Giáo trình lý luận dạy học văn học - Pdf 15

ht t

p://tieulun.hopto.o r

g
LÍ LUẬN DẠY HỌC VĂN
( Nguồn: http://giaoan.violet.vn/present/show?
entry_id=915748 ).
ĐỀ CƯƠNG CHI TIẾT
CHƯƠNG 1 N H

Ữ NG V

ẤN

Đ Ề CHUNG
CHƯƠNG 2 C

Á C P H

Ư Ơ

NG PH

Á P D

ẠY H

ỌC N G

Ữ V Ă

Ụ T H


T

À I LIỆU THAM
K H

ẢO P H


L Ụ

C
1
ht t

p://tieulun.hopto.o r

g
CÁC PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC NGỮ
VĂN CHƯƠNG 1 : NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1. K H

Á I NI

ỆM PH

ƯƠ NG PH


H Á

P
4. C Á

C XU H

ƯỚ NG D

ẠY H

ỌC H I

ỆN

Đ ẠI
ĐỊNH HƯỚNG 1: T H Á

I Đ Ộ V

À SỰ N HẬ

N T H

ỨC T

Í CH C

ỰC V


NG KIẾN T H

ỨC C

Ó

H IỆU Q

ỦA ĐỊNH HƯỚNG
5: RÈN LU Y

ỆN T H

Ó I Q

U EN T

Ư DUY

a/ T

ừ khóa:
- Phương pháp
- Học sinh là trung tâm
- Dung tích các hoạt động tư duy
- Phương tiện dạy học và thiết bị hỗ trợ dạy học
- Tình huống có vấn đề
b/ Những yêu cầu

đối v

Y

êu cầu đối v

ới S V

:
Cần hiểu được mối quan hệ biện chứng giữa mục đích dạy học, nội dung dạy học và phương
pháp dạy học
(MÐ - ND - PP), trong đó người học là trung tâm để có cơ sở phân tích, lựa chọn các PPDH phù
hợp.
3
ht t

p://tieulun.hopto.o r

g
1. Kh

ái niệm ph

ươ

ng ph

áp
TOP
Phương pháp là cách thức, con đường, phương tiện để đạt mục đích nhất định, để giải quyết
những nhiệm vụ
nhất định.

áp TOP
2.1. Mối quan hệ MÐ - ND - PP:
Vấn đề 1-1: Bạn hãy tìm mối quan hệ giữa MÐ - ND - PP từ hai ví dụ nêu trên. Mục
đích, nội dung công việc sẽ xác định việc dung phương pháp này hay phương pháp khác. Nhưng
phương pháp, cách thức làm cũng không hoàn toàn phụ thuộc vào nội dung mà tác động trở lại nội
dung.
Trong VD trên ta thấy: gạo có thể chế biến thành nhiều món ăn khác nhau, song mỗi món có
mục đích và cách thức chế biến khác nhau (mục đích và cách chế biến phở khác với bún, cơm,
bánh bò ). Không những thế, với các loại gạo khác nhau thì việc chế biến thành cơm cũng khác
nhau. Nếu phương pháp nấu cơm được thực hiện không tốt thì không đạt được mục đích (cơm sống,
khét). Ðôi khi phương pháp nấu cũng tác động ngược lại nội dung (thêm bớt nước, lửa ) để làm cho
cơm ngon hơn.
2.2. Các đặc điểm của phương pháp:
Phương pháp có 4 đặc diểm sau:
- Phương pháp được quy định bởi mục đích của công việc (mục đích khác nhau thì phương
pháp thực hiện cũng khác nhau)
4
ht t

p://tieulun.hopto.o r

g
- Phương pháp được cụ thể hóa bởi nội dung (nội dung công việc sẽ quy định cụ thể việc
sử dụng phương pháp này hay phương pháp khác).
- Phương pháp luôn có cấu trúc vì khi sử dụng một phương pháp, người thực hiện phải hình
dung ra từng giai đoạn trong cả quá trình và phải hiểu ý nghĩa của từng giai đoạn. Nói cách khác:
cấu trúc của phương pháp phải được đảm bảo thì hiệu quả công việc mới cao.
5
-


T í

nh

đa

d

ạ ng

của

p h

ư ơ

ng

pháp thể hiện ở
chỗ có nhiều phương pháp khác nhau để thực hiện một công việc, tuy nhiên người sử dụng cần xác
định rõ sử dụng phương pháp nào là tốt nhất hay kết hợp sử dụng các phương pháp mới đạt hiệu
quả cao nhất. Ðiều đó nói lên tính tối ưu của phương pháp.
Trong ví dụ trên ta thấy: mỗi vùng đất có những cách khác nhau để nấu cơm: cơm nấu bằng
củi, bằng rơm, bằng điện, cơm nấu trong nồi hay trong ống nứa (cơm lam) Ðiều này nói lên tính
đa dạng của phương pháp nấu cơm song cũng nói lên một điều nữa là: tùy theo điều kiện cụ thể mà
ta chọn phương pháp nào là phương pháp tối ưu để nấu cơm.
3. V

ấn đề phân lo


+ Kiểu thông báo tìm tòi bộ phận: là cách thức tổ chức giờ học trong đó thầy không sử dụng
trọn thời gian của tiết học để truyền thụ kiến thức một chiều mà kết hợp tổ chức cho HS tham gia
vào QTDH, tìm tòi từng phần nội dung bài học.
- Kiểu nêu vấn đề: Tùy theo mức độ tham gia của HS vào bài giảng nhiều hay ít mà ta
có các kiểu nêu vấn đề khác nhau như: kiểu nêu vấn đề tái hiện, kiểu nêu vấn đề tìm tòi bộ phận,
thậm chí trong giờ học, GV nêu vấn đề cho HS hoàn toàn tự lực giải quyết vấn đề.
- Kiểu nghiên cứu: Kiểu nghiên cứu cũng có nhiều mức độ khác nhau tùy thuộc vào
mức độ hoạt động nhiều hay ít của HS.
Cơ sở thứ hai của việc phân loại là phương tiện chính để mang kiến thức đến cho HS. Từ
đó có 3 nhóm phương pháp:
- Nhóm phương pháp dùng lời: Các phương pháp thuocọ nhóm này là các PPDH trong đó
thầy và trò chủ
yếu dùng lời nói, chữ viết để xây dựng bài mới, đó là các phương pháp: diễn giảng, kể chuyện, đàm
thoại
- Nhóm phương pháp trực quan: Phương tiện chủ yếu sử dụng trong nhóm các phương
pháp này là các đồ dùng trực quan, thí nghiệm, các phương tiện kĩ thuật hỗ trợ cho hoạt động dạy
học. Ví dụ: các phương pháp thí nghiệm (thí nghiệm biểu diễn, thí nghiệm thực hành ), phương
pháp mô hình, sử dụng phương tiện kĩ thuật, tham quan, thực tế
- Nhóm phương pháp hoạt động tự lực của HS: quan sát, làm thí nghiệm ở nhà, nghiên cứu
tài liệu
Trên đây là kiểu phân loại theo hai cơ sở chung nhất, trong đó không chú ý đến những cơ sở
khác như: giai
đoạn nhận thức, cấu trúc logic bên trong của phương pháp (xem thêm bảng 1.1)
Bảng 1.1: Phân loại PPDH
3.2. Những cơ sở xác định việc sử dụng
phương pháp:
Vấn đề 1-2: Tại sao cùng một nội dung bài học mà GV A dạy rất hay, HS hiểu bài,
ngược lại, GV B lại làm cho giờ học nhàm chán, HS thụ động, không hiểu bài?
Một phương pháp có thể sử dụng theo nhiều cách để tạo nên hiệu quả. Ví dụ: trong diễn
giảng GV có diễn giảng một chiều (diễn giảng thông báo) hay diễn giảng nêu vấn đề, nghĩa là trong

Lý luận dạy học hiện đại đặc biệt coi trọng vai trò của, HS trở thành trung tâm của QTDH
(student - centered). Phương pháp giáo dục tích cực là sự tích hợp thường xuyên các mối quan hệ
giáo dục như: trò - lớp - thầy trong QTDH, trong đó, trò là chủ thể. Chúng ta hãy xét từng yếu tố
trong mối quan hệ trên.
· Trò:
Trò học tích cực bằng các hành động của chính mình, tự tìm ra cái chưa biết, cái cần khám
phá, tự tìm ra kiến thức, chân lí.
Muốn tổ chức các hoạt động như thế cho trò, GV cần đặt ra các tình huống học tập để trò tự
đặt mình vào các tình huống đó, tự quan sát, suy nghĩ, tra cứu tài liệu, làm thí nghiệm, đặt giả thuyết,
phán đoán, làm thử, tự giải quyết vấn đề để tìm ra kiến thức mới.
· Lớp:
Lớp học là cộng đồng các chủ thể, là thực tiễn xã hội hiện tại và cả tương lai của người học ở
ngay trong nhà trường. Lớp học được tổ chức nhằm mục đích giáo dục, làm môi trường xã hội trung
gian giữa trò và thầy.
Vậy là lớp học không còn là một nhóm người tồn tại độc lập trong một không gian thuần túy
bốn bức tường của lớp học mà là một cộng đồng người có những quan hệ xã hội về mặt giáo tiếp.
Các mối quan hệ xã hội ấy không chỉ xảy ra trong bốn bức tường mà còn xảy ra trong xã hội thực sự,
trong tự nhiên.
· Thầy:
Trong dạy học truyền thống, người thầy đại diện cho kiến thức, là nguồn kiến thức duy nhất
của HS, rao giảng cái mình biết, luôn đứng trước một tập thể lớp ngồi ngay ngắn, im lặng, hướng lên
bảng nghe và ghi.
Trong dạy học hiện đại, thầy là người đạo diễn, tổ chức các hoạt động của trò (kể cả tổ chức
lớp) để trò khám phá ra vấn đề, ứng dụng lí thuyết đã học vào cuộc sống. Các hoạt động của thầy
hướng đến mục đích: hình thành và phát triển nhân cách con người lao động tự chủ, năng động và
sáng tạo.
· Ðánh giá:
Việc hình thành và phát triển nhân cách thông qua nhận thức cần được thể hiện qua đánh giá
kết quả học tập. Có 2 kết quả cần đánh giá:
1. Tính chính xác của kiến thức thu lượm được

Vấn đề 1-3: Theo bạn, GV phải làm thế nào để HS tự tìm ra kiến thức bằng
hoạt động tích
cực?
4.2. Năm định hướng trong QTDH (Dimensions of Learning):
Dimensions of Learning là một trong những xu hướng dạy học hiện đại lấy HS làm trung
tâm. Tư tưởng dạy học này do nhà giáo dục người Mỹ Robert J. Marzano nêu lên trong công
trình A Different Kind of Classroom: Teaching with Dimensions of Learning do Associasion for
Supervision and Curriculum Development xuất bản. Tư tưởng dạy học của Marzano đã được nhiều
nước phát triển vận dụng và đạt hiệu quả giáo dục cao. Marzano đã đề ra 5 định hướng định hướng
đan xen trong QTDH Năm định hướng đó là:
1. Thái độ và sự nhận thức tích cực về việc học
2. Thu nhận và tổng hợp kiến thức
3. Mở rộng và tinh lọc kiến thức
4. Sử dụng kiến thức có hiệu quả
5. Hình thành thói quen tư duy tích cực.
ÐỊNH HƯỚNG 1: THÁI ÐỘ VÀ SỰ NHẬN THỨC TÍCH CỰC VỀ VIỆC HỌC
TOP
HS sẽ khó có thể đạt hiệu quả cao trong học tập nếu không có thái độ và sự nhận thức tích cực về việc
học. Các nhân
tố sau chi phối thái độ và sự nhận thức tích cực về việc học của HS:
Ta sẽ xét từng yếu tố:
1. Tạo bầu không khí HT thích hợp:
Không khí HT thường được hiểu như là những nhân tố bên ngoài như: môi trường, điều kiện HT.
Giờ đây, các nhà tâm lí học coi không khí HT là những nhân tố bên trong như: thái độ HT, nhận
thức về việc học của HS. Nếu HS có sự nhận thức đúng đắn về việc học, họ sẽ có bầu không khí tinh
thần thuận lợi cho việc học. Có hai yếu tố ảnh hưởng đến tinh thần, tâm lí của HS là cảm giác được
chấp nhận và cảm giác dễ chịu, thoải mái trong lớp học.
* Cảm giác được chấp nhận:
HS sẽ thấy thoải mái nếu được sự quan tâm, tôn trọng của GV và bạn cùng lớp. Khi ấy, năng lực tư
duy của HS sẽ được phát huy. Sự quan tâm của GV đối với HS có thể được thể hiện bằng nhiều

bài toán là 625.
GV lặp lại một lần nữa cách làm bài toán và ghi lại từng bước đã làm ngay trên bảng. Sau đó GV cho
thêm ví dụ thứ
2, chỉ cho HS thấy từng bước sẽ nảy sinh những vấn đề mới và cho HS tự thực hành ví dụ 2 theo từng
cặp. Sau khi HS
đã làm xong GV trình bày cho cả lớp thấy được cách giải quyết những vấn đề trong từng bước của ví
dụ 2.
Ngày tiếp theo GV cho thêm các ví dụ khác và đưa ra thêm những khó khăn mới trong từng bước,
tiếp tục giúp HS giải quyết. Ðặc biệt GV nhấn mạnh vấn đề: đối với hai số khi cộng lại lớn hơn 10
thì phải nhớ (giữ) và cộng vào cột tiếp theo, nếu không kết quả bài toán sẽ sai.
Những ngày tiếp theo, GV cho nhiều bài tập tương tự hoặc khó hơn với để HS giải quyết, tiếp tục
chỉ ra cho HS thấy những lỗi thường mắc phải khi làm phép cộng 3 chữ số này. Thực hành kết hợp
với chỉ dẫn, GV giúp HS mỗi ngày làm nhanh và chính xác hơn. Sau một tuần lễ, HS của bà Baker
làm toán cộng 3 chữ số rất nhanh và chính xác
Ví dụ 2: Giờ dạy của Mr. DiStefano về kiến thức thông báo
Dạy 1 chương về Rượu trong môn học Sức Khỏe
- Trước tiên GV hỏi HS những câu hỏi liên quan đến chủ đề rượu
- GV ghi lại những ý kiến của HS lên bảng
- GV chỉ ra 2 tác hại của rượu từ những ý kiến HS: rượu gây tác hại về tinh thần và
rượu gây thiệt hại cho sức khỏe
- Phát cho mỗi HS 1 tờ giấy, trên đó chia làm 2 cột: cột 1: Ảnh hưởng của rượu đến cơ
thể; cột 2: Ảnh hưởng của rượu đến việc cư xử, Tiếp theo GV yêu cầu HS đọc giáo trình
(tài liệu) và liệt kê các ý vào mỗi cột trong 15 phút.
- Sau 15 phút, GV yêu cầu HS cho biết những ý kiến của họ và ghi lại những ý hay lên
bảng theo 2 cột đã nêu.
- GV đánh dấu một số ý quan trọng nhất trong những ý đã ghi trên bảng và giải thích rõ
hơn, sâu hơn những ý này bằng những mẩu chuyện minh họa cụ thể qua người thật, việc
thật (những bạn bè, người thân hoặc những nhân vật mà HS biết đã bệnh hoặc sa ngã vì
rượu).
- Trước khi kết thúc bài giảng GV nhấn mạnh một lần nữa những ý quan trọng mà đã

phần cụ thể, chi tiết
+ Ghi các ý ngắn gọn, xúc tích
Gồm 3 giai đoạn:
- Gđ 1: Xây dựng mô hình:
+ GV làm mẫu sau đó yêu
cầu HS nhớ lại tiến trình GV
đã thực hiện
+ Cho HS lập sơ đồ miêu
tả tiến trình GV đã thực hiện.
- Gđ 2: Ðịnh hình KTQT:
+ Ðưa ra một số câu hỏi trước khi cho
HS đọc tư liệu SGK để HS dễ tìm và sắp
xếp ý.
- Gđ 3: Ghi nhớ kiến thức:
+Tóm tắt nội dung
+Nhấn mạnh chủ đề chính, kèm theo
phân tích tỉ mỉ bằng những hình ảnh, sự
việc cụ thể (phần nhấn mạnh và diễn tả
trong bài giảng của Mr. DiStefano về tác
hại của rượu).
+ So sánh sự việc này với sự việc khác
+ Nêu những tình huống có vấn đề,
những lỗi HS đã mắc trong khi giải quyết
vấn đề, làm bài tập và sửa chữa lỗi cho
HS (VD: giai đoạn giải quyết vấn đề và
sửa lỗi cho HS khi làm phép cộng 3 chữ
số của cô Baker)
- Gđ 3: Thu nhận kiến thức:
+ Cho HS thực hành nhiều lần dưới sự
hướng dẫn của GV.

- Yêu cầu HS suy nghĩ kỹ về mô hình mà GV đã làm
- Ghi lại trên bảng các bước thực hiện (bước 1: làm gì, bước 2: làm gì, làm như thế nào )
- Yêu cầu HS lập sơ đồ phát triển về mô hình.
3. HS sẽ được giúp đỡ như thế nào để nắm được kỹ năng hoặc tiến trình?
GV chỉ ra những vấn đề và những lỗi mà HS có thể mắc phải trong từng bước thực hiện vấn
đề và giải quyết hết những vấn đề đó. (Những vấn đề này có thể xuất hiện trong quá trình thực hành
của HS)
4. HS sẽ được giúp đỡ như thế nào để thu nhận kỹ năng hoặc tiến trình ?
- Thực hành nhiều lần.
- GV cần nhấn mạnh yêu cầu về mức độ nhanh và sự chính xác trong suốt quá trình thực
hành giúp HS
thực hiện một cách mềm dẻo và điêu luyện
KTQT.
ÐỊNH HƯỚNG 3: MỞ RỘNG VÀ TINH LỌC KIẾN THỨC TOP
Quá trình HT không chỉ nhằm nắm được những nội dung kiến thức và các kĩ năng. Trong một thế giới
phát triển và
luôn luôn có những sự biến đổi thì những kiến thức và các kĩ năng HS đã thu nhận được trong loại
hình HT 2 sẽ mau chóng trở nên lạc hậu. Do vậy, nếu người học chỉ ghi nhớ máy móc kiến thức đã
họ thì chưa đủ, họ phải có khả năng
tự mở rộng và tự tinh lọc (chắt lọc) những kiến thức và kĩ năng cần thiết. Nói cách khác: người học
phải có năng lực tư duy sáng tạo để có thể tự học suốt đời, tự đổi mới để thích nghi với thực tế cuộc
sống. Trong loại hình 3, mở rộng
và tinh lọc kiến thức là một mặt của tiến trình học tập, liên quan đến việc kiểm tra những điều đã
được học, được biết
ở mộüt mức độ cao hơn và phân tích sâu hơn.
Có nhiều cách để giúp HS mở rộng và tinh lọc kiến thức nhưng một số hoạt động sau đây đặc biệt
thích hợp cho việc mở rộng và tinh lọc kiến thức là:
- So sánh
- Phân loại.
- Quy nạp.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status