nước không còn có những biến động bất thường như thời gian trước nữ
Tờ “Thời báo Tài chính” ngày 23/7 dự báo giá vàng cuối năm 2011 có thể dao động ở mức thấp là 1.684 - 1.700
USD/oz; mức trung bình từ 1.760-1.780 USD/oz và mức cao từ 1.800 USD/oz đến 1.838 USD/oz. Giá vàng năm
2012 có thể đạt ngưỡng 2.000 USD/oz.
Có nhiều nguyên nhân khiến giá vàng tăng leo cao như nạn đầu cơ thao túng thị trường, đồng USD mất giá, khủng
hoảng nợ công ở châu Âu Nhưng một nguyên nhân quan trọng là các mỏ vàng đang dần khánh kiệt và giá thành
khai thác tăng cao.
Số liệu do Hiệp hội vàng thế giới công bố ngày 2/12/2010 cho biết hiện nay lượng vàng đã khai thác trên thế giới
khoảng 166.000 tấn, tổng trị giá 7.000 tỉ USD, trong đó dự trữ trong kho của các nước tới 29.300 tấn, chiếm 18%.
Dùng làm trang sức 83.700 tấn chiếm 50%, cá nhân nắm giữ 29.600 tấn, chiếm 18%. Xét về quan hệ cung-cầu thì
Đề án môn học GV hướng dẫn: Ths. Nguyễn Thị Minh Quế
Số liệu của Nam Phi cho biết năm 2009, sản lượng khai thác là 210 tấn, nhưng năm 2010 chỉ đạt 191,8 tấn, giảm
6,4%, hơn nữa tình hình khai thác cũng rất khó khăn. Trước đây ở độ sâu 39 mét bình quân mỗi tấn quặng cho 2,59
gram vàng, sau đó phải tiếp tục đào sâu tới 70 mét mới có vàng và mỗi tấn quặng cho 1,1 gram vàng. Mấy năm gần
đây thông thường phải đào sâu trên 100 mét, thậm chí có mỏ phải đào sâu tới 4.000 mét mới có quặng chứa vàng,
hơn nữa chất lượng không bằng vàng nằm ở gần mặt đất.
Giá vàng càng tăng cao, các nhà đầu tư càng đổ xô vào các mỏ vàng, thậm chí ở bang California Mỹ thời gian qua
dấy lên cơn sốt đi đào vàng, nhưng kết quả không khả quan vì những mỏ vàng thời James Marshall phát hiện năm
1848 nay đã khánh kiệt.
Tờ “The Economist” cho rằng giá vàng càng cao, các mỏ bị khoét càng sâu, nhưng đâu phải chỗ nào cũng có vàng.
Cơn sốt vàng đã dẫn đến hủy hoại môi trường sinh thái ở nhiều nơi. Nó chẳng những tác động tới kinh tế, thị trường
mà còn thúc đẩy tốc độ biến đối khí hậu.
Đề án môn học GV hướng dẫn: Ths. Nguyễn Thị Minh Quế
23
Năm 2010 là năm tăng kỉ lục của vàng khi mỗi lượng vàng trong nước tăng
đến 9,5 triệu đồng do giá vàng thế giới tăng hơn 300 USD/ounce, từ 1.100 USD
lên trên mốc 1.400 USD/ounce. Sự tăng vọt của giá vàng đồng thời gây ra những
cơn sốt chưa từng có trên thị trường. Nhiều người Việt có thói quen tích trữ vàng
thay vì đầu tư hay gửi tiết kiệm. Một số giao dịch có giá trị lớn trên thị trường
được định giá bằng vàng như giao dịch nhà đất. Vì vậy sự biến động của thị trường
vàng thế giới gần như ngay lập tức tác động nhiều đến thị trường trong nước.
Tuy nhiên, việc giá vàng biến động mạnh trong năm vừa qua được nhận
định không chỉ do nhu cầu thực sự của người dân mà còn chịu tác động từ những
chính sách của nhà nước như việc hạn chế nhập khẩu, chậm cấp quota nhập vàng
Đỉnh điểm của đợt sốt giá vàng trong nước năm 2010 là ngày 9/11, giá vàng lên
tới 38,2 triệu đồng/lượng, khối lượng bán ra ở các cửa hàng tăng vọt, lượng mua
vào không đáng kể. Chênh lệch giữa giá mua - bán lên tới cả triệu đồng/lượng
(3.535.000đ/chỉ vàng 99,99%). Khác với năm trước, bất cứ khi nào giá vàng biến
động các nhà đầu tư lớn nhỏ đều lao theo với mục đích lướt sóng kiếm lời nhưng
do năm nay lạm phát tăng cao, lãi suất tiền gửi ngân hàng tăng mạnh và ổn định
khiến nhiều nhà đầu tư lựa chọn hình thức gửi tiết kiệm hưởng lãi thay vì phải thấp
thỏm chờ đợi giá vàng vượt dốc. Đặc biệt khi Chính phủ ra Nghị định cấm kinh
doanh vàng miếng tại các cửa hàng vàng bạc tư nhân có hiệu lực, nhiều nhà đầu tư
đã chùn bước trước việc gom giữ vàng cũng như mua vàng làm của để dành. Bên
cạnh đó, sau khi có thông tin vàng bị trộn Vonfam xuất hiện trên thị trường cũng
khiến nhiều nhà đầu tư e ngại nếu mua phải vàng kém chất lượng.
Như vậy, bước sang năm 2011 với nhiều giải pháp quản lý điều hành vĩ mô,
nhất là đối với thị trường ngoại tệ, thị trường vàng ở trong nước đã ổn định
trở lại, với 3 biểu hiện chủ yếu.
Đề án môn học GV hướng dẫn: Ths. Nguyễn Thị Minh Quế
25
Một là, tốc độ tăng của giá vàng đã chậm lại (sau 6 tháng chỉ tăng
5,18% - thấp chưa bằng một nửa tốc độ tăng 13,29% của giá tiêu dùng).
Hai là, giá vàng trong nước đã chuyển từ vị thế luôn luôn cao hơn,
sang thường xuyên thấp hơn giá vàng thế giới.
Ba là, hiện tượng tái xuất vàng xuất hiện, tăng cao vào tháng 5, tháng
6 (kim ngạch xuất khẩu đá quý, kim loại quý và sản phẩm, nếu 4 tháng đầu
năm là 106 triệu USD, thì tháng 5 lên đến 242 triệu USD, ước tháng 6 lên
đến 630 triệu USD và tính chung 6 tháng lên đến 1027 triệu USD).
Tuy nhiên, trong mấy hôm nay, đặc biệt là từ sáng ngày 13/7, giá vàng
trong nước đã vượt qua mốc 39 triệu đồng/lượng, vượt xa so với đỉnh điểm
38,5 triệu đồng/lượng trước đây.
Giá vàng trong nước tăng đột biến, vượt đỉnh cũ, chủ yếu do sự biến
động của giá vàng trên thế giới. Giá vàng trên thế giới vào trưa ngày 14/7
(giờ Việt Nam) đã lên mức 1586,4 USD/ounce, vượt xa so với đỉnh điểm