Phân tích sự biến động của chỉ số phát triển con người (HDI) ở việt nam giai đoạn 2001 2012 - Pdf 15

LỜI MỞ ĐẦU
Từ những năm 1970 trở lại đây, hầu hết các nước đang phát triển trong đó có Việt
Nam đã chuyển hướng ưu tiên trong quá trình phát triển đất nước từ mục tiêu tăng trưởng
kinh tế sang các mục tiêu kinh tế - xã hội rộng lớn hơn như: phát triển kinh tế đi đôi với
xóa đói giảm nghèo, giảm chênh lệch về thu nhập. Thực tế phát sinh đòi hỏi cần có những
chỉ số đo lường tính hiệu quả của các biện pháp kinh tế - xã hội đó. Chỉ số phát triển con
người (Human Development Index – HDI) ra đời đã phần nào đáp ứng được nhu cầu này.
Chỉ số phát triển con người lần đầu tiên được giới thiệu trong Báo cáo phát triển
con người năm 1990 của Chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP). Báo cáo này
đã đưa ra một cách đo lường mới về sự phát triển kết hợp các chỉ số tuổi thọ, giáo dục và
thu nhập vào chỉ số phát triển con người tổng hợp. Đây là việc xây dựng lên một số liệu
thống kê riêng biệt với tư cách là một khung tham chiếu cho sự phát triển kinh tế và xã
hội. Từ khi ra đời, chỉ số này ngay lập tức đã thu hút được sự quan tâm của giới học giả
cũng như các cơ quan đại chúng và nó cũng nhận được sự đánh giá, xem xét nghiên cứu
về nhiều mặt.
Ở Việt Nam, chỉ số phát triển con người được nghiên cứu hàng năm. Trong những
năm qua, chỉ số HDI của Việt Nam có tăng nhưng biến động giữa các chỉ số tuổi thọ, giáo
dục và thu nhập chưa đều. Việc nghiên cứu biến động của chỉ số HDI ở nước ta rất cần
thiết bởi nó cho biết kết quả của các biện pháp phát triển con người của nước ta trong một
giai đoạn dài, từ đó có thể đề ra các chính sách và chiến lược phát triển hợp lý hơn trong
thời gian tiếp theo nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống cho mọi thành viên trong xã hội.
Với những lý do trên, nhóm 5 – Lớp cao học 22K quyết định lựa chọn đề tài:
“Phân tích sự biến động của chỉ số phát triển con người (HDI) ở Việt Nam giai đoạn
2001- 2012” cho bài tiểu luận này.
Ngoài lời mở đầu và phần kết luận, bài tiểu luận gồm có 2 mục như sau:
Phần 1: Một số vấn đề chung về HDI
Phần 2: Phân tích biến động của chỉ số phát triển con người (HDI) giai đoạn 2001- 2012 ở
Việt Nam
1
Mặc dù bài viết đã được đầu tư thời gian nghiên cứu song vì tầm hiểu biết của các
thành viên trong nhóm còn hạn chế nên không tránh khỏi thiếu sót. Vì vậy, nhóm 5 rất

hội, giao tiếp và tham gia vào đời sống cộng đồng. Các chiều cạnh trên được đo lường
qua các chỉ số sau:
 Sức khoẻ - được đo bằng Tuổi thọ trung bình (đơn vị tính: năm)
3
 Học vấn - được đo bằng Tỷ lệ biết chữ của người lớn (đơn vị tính: %,
với quyền số 2/3) và Tỷ lệ nhập học các cấp giáo dục tiểu học, trung học,
đại học, (đơn vị tính: %, với quyền số 1/3). Từ trước năm 1995, chỉ số nhập
học chung các cấp chưa được đo lường trong HDI.
 Mức sống - được đo bằng GDP bình quân đầu người, (đơn vị tính:
đôla theo phương pháp sức mua tương đương - Power Purchasing Parity,
viết tắt là PPP USD).
HDI thiết lập lên mức độ tối đa và tối thiểu cho các chiều cạnh, gọi là những
điểm đích, nó thể hiện mỗi quốc gia đang đứng ở điểm nào so với các điểm mốc đó, được
thể hiện từ giá trị 0 -1 (trong đó giá trị 1 là giá trị cao nhất). Nhưng nếu phát triển con
người là quá trình mở rộng sự lựa chọn thì có thể không có sự giới hạn, không có điểm
cao nhất. Chỉ số này có thể được coi như một sự đo lường khả năng con người được sống
một cuộc sống lâu dài và khỏe mạnh, được giao tiếp và tham gia vào cuộc sống của cộng
đồng và có đầy đủ nguồn lực để có được một cuộc sống tốt. Đây chỉ là một chỉ số đo
lường tối thiểu. Đối với những nước có chỉ số HDI cao thì người ta sẽ quan tâm đến
những chiều cạnh khác có ảnh hưởng tới sự phát triển con người.
Đôi khi người ta cho rằng chỉ số HDI đó là sự hòa trộn giữa phương tiện và mục
đích: giả định rằng thu nhập là phương tiện để đạt được phát triển con người thì việc đạt
được chất lượng về sức khỏe và giáo dục chính là các mục đích của phát triển con người.
Tuy nhiên thu nhập, như được sử dụng trong HDI, cũng có thể được coi là sự đo lường
cho một số mục đích. Thu nhập được coi như yếu tố đại diện cho sự thỏa mãn xuất phát
từ hàng loạt hàng hóa và dịch vụ cơ bản. Đây là điều mà tại sao HDI không sử dụng GNP
mà điều chỉnh nó để phản ánh sức mua tương đương. Việc đưa chỉ số thu nhập vào HDI
khiến HDI đã kết hợp một phần các chỉ báo kinh tế và chỉ báo xã hội vào đo lường phát
triển trong khi trước đây, các chỉ báo xã hội thường bị bỏ qua trong quá trình kinh tế.
1.1.2. Chỉ tiêu đánh giá, đo lường HDI

i
ii
i
X
XX
I


=
Trong đó:
X
i
là mức tuyệt đối đạt được của quốc gia (địa phương) theo chỉ tiêu i.
X
i max
là mức tuyệt đối tối đa đạt được theo chỉ tiêu i trên thế giới.
X
i min
là mức tuyệt đối tối thiểu đạt được theo chỉ tiêu i trên thế giới.
I
i
là mức tương đối đạt được của quốc gia (địa phương) theo chỉ tiêu i.
Với giả thiết vai trò của ba chỉ số trên là như nhau HDI được tính bình quân theo
công thức trên. Trong thực tế hiện nay các chỉ số thành phần được tính như sau:
+) Chỉ số thu nhập bình quân được tính theo công thức sau:
100lg40000lg
100lg
1
1


=
X
I
- HDI nhận giá trị trong khoảng từ 0 đến 1, càng gần 1 càng tốt. Trên thế giới căn
cứ vào HDI người ta phân loại các nước có:

8.0

HDI
là nước phát triển.

8.05.0
<≤
HDI
là nước phát triển trung bình.

5.0
<
HDI
là nước đang phát triển.
- HDI đánh giá tổng hợp việc bảo đảm các nhu cầu cơ bản của con người gồm:
 Tiêu chí đánh giá năng lực tài chính: thu nhập bình quân đầu người.
 Tiêu chí đánh giá bảo đảm thể lực: tuổi thọ bình quân, tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ
em, tỷ lệ chết yểu, tỷ lệ chi ngân sách cho y tế.
 Tiêu chí bảo đảm giáo dục: tỷ lệ người lớn biết chữ, số năm đi học trung bình, tỷ
lệ thất nghiệp.
Vì đơn vị đo của mỗi chỉ tiêu không giống nhau, nên điều quan trọng là cần phải
tìm ra một đơn vị đo lường chung cho các mục tiêu kinh tế - xã hội. HDI thiết lập một
giới hạn cận trên và cận dưới cho từng khía cạnh và chỉ ra vị trí hiện tại của từng quốc gia
trong giới hạn đó. Phương pháp chỉ số chính là cách thức để quy đổi các đơn vị đo lường

trực tiếp của điều tra viên với từng cá nhân, tổ chức cơ quan có liên quan:
1- Thu nhập của hộ dân cư
2- Các báo cáo hàng năm.
Số liệu trong bài được tính toán theo các chỉ tiêu cụ thể:
+ Chỉ tiêu mức thay đổi của số bệnh viện = số bệnh viện năm t - số bệnh viện năm t-1.
+ Chỉ tiêu thay đổi số giường bệnh = số giường bệnh năm t - số giường bệnh năm t-1.
+ Lượng tăng tuyệt đối GDP/ người = GDP/người
t
– GPD/người
t-1
……
+ Tốc độ phát triển:
 Tốc độ phát triển liên hoàn:
7

1−
=
i
i
i
y
y
t
t
i
: Tốc độ phát triển liên hoàn năm i so với năm i-1 và được thể hiện bằng
lần hoặc %.
 Tốc độ phát triển định gốc:

1

8
Tuy nhiên, việc lựa chọn các chỉ tiêu đặc trưng cho mức sống như trên chỉ mang tính
chất tương đối nhằm đánh giá mức sống dân cư vào một thời điểm nào đó. Nhưng khi so
sánh giữa các thời kỳ khác nhau, giữa các nước khác nhau thì việc sử dụng chỉ tiêu trên
gặp nhiều khó khăn. Thông thường, người ta chỉ xem xét nó trên từng khía cạnh, từng
phương diện hoặc căn cứ vào mục đích nghiên cứu mà nhấn mạnh mặt này hay mặt khác.
Chỉ số phát triển con người HDI thuộc nhóm 4. Trong đó, khi xác định chỉ tiêu về
mức sống chủ yếu dựa vào thu nhập bình quân đầu người.
1.3.2 Chỉ tiêu về y tế và chăm sóc sức khỏe
Là một nhân tố của chỉ số HDI, y tế và chăm sóc sức khoẻ chiếm một vị trí quan
trọng. Chỉ tiêu này được xây dựng trên quy mô ngành y tế và tuổi thọ của người dân. Nhu
cầu chăm sóc sức khỏe được hiểu là số lần khám bệnh, số ngày điều trị và tổng số tiền chi
phí cho khám bệnh, chữa bệnh, phòng bệnh trung bình trong 1 năm của một cá nhân. Để
đáp ứng nhu cầu về y tế ngày càng tăng thì quy mô ngành y tế cũng phải tăng. Quy mô
ngành y tế được hiểu là:
- Các cơ sở khám, chữa bệnh, phòng bệnh và phục hồi chức năng
- Cán bộ công nhân viên ngành y tế ( Bác sĩ, y tá, hộ lý,…)
- Các phương tiện phục vụ cho việc khám bệnh, chữa bệnh, phòng bệnh và phục hồi
chức năng.
- Đầu tư cho ngành y tế.
Tuy nhiên, quy mô ngành y tế có tăng hay không còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố
khác như mức độ phát triển về kinh tế bà xã hội, thu nhập quốc dân, chính sách của
nhà nước về y tế từng thời kỳ.
1.3.3 Chỉ tiêu trình độ dân trí và giáo dục
Chỉ số giáo dục là một trong ba chỉ số tạo nên Chỉ số phát triển con người HDI.
Chỉ số này được xây dựng trên tỷ lệ biết đọc, biết viết ở người lớn (từ 15 tuổi trở lên) và
tổng tỷ lệ nhập học ở các cấp tiểu học, trung học, đại học.
Để đánh giá trình độ phát triển giáo dục của một quốc gia, người ta thường sử
dụng hệ thống các chỉ tiêu sau:
- Về số lượng:

Tốc độ phát triển
(%) Tốc độ tăng (%)
Liên
hoàn
Định
gốc
Liên
hoàn
Định
gốc
Liên
hoàn Định gốc
2001 413
2002 440 27 27 106.54 106.54 6.54 6.54
2003 492 52 79 111.82 119.13 11.82 19.13
2004 561 69 148 114.02 135.84 14.02 35.84
2005 642 81 229 114.44 155.45 14.44 55.45
2006 730 88 317 113.71 176.76 13.71 76.76
2007 843 113 430 115.48 204.12 15.48 104.12
2008 1052 209 639 124.79 254.72 24.79 154.72
2009 1064 12 651 101.14 257.63 1.14 157.63
2010 1169 105 756 109.87 283.05 9.87 183.05
2011 1300 131 887 111.21 314.77 11.21 214.77
2012 1540 240 1127 118.46 372.88 18.46 272.88
102.45 112.71 12.71
( Nguồn số liệu: Tổng cục Thống kê)
Chỉ tiêu này được thể hiện biến động qua các năm. Sử dụng các chỉ tiêu sau để
phản ánh mức biến động:
- Lượng tăng (giảm) tuyệt đối:
 Lượng tăng (giảm) tuyệt đối liên hoàn (hay từng kỳ):

2001)
- Tốc độ phát triển:
 Tốc độ phát triển liên hoàn:

1−
=
i
i
i
y
y
t
t
i
: Tốc độ phát triển liên hoàn năm i so với năm i-1 và được thể hiện bằng lần hoặc %.
 Tốc độ phát triển định gốc:

1
y
y
T
i
i
=
T
i
: Tốc độ phát triển định gốc năm i so với năm đầu (năm 2001) của dãy số và được biểu
hiện bằng lần hoặc %.
 Tốc độ phát triển bình quân: Phản ánh mức độ đại diện của tốc độ phát
triển liên hoàn.

 Tốc độ tăng (hoặc giảm) bình quân: Phản ánh tốc độ tăng (hoặc giảm) đại diện cho các
tốc độ tăng (hoặc giảm) liên hoàn:

1−= ta
(nếu
t
biểu diễn bằng lần)
Tức là: Tốc độ tăng bình quân hàng năm về GDP/người của Việt Nam trong giai đoan
2001 – 2012 là 12,71%
Giai đoạn 2001-2010, chúng ta đã đat mục tiêu tăng trưởng nhanh, 2 năm 2009-2010
do ảnh hưởng đáng kể của khủng hoảng kinh tế toàn cầu tốc độ tăng thu nhập bình quân
đầu người giảm xuống, và 2 năm 2011-2012 chúng ta đã cố gắng đưa tốc độ tăng thu
nhập bình quân đầu người tăng lên. Bình quân tốc độ tăng thu nhập bình quân đầu người
giai đoạn 2001– 2012 đạt 12,71%. Giá trị GDP/người đã tăng bình quân hàng năm là
102,45 USD.
Với tốc độ tăng GDP bình quân đầu người tính bằng USD theo tỷ giá hối đoái bình
quân đạt 12,71%/năm, quy mô GDP bình quân đầu người của Việt Nam từ năm 2008 đã
vượt qua mốc 1.000 USD. Nếu tính thêm yếu tố giảm giá của đồng USD, thì từ năm 2010
Việt Nam đã chuyển vị thế từ nhóm nước có thu nhập thấp sang nhóm nước có thu nhập
trung bình (thấp). Bước chuyển vị thế này là rất quan trọng, khi vào năm 1988, tức là cách
đây 1/4 thế kỷ, Việt Nam mới đạt 86 USD, là một trong vài chục nước có thu nhập bình
quân đầu người thấp nhất thế giới.
GDP bình quân đầu người tăng lên, nên tổng quy mô GDP của cả nước tính bằng
USD theo tỷ giá hối đoái bình quân cũng đã đạt quy mô khá và tăng liên tục qua các năm
(năm 2005 đạt 54,7 tỷ USD, năm 2006 đạt 66,3 tỷ USD, năm 2007 đạt 77,4 tỷ USD, năm
2008 đạt 97,5 tỷ USD, năm 2009 đạt 99,8 tỷ USD, năm 2010 đạt 110,7 tỷ USD, năm 2011
đạt 133,1 tỷ USD, năm 2012 đạt 155,3 tỷ USD).
13
Ta có sơ đồ thể hiện sự tăng lên của thu nhập bình quân đầu người:
Biểu đồ 1: GDP bình quân đầu người tính bằng USD qua các năm

+ b
1
t
Áp dụng phương pháp bình phương nhỏ nhất sẽ có hệ phương trình sau đây để tìm giá trị
các hệ số b
o
và b
1
:
∑∑
+= tbnby
o 1
∑∑∑
+=
2
1
tbtbty
o
Giải ra, sẽ tìm được: b
o
= 200,98; b
1
= 100,49. Do đó hàm xu thế tuyến tính biểu
hiện giá trị GDP/người ở Việt Nam giai đoạn 2001 – 2012 có dạng cụ thể là:
Y*
t
= 200,98 + 100,49t
2.2. Chỉ tiêu về tuổi thọ
Tuổi thọ là chỉ số thành phần quan trọng của HDI. Đối với Việt Nam, chỉ số này
cao nhất và có tầm quan trọng hàng đầu, quyết định thứ bậc về HDI của Việt Nam. Tuổi

Tuổi
thọ
bình
quâ
n
68,6 69 70,5 70,8 71 71,3 71,5 71,8 72 72,5 72,8 73
(Nguồn số liệu: Tổng cục thống kê)
Trong những năm gần đây công tác bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ nhân dân của
ngành y tế có nhiều chuyển biến tích cực. Mạng lưới khám chữa bệnh từ y tế cơ sở đến
T.Ư, công lập và ngoài công lập được mở rộng và củng cố. Số giường BV công lập đến
năm 2010 đạt mức 20,5/10.000 dân. Ngành Y tế cũng ngày càng làm tốt công tác y tế dự
phòng, phòng chống dịch bệnh, mở rộng và nâng cao công tác khám, chữa bệnh và phục
hồi chức năng. Nổi bật là Việt Nam đã thanh toán được bệnh bại liệt, khống chế được
bệnh uốn ván sơ sinh, sởi, ho gà, bạch hầu. Chính phủ đã sử dụng vốn trái phiếu Chính
phủ và nhiều nguồn vốn khác để đầu tư xây dựng hơn 620 bệnh viện đa khoa tuyến huyện
15
và bệnh viện đa khoa khu vực liên huyện, đồng thời đầu tư xây dựng, cải tạo, nâng cấp
hàng trăm bệnh viện của tỉnh và trung ương nhằm đáp ứng nhu cầu khám bệnh, chữa bệnh
cho nhân dân, khắc phục tình trạng quá tải tại các bệnh viện tuyến trên hiện nay.
Ta có bảng số liệu sau về thực trạng số giường bệnh và số bệnh viện giai đoạn
2000- 2010 như sau:
Bảng 3: Số giường bệnh và bệnh viện ở Việt Nam giai đoạn 2001-2010
Năm 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010
Số bênh
viện
836 842 842 856 878 903 956 974 1002 1030
Mức thay
đổi bệnh
viện
1 6 0 14 22 25 53 18 28 28

giường bệnh có chiều hướng tăng dần qua các năm, năm sau luôn có xu hướng cao hơn
năm trước. Điều này chứng tỏ sự quan tâm của các cấp có thẩm quyền với vấn đề y tế,
chăm sóc sức khoẻ của người dân.
Mặc dù tuổi thọ bình quân của người Việt Nam có tăng qua các năm và chỉ số HDI
về tuổi thọ cũng được cải thiện. Tuy nhiên so với thế giới thì HDI của Việt Nam vẫn còn
thấp.
16
Bảng 4: Chỉ số phát triển con người của Việt Nam qua các năm (2001 – 2011)
Năm Giá trị chỉ số HDI Giá trị chỉ số tuổi
thọ
Thứ hạng HDI của
ViệtNam
2001 0,682 0,71 101/162
2002 0,688 0,72 109/173
2003 0,688 0,73 109/175
2004 0,691 0,73 112/177
2005 0,704 0,76 108/177
2006 0,709 0,76 109/177
2007 0,725 - 116/182
2008 0,733 - 105/177
2009 0,725 - 116/182
2010 0,671 - 113/169
2011 0,704 - 108/177
Nguồn: Báo cáo phát triển con người của UNDP, 1995 – 2011
Nguyên nhân dẫn đến HDI tuổi thọ của Việt Nam vẫn còn thấp so với thế giới:
+ Mạng lưới chăm sóc sức khỏe ở nông thôn còn kém
+ Thủ tục khám chữa bệnh còn rườm rà, nhất là đối với những người sử dụng Bảo hiểm y
tế, họ phải đến bệnh viện làm thủ tục nhiều ngày
+ Bên cạnh đó, vệ sinh an toàn thực phẩm cũng là một vấn đề nhức nhối trong thời gian
qua

hội.
đồng
bằng sông Hồng là vùng có tỷ lệ biết đọc biết
viết cao nhất
(97,1%)

T
rung
du và miền
núi
phía
Bắc
là vùng có tỷ lệ biết đọc biết
viết thấp nhất
(87,3%).
Như
vậy,
việc tăng tỷ lệ biết đọc
biết
viết


T
rung
du và miền
núi phía
Bắc
sẽ không chỉ thu hẹp chênh lệch giữa các vùng mà còn cải
thiện
hơn nữa tỷ

thị/nông
thôn
v
à
các vùng kinh tế - xã hội,
2009
Đơn vị: %
Tổng
Nam
Nữ
T
hành

thị
Nông
thôn
T
rung
du và miền núi
phía
Bắc
87,3
92,0
82,8 97,0
85,3
Đồng
bằng sông
Hồng
97,1
98,7

Đồng
bằng sông Cửu
L
ong
91,6
93,9
89,5 94,0
90,9
18
Về tình hình đi học, thì theo số liệu của Tổng cục Thống kê vẫn còn 4% dân số
Việt Nam từ 5 tuổi trở lên chưa từng đi học. Tỉ trọng nữ chưa đi học lớn hơn nam. Mức
độ phổ cập giáo dục ở cấp trung học cơ sở của Việt Nam cũng đã đạt 89%. Số người biết
chữ từ 15 tuổi trở lên đạt 94,7%, tức vẫn còn 5,3% dân số Việt Nam trên 15 tuổi không
biết đọc, biết viết. Tính chung cả nước, về chất lượng dân số, có tới 20,8% dân số Việt
Nam chưa tốt nghiệp trung học cơ sở. Phần trăm người tốt nghiệp các bậc cao hơn còn
giảm mạnh. Theo thống kê, chỉ 25,8% dân số Việt Nam tốt nghiệp tiểu học; 26,7% tốt
nghiệp trung học cơ sở; 22,8% dân số tốt nghiệp trung học phổ thông trở lên…
Ở cấp Tiểu học, 5 tỉnh có tỷ lệ nhập học đúng tuổi thấp nhất là Lai Châu (81,2%),
điện Biên (82,8%), Hà Giang (84%), Sơn La (86%) và Gia Lai (87,5%) và 5 tỉnh có tỷ lệ
nhập học đúng tuổi cao nhất là Hà Nam (98%), Nam Định (98%), Hải Dương (98.1%),
Đà Nẵng (98,5%) và Bắc Ninh (98,6%).
Ở cấp THCS, 5 tỉnh có tỷ lệ nhập học đúng tuổi thấp nhất là Lai Châu (50,9%), Hà
Giang (51,7%), Sóc Trăng (57,5%), Cà Mau (59,7%) và Điện Biên (60%) và 5 tỉnh có tỷ
lệ nhập học đúng tuổi cao nhất là Hà Nam (94,3%), Bắc Ninh (93,4%), Thái Bình và Nam
Định (94,8%) và Hải Dương (95%).
Ở cấp THPT, 5 tỉnh có tỷ lệ nhập học đúng tuổi thấp nhất là Lai Châu (20%), Hà
Giang (25,7%), Sóc Trăng (28,1%), Cà Mau (27,5%) và Bạc Liêu (28,7%) và 5 tỉnh có tỷ
lệ nhập học đúng tuổi cao nhất là Hải Dương (76%), Bắc Ninh (76,4%), Hải Phòng
(77,7%), Hà Nội (78,1%) và Thái Bình (79,2%).
Ở các cấp Cao đẳng và đại học, 5 tỉnh có tỷ lệ nhập học đúng tuổi thấp nhất là Lai

năm học
1 Năm 2000 0,454 4,5 10,3
2 Năm 2005 0,477 4,9 10,4
20
3 Năm 2006 0,483 5,1 10,4
4 Năm 2007 0,488 5,2 10,4
5 Năm 2008 0,493 5,3 10,4
6 Năm 2009 0,498 5,4 10,4
7 Năm 2010 0,503 5,5 10,4
(Nguồn số liệu:Báo cáo phát triển con người của UNDP)
Nhìn vào bảng số liệu ta thấy: số năm đến lớp trung bình thực tế thấp hơn so với số
năm trung bình dự kiến. Điều này đã làm cho chỉ số giáo dục của nước ta thấp hơn nhiều
so với kế hoạch đề ra, là nguyên nhân làm giảm chỉ số đó.
Tuy nhiên chỉ số giáo dục của Việt Nam cao hơn nhiều nước có chỉ số HDI đứng
trên và cao hơn chỉ số giáo dục của những nước có chỉ số GDP bình quân cao hơn nước
ta. Đạt được kết quả trên là do tỷ lệ người lớn biết chữ đạt 90,3%, cao hơn nhiều nước; tỷ
lệ đi học các cấp của Việt Nam đạt 64%, cao hơn mức trung bình 63% của các nước đang
phát triển.
Chỉ số giáo dục cao, nhưng chủ yếu là xét trên số lượng (tỷ lệ biết chữ ), trong khi
chất lượng giáo dục từ phổ thông đến đại học còn thấp, chạỵ theo số lượng nhiều hơn là
chất lượng Chỉ số giáo dục hiện nay của nước ta chỉ đứng trên Lào và Campuchia.
HDI được tính toán dựa trên 3 chỉ số thành phần là: thu nhập (GDP bình quân đầu
người tính theo ngang giá sức mua), tuổi thọ trung bình và giáo dục (tỷ lệ người lớn biết
chữ và tỷ lệ nhập học chung). Trong những năm từ 1992 đến 1999, Việt Nam đã đạt được
những thành tựu đáng kể cả về tăng trưởng kinh tế và tuổi thọ trung bình. Tuy nhiên, từ
năm 1999 đến năm 2008, tăng trưởng kinh tế đã trở thành yếu tố chính thúc đẩy tiến bộ
trong chỉ số HDI của Việt Nam.
Từ năm 1999 đến năm 2008, chỉ số thu nhập tăng 29,9% trong khi chỉ số tuổi thọ
tăng 10,1% và chỉ số giáo dục chỉ tăng 3,4%. Nói cách khác, chỉ số thu nhập đóng góp
55,7% vào tăng trưởng HDI, trong khi chỉ số tuổi thọ trung bình đóng góp 31,8% và chỉ

đi học trung bình của người dân đạt mức 7,3 năm. Việc dạy chữ dân tộc đã được đẩy
mạnh ở các địa phương, nhờ đó tỷ lệ người dân tộc thiểu số mù chữ giảm mạnh.
22
Trong bản báo cáo mới đây nhất của Thứ trưởng Bộ GD&ĐT Nguyễn Vinh Hiển
tại Hội nghị tổng kết năm học 2011-2012 nêu rõ, đã có thêm nhiều trường đạt chuẩn quốc
gia: Có thêm 402 trường mầm non nâng tổng số lên 2.828 trường đạt 21% tăng 2,1% so
với năm học trước. Cấp tiểu học có thêm 445 trường, nâng tổng số lên 7.130/15.273
trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia đạt 46,68%. THCS có thêm 493 trường, nâng tổng số
đạt chuẩn quốc gia lên 2.748 trường đạt 25,31%. THPT có 378 trường đạt 14,20% tăng 86
trường so với năm học 2010-2011.
Cũng trong năm học 2009 - 2010, toàn ngành tiếp tục đẩy mạnh phong trào thi đua
“Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”: Có 99,75% số trường tham gia
phong trào, xây dựng mới 10.546 nhà vệ sinh nâng tổng số lên 62.434 công trình vệ sinh,
số cây xanh được trồng trong năm học này là 1.766.076 cây nâng tổng số lên 7.454.427
cây xanh.
Số học sinh bỏ học giảm dần theo từng năm: năm học 2011-2012 còn 88.305 học
sinh (HS), giảm 90.034 HS so với năm trước là 178.339 HS, giảm 11.034 HS so với năm
học 2009-2010. Năm học vừa qua cũng có 25.389 câu lạc bộ HS được thành lập, giúp các
em rèn luyện các kỹ năng sống, kỹ năng thực hành xã hội.
Đến nay 100% tỉnh, thành phố đã phê duyệt và triển khai thực hiện Đề án Phổ cập
GDMN cho trẻ em 5 tuổi giai đoạn 2010-2015 của địa phương; trong đó có 9 tỉnh đăng ký
hoàn thành mục tiêu phổ cập GDMN cho trẻ em 5 tuổi trong năm 2012. Hiện nay, cả
nước có 3 tỉnh đạt phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi giai đoạn 2010-2015.
Trong khu vực, Việt Nam là quốc gia thực hiện tốt về bình đẳng giới, nhưng bất
bình đẳng giới vẫn còn tồn tại dai dẳng, đặc biệt là trong gia đình và trên thị trường lao
động. Ở một số tỉnh, tỷ lệ người lớn biết chữ là nữ thấp hơn 20%-30% so với nam. Ví dụ,
ở Lai Châu, tỷ lệ người lớn biết chữ ở nữ giới là 48% so với 75,5% ở nam giới. Tương tự,
ở một số tỉnh, khoảng cách giới trong tỷ lệ nhập học chung là 30%. Điện Biên có tỷ lệ
nhập học chung của nữ là 55,3% so với tỷ lệ nhập học chung của nam là 78,5%.
Mặt khác, các tỉnh có sự khác biệt trong thu nhập của nam và nữ lớn nhất được đo lường

được ưu tiên và đi trước. Mục tiêu cốt lõi của giáo dục và đào tạo là hình thành và phát
triển phẩm chất, năng lực con người Việt Nam".
Cùng với quan điểm phát triển giáo dục là việc khẳng định quyền bình đẳng về cơ
hội được hưởng nền giáo dục của mọi người dân Việt Nam không phân biệt giới tính, sắc
24
tộc, tôn giáo. Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Ðảng lần thứ 2 (khóa VII)
về định hướng chiến lược phát triển giáo dục trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa
nêu: "Thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục và đào tạo. Tạo điều kiện để ai cũng
được học hành. Người nghèo được Nhà nước và cộng đồng giúp đỡ để học tập. Bảo đảm
điều kiện cho những người học giỏi phát triển tài năng".
Trải qua mấy chục năm kháng chiến giành độc lập, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
trong hoàn cảnh hết sức khó khăn, nhưng Ðảng và Nhà nước ta vẫn nhất quán với chiến
lược phát triển giáo dục, dành một phần ngân sách rất lớn cho giáo dục. Báo cáo Chính trị
Ðại hội Ðảng toàn quốc lần thứ XI nêu rõ: "Chi ngân sách nhà nước cho giáo dục, đào tạo
đạt trên 20% tổng chi ngân sách; việc huy động các nguồn lực xã hội cho giáo dục, đào
tạo, phát triển giáo dục, đào tạo ở vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, vùng đồng bào dân
tộc thiểu số được quan tâm Ðến năm 2010, tất cả các tỉnh, thành phố đã đạt chuẩn phổ
cập giáo dục trung học cơ sở". Trong 10 năm (2001 - 2011), chỉ số phát triển con người
(HDI) của Việt Nam đã tăng 11,8%. Cho đến nay, về cơ bản, Việt Nam đã xây dựng
được một hệ thống giáo dục các cấp học ở mọi vùng, miền, với nhiều loại hình trường
lớp, với số lượng học sinh đến trường ở các cấp ngày một tăng. Bên cạnh đó, Nhà nước
còn thực hiện nhiều chính sách công bằng trong tiếp cận giáo dục, đặc biệt là đối với trẻ
dân tộc thiểu số, trẻ ở vùng sâu, vùng xa.
Ðể cụ thể hóa chính sách ưu tiên đầu tư nhiều mặt về giáo dục cho các địa bàn có
nhiều khó khăn, chúng ta đã triển khai các kế hoạch xây dựng trường học kiên cố và đạt
chuẩn chất lượng, kết hợp với nỗ lực xóa đói, giảm nghèo, qua đó tạo thêm cơ hội cho trẻ
tiếp cận nhiều hơn với các dịch vụ giáo dục. Từ năm 2000, Việt Nam đã đạt chuẩn quốc
gia về xóa mù chữ và phổ cập tiểu học. Từ năm học 2002 - 2003, tỷ lệ biết chữ của người
lớn trong độ tuổi 15 - 24 đã đạt gần 95%, số năm đi học trung bình của người dân đạt mức
7,3 năm. Năm 2010 đã có 97,3% người dân biết chữ. Việc dạy chữ dân tộc đã được đẩy


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status