một số biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tại ngân hàng tmcp - Pdf 15

Một số biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – CN An Giang

GVHD: TS. Bùi Thanh Quang Trang 1

CHƯƠNG 1:
TỔNG QUAN

1.1. Lý do chọn đề tài:
Trong thời gian qua, tình hình kinh tế - xã hội của đất nước ta ngày càng phát
triển: Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới
WTO, thu hút ngày càng nhiều vốn đầu tư nước ngoài… Đi cùng với sự ổn định về
tình hình kinh tế, xã hội đó là sự đầu tư, mở rộng sản xuất của ngày càng nhiều
ngành nghề sản xuất kinh doanh. Do đó, nhu cầu về vốn cũng không ngừng được
tăng lên. Để đáp ứng đủ nguồn vốn cho xã hội, nơi mà nhiều người sản xuất kinh
doanh tìm đến đó chính là ngân hàng.
Ngân hàng là một loại hình kinh doanh đặc biệt, kinh doanh tiền tệ. Ngân hàng
có nhiều chức năng quan trọng. Trong đó, cung cấp tín dụng là một trong những
chức năng thu về lợi nhuận nhiều nhất cho ngân hàng. Hoạt động kinh doanh của
ngân hàng cũng như những ngành nghề khác, cũng ẩn chứa nhiều rủi ro , như rủi ro
tỷ giá, rủi ro lãi suất, rủi ro tín dụng,… Các loại rủi ro này có ảnh hưởng rất lớn đến
hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Đặc biệt là rủi ro tín dụng, đây là loại rủi ro mà
một khi đã phát sinh thì sẽ gây cho ngân hàng rất nhiều khó khăn trong việc khắc
phục hậu quả.
Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Chi nhánh An Giang từ khi chính thức đi vào hoạt
động tháng 06/2006 đến nay, cùng với định hướng và mục tiêu phát triển chung của
toàn hàng là không ngừng mở rộng quy mô hoạt động và hạn chế thấp nhất những rủi
ro có thể xảy ra. Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Chi nhánh An Giang đã không ngừng
phát triển, mở rộng việc cung cấp tín dụng cho nhiều đối tượng khách hàng. Đi cùng
với việc mở rộng cung cấp tín dụng, ngân hàng cũng đã có nhiều biện pháp nhằm
hạn chế thấp nhất các rủi ro tín dụng có thể xảy ra, làm cho ngân hàng và hệ thống
ngân hàng “an toàn để phát triển” và “phát triển phải an toàn”.

- Phương pháp xử lý số liệu: mô tả thông qua bảng số liệu, nhận xét, đánh giá.
Áp dụng phương pháp so sánh tuyệt đối, tương đối qua các thời điểm.
1.4. Phạm vi nghiên cứu:
Tập trung nghiên cứu, tìm hiểu những biện pháp hạn chế rủi ro tín dụng trong
quá trình họat động của Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Sài Gòn – Chi nhánh An
Giang từ tháng 06 năm 2006 đến nay.

Tóm tắt chương 1: Đây là chương cơ sở hình thành đề tài, mục đích của việc nghiên
cứu đề tài, phương pháp nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu của đề tài.
Trong chức năng này, ngân hàng thương mại một mặt là người đứng ra huy động
và tập trung các nguồn vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế, như vốn nhàn
rỗi của các tổ chức kinh tế, cá nhân, các tầng lớp dân cư, … biến nó thành nguồn vốn
tín dụng để cho vay (cấp tín dụng); mặt khác trên cơ sở nguồn vốn đã huy động
được, ngân hàng sử dụng để đáp ứng nhu cầu vốn kinh doanh, vốn đầu tư cho các
ngành kinh tế và nhu cầu vốn tiêu dùng của xã hội.
Nhờ nguồn vốn tín dụng lớn và luân chuyển liên tục, thông qua việc thực hiện
chức năng nói trên sẽ làm cho nền kinh tế phát triển được cung ứng vốn ngày càng
đầy đủ để phát tiển.
2.2.2. Ngân hàng thương mại là trung gian thanh toán: Công ty
Xí nghiệp
Tổ chức kinh tế
Cá nhân

Ngân
hàng
thương
mại

Công ty
Xí nghiệp
Tổ chức kinh tế

hàng thương mại đứng ra làm trung gian để thực hiện các khoản giao dịch thanh toán
giữa các khách hàng, giữa người mua, người bán, … để hoàn tất các quan hệ kinh tế
thương mại giữa họ với nhau.
2.2.3. Ngân hàng thương mại cung ứng các dịch vụ ngân hàng:
Trong quá trình thực hiện nghiệp vụ tín dụng và ngân quỹ, ngân hàng có những
điều kiện thuận lợi mà không phải tổ chức nào cũng có như kho quỹ, hệ thống thông
tin, mối quan hệ rộng khắp với các doanh nghiệp. Qua đó, ngân hàng có thể thực
hiện tư vấn tài chính, nhận ủy thác, dịch vụ kiều hối, … để nhận tiền hoa hồng, sẽ
vừa tiết kiệm chi phí vừa đạt hiệu quả cao.
2.3. Những vấn đề cơ bản về tín dụng:
2.3.1. Khái niệm về tín dụng:
Tín dụng là quan hệ vay muợn, quan hệ sử dụng vốn lẫn nhau giữa người đi vay
và người cho vay dựa trên nguyên tắc hoàn trả.
Tín dụng được biểu hiện theo sơ đồ:
Sơ đồ 2.3: Khái niệm tín dụng tr
ả tiền

Gi


Khách hàng
đi vay
Hòan trả vốn gốc và lãi vay khi đến hạn
Cho vay vốn có thời hạn
Thế chấp, cầm cố
bảo lãnh
Tín chấp
Một số biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – CN An Giang

GVHD: TS. Bùi Thanh Quang Trang 5

Mặc dù, tín dụng có quá trình tồn tại và phát triển lâu dài qua nhiều hình thái
kinh tế xã hội, với nhiều hình thức khác nhau, song đều có tính chất quan trọng sau:
- Tín dụng trước hết là sự chuyển giao quyền sử dụng một số tiền (hiện kim)
hoặc tài sản (hiện vật) từ chủ thể này sang chủ thể khác, chứ không làm thay đổi
quyền sở hữu chúng.
- Tín dụng bao giờ cũng có giới hạn và phải đựơc “hoàn trả”.
- Giá trị của tín dụng không những được bảo tồn mà còn được nâng cao nhờ lợi
tức tín dụng.
2.3.2. Chức năng của tín dụng:
Tín dụng có 03 chức năng:
2.3.2.1. Chức năng tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ:
Đây là chức năng cơ bản nhất của tín dụng, nhờ chức năng này của tín dụng mà
các nguồn vốn tiền tệ trong xã hội được điều hòa từ nơi “thừa” sang nơi “thiếu” để sử
dụng nhằm phát triển kinh tế.
Tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ là 02 mặt hợp thành chức năng cốt lõi của
tín dụng:
- Ở mặt tập trung vốn tiền tệ: Nhờ sự hoạt động của hệ thống tín dụng mà các
nguồn tiền nhàn rỗi được tập trung lại, bao gồm tiền nhàn rỗi của dân chúng, vốn

- Nhờ hoạt động của tín dụng, mà các nguồn vốn đang nằm trong xã hội được
huy động để sử dụng cho các nhu cầu của sản xuất và lưu thông hàng hóa sẽ có tác
dụng tăng tốc độ chu chuyển vốn trong phạm vi toàn xã hội.
2.3.2.3. Chức năng phản ánh và kiểm soát các hoạt động kinh tế:
Đây là chức năng phát sinh, hệ quả của 02 chức năng trên.
Sự hoạt động của vốn tín dụng phần lớn là sự vận động gắn liền với sự vận động
của vật tư, hàng hóa, chi phí trong các xí nghiệp, các tổ chức kinh tế, vì vậy qua đó
tín dụng không những là tấm gương phản ánh hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp, mà còn thông qua đó thực hiện việc kiểm soát các hoạt động đó nhằm ngăn
chặn các hiện tượng tiêu cực, lãng phí, vi phạm pháp luật, … trong hoạt động sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
2.3.3. Vai trò của tín dụng:
Vai trò của tín dụng bao gồm 02 mặt: tích cực và tiêu cực.
2.3.3.1. Mặt tích cực:
 Tín dụng góp phần thúc đẩy sản xuất lưu thông hàng hóa phát triển:
- Tín dụng trước hết là nguồn cung ứng vốn cho các doang nghiệp, các tổ chức
kinh tế.
- Tín dụng là một trong những công cụ để tập trung vốn một cách hữu hiệu
trong nền kinh tế.
- Tín dụng không những là công cụ tập trung vốn mà còn là công cụ thúc đẩy
tích tụ vốn cho các xí nghiệp, tổ chức kinh tế.
Có thể nói, trong mọi nền kinh tế - xã hôi, tín dụng đều phát huy vai trò to lớn
nói trên.
- Đối với doanh nghiệp: Tín dụng góp phần cung ứng vốn, bao gồm vốn cố
định và vốn lưu động.
- Đối với dân chúng: Tín dụng là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư.
- Đối với toàn xã hội: Tín dụng là tăng hiệu suất sử dụng vốn.
Tất cả đều hợp lực và tác động lên đời sống kinh tế - xã hội khiến tạo ra động lực
phát triển rất mạnh mẽ mà không có công cụ tài chính nào có thể thay thế được.
 Tín dụng góp phần ổn định tiền tệ, giá cả:

2.3.3.2. Mặt tiêu cực:
Nếu để tín dụng phát triển một cách tràn lan không kiểm soát, thì không những
không làm cho nền kinh tế phát triển mà còn làm cho lạm phát có thể gia tăng gây
ảnh hưởng xấu đến đời sống kinh tế, xã hội.
2.4. Các nguyên tắc tín dụng:
Việc vay vốn là nhu cầu tự nguyện của khách hàng và là cơ hội để ngân hàng cấp
tín dụng và thu lợi nhuận từ hoạt động của mình. Tuy nhiên, cấp tín dụng liên quan
đến việc sử dụng vốn huy động của khách hàng nên phải tuân thủ những nguyên tắc
nhất định. Nói chung khách hàng vay vốn của ngân hàng phải đảm bảo 02 nguyên
tắc:
2.4.1. Vốn vay phải sử dụng đúng mục đích đã thỏa thuận trong hợp đồng tín
dụng và có hiệu quả kinh tế:
Việc sử dụng vốn vay vào mục đích gì do 02 bên, ngân hàng và khách hàng, thỏa
thuận và ghi vào trong hợp đồng tín dụng. Đảm bảo sử dụng vốn vay đúng mục đích
thỏa thuận nhằm bảo đảm hiệu quả sử dụng vốn vay và khả năng thu hồi nợ vay sau
này. Do vậy, về phía ngân hàng trước khi cho vay cần tìm hiểu rõ mục đích vay vốn
của khách hàng đồng thời phải kiểm tra xem khách hàng có sử dụng vốn vay đúng
như mục đích đã cam kết hay không. Điều này rất quan trọng vì việc sử dụng vốn
vay đúng mục đích hay không có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng thu hồi nợ sau này.
Về phía khách hàng , việc sử dụng vốn vay đúng mục đích góp phần nâng cao
hiệu quả sử dụng vốn vay đồng thời khách hàng đảm bảo khả năng hoàn trả nợ cho
ngân hàng. Từ đó, nâng cao uy tín của khách hàng đối với ngân hàng và củng cố
quan hệ vay vốn giữa khách hàng và ngân hàng sau này.

Một số biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – CN An Giang

GVHD: TS. Bùi Thanh Quang Trang 8

2.4.2. Vốn vay phải được hoàn trả đầy đủ cả gốc và lãi vay theo đúng hạn đã
cam kết trong hợp đồng tín dụng:

động xấu đến nền kinh tế, cho nên hoạt động kinh doanh ngân hàng phải được giám
sát chặt chẽ, thường xuyên bằng các luật định.
- Các sản phẩm, dịch vụ của ngân hàng thương mại mang tính tương đồng, dễ
bắt chước và gắn chặt với yếu tố thời gian.
Các sản phẩm, dịch vụ mà ngân hàng thương mại cung cấp cho khách hàng rất đa
dạng. Song phần lớn các sản phẩm của mỗi ngân hàng này lại tương đồng với các sản
phẩm của các ngân hàng thương mại khác. Nếu một ngân hàng thương mại vừa thực
hiện một loại hình dịch vụ nào đó có hiệu quả thì ngay lập tức có thể bị các ngân
hàng khác thực hiện theo. Như vậy, khái niệm sản phẩm dịch vụ mới của ngân hàng
thương mại phải được hiểu là sản phẩm dịch vụ mà ngân hàng đó đưa ra thị trường
trước các đối thủ cạnh tranh.
Một số biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – CN An Giang

GVHD: TS. Bùi Thanh Quang Trang 9

Mặt khác, thời gian chính là yếu tố quan trọng thực hiện giá trị sản phẩm, đồng
thời cũng là một trong những yếu tố quyết định giá cả của sản phẩm dịch vụ ngân
hàng. Vì vậy, các sản phẩm dịch vụ ngân hàng luôn gắn chặt với yếu tố thời gian.
- Khách hàng của ngân hàng rất đông đảo và đa dạng.
Khách hàng của ngân hàng thương mại đông đảo và đa dạng, đòi hỏi của khách
hàng đối với sản phẩm dịch vụ của ngân hàng cũng rất khác nhau. Vì vậy, mỗi ngân
hàng phải nghiên cứu xây dựng chiến lược khách hàng phù hợp.
- Kinh doanh ngân hàng gắn liền với yếu tố rủi ro.
Rủi ro có thể xảy ra đối với bất kỳ loại hình kinh doanh nào. Tuy nhiên, rủi ro
trong kinh doanh ngân hàng có những điểm khác biệt với các lĩnh vực kinh doanh
khác về mức độ và nguyên nhân. Rủi ro trong kinh doanh ngân hàng có tính lan
truyền và để lại hậu quả to lớn, không chỉ bao gồm rủi ro nội tại của ngành, mà còn
của tất cả các ngành khác trong nền kinh tế, không chỉ trong phạm vi một quốc gia
mà còn ảnh hưởng đến nhiều quốc gia khác.
2.5.2. Các loại rủi ro trong kinh doanh ngân hàng:

kiểm soát được”. Trong thực tế, người ta có thể kiểm soát chúng ở mức độ hạn chế
trên cơ sở dự báo.
Các rủi ro môi trường vĩ mô mà ngân hàng thường gặp là:
+ Rủi ro tự nhiên hay rủi ro bất khả kháng: lũ lụt, hỏa hoạn, động đất, …
+ Rủi ro về luật pháp liên quan đến việc thay đổi các luật lệ gây bất lợi cho ngân
hàng. Ở các nước đang phát triển, đây là rủi ro có thể gây thiệt hại lớn cho nền kinh
tế, do thiếu các luật lệ hay các quy định cần thiết.
+ Rủi ro về kinh tế liên quan đến sự vận động của nền kinh tế và chu kỳ kinh
doanh: lạm phát, thất nghiệp, suy thoái kinh tế, khủng hoảng, … Ảnh hưởng của các
yếu tố này đến ngân hàng thường rất lớn.
- Rủi ro môi trường cạnh tranh: Một ngân hàng trong hoạt động kinh doanh
thường chịu tác động của khách hàng hoặc các đối thủ cạnh tranh từ nhiều phía. Từ
đó luôn nhận rất nhiều các tác động đầy rủi ro.
 Rủi ro đặc thù:
Luôn tồn tại trong lĩnh vực hay ngành nghề kinh doanh. Rủi ro đặc thù là rủi ro
do bản chất của ngành hay lĩnh vực kinh doanh tạo ra. Trong lĩnh vực ngân hàng, rủi
ro đặc thù thường bao gồm:
- Rủi ro về quản lý: Rủi ro này có thể bắt nguồn từ ban quản lý ngân hàng do
thiếu kiến thức, thiếu kinh nghiệm hoặc thiếu khả năng điều hành. Nó cũng có thể
xảy ra do sự yếu kém về năng lực hay đạo đức của nhân viên ngân hàng.
- Rủi ro cung cấp các dịch vụ tài chính hay rủi ro kinh doanh, bao gồm: Rủi ro
về hoạt động, rủi ro về sản phẩm, rủi ro về công nghệ, rủi ro đòn cân nợ, rủi ro do
thiếu nổ lực nghiên cứu và phát triển.
- Rủi ro thích ứng vốn: Nó thể hiện ngân hàng có quy mô vốn nhỏ thường ít an
toàn hơn ngân hàng có vốn lớn.
- Rủi ro tài sản thế chấp: Tài sản thế chấp không đủ giá trị để bù đắp thiệt hại
cho ngân hàng.
Có thể tóm tắt phân loại rủi ro trong kinh doanh ngân hàng qua sơ đồ sau:
Các loại rủi ro có quan hệ mật thiết với nhau không thể tách rời.
RR trong kinh doanh
ngân hàng


RR do thiếu năng lực quản lý
RR về tổ chức
Một số biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – CN An Giang

GVHD: TS. Bùi Thanh Quang Trang 12

2.5.3. Ảnh hưởng của rủi ro trong kinh doanh ngân hàng:
Cũng như các doanh nghiệp khác, ngân hàng cũng có thể gặp rủi ro và có thể bị
mất vốn. Nhưng do kinh doanh trong lĩnh vực đặc biệt, nên rủi ro trong kinh doanh
ngân hàng không chỉ ảnh hưởng đến bản thân ngân hàng thương mại mà còn tác
động xấu đến nền kinh tế - xã hội.
 Rủi ro xảy ra tạo cho ngân hàng những tổn thất về mặt tài chính:
Bất kỳ một rủi ro nào xảy ra cũng gây nên những tổn thất về tài chính cho ngân
hàng: hoặc làm tăng chi phí hoạt động của ngân hàng, hoặc làm giảm thu nhập của
ngân hàng. Nếu thu không đủ chi ngân hàng sẽ bị thua lỗ, nghiêm trọng hơn ngân
hàng có thể bị phá sản.
Rủi ro và tổn thất tài chính là điều khó tránh khỏi trong việc tìm kiếm lợi nhuận,
hoạt động nào mang lại lợi nhuận cao thì khả năng xảy ra rủi ro sẽ lớn. Điều đó đặt ra
cho ngân hàng là phải cân nhắc lựa chọn phương án kinh doanh nhằm đạt được sự
cân bằng hợp lý giữa lợi nhuận với rủi ro và tổn thất.
 Rủi ro xảy ra làm giảm uy tín của ngân hàng:
Những thiệt hại về uy tín của ngân hàng, làm mất lòng tin của của công chúng là
những tổn thất còn lớn hơn rất nhiều so với những tổn thất về mặt tài chính. Các thua
lỗ trong hoạt động của ngân hàng luôn có ảnh hưởng bất lợi đến niềm tin của công
chúng. Khi dân chúng thiếu tin tưởng vào khả năng kinh doanh của ngân hàng, hoặc
nghi ngờ ngân hàng mất khả năng thanh toán, họ sẽ đồng loạt rút tiền gửi ra khỏi
ngân hàng, dẫn đến việc khủng hoảng tài chính hoặc phá sản của ngân hàng.
 Rủi ro trong kinh doanh ngân hàng còn gây tác động xấu đến nền kinh tế - xã
hội:

 Rủi ro do môi trường kinh tế không ổn định:
- Rủi ro tất yếu của quá trình tự do hóa tài chính, hội nhập quốc tế.
Quá trình tự do hoá tài chính và hội nhập quốc tế có thể làm cho nợ xấu gia tăng
khi tạo ra một môi trường cạnh tranh gay gắt, khiến hầu hết các doanh nghiệp, những
khách hàng thường xuyên của ngân hàng phải đối mặt với nguy cơ thua lỗ và quy
luật chọn lọc khắc nghiệt của thị trường. Bên cạnh đó, bản thân sự cạnh tranh của các
ngân hàng thương mại trong nước và quốc tế trong môi trường hội nhập kinh tế cũng
khiến cho các ngân hàng trong nước với hệ thống quản lý yếu kém gặp phải nguy cơ
rủi ro nợ xấu tăng lên bởi hầu hết các khách hàng có tiềm lực tài chính lớn sẽ bị các
ngân hàng nước ngoài thu hút.
- Thiếu sự quy hoạch, phân bổ đầu tư một cách hợp lý đã dẫn đến khủng hoảng
thừa về đầu tư trong một số ngành.
Nền kinh tế thị trường tất yếu sẽ dẫn đến cạnh tranh, các nhà kinh doanh sẽ tìm
kiếm ngành nào có lợi nhất để đầu tư và sẽ rời bỏ những ngành không đem lại lợi
nhuận cho họ và do đó có sự chuyển dịch vốn từ ngành này qua ngành khác và đây
cũng là một hiện tượng khách quan. Tuy nhiên ở nước ta thời gian qua, sự cạnh tranh
đã phát triển một cách tự phát, hoàn toàn không đi kèm với sự quy hoạch hợp lý, hợp
tác, phân công lao động, chuyên môn hoá lao động, sự bất lực trong vai trò của các
hiệp hội nghề nghiệp và sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước.
Thời gian qua, tại một số địa phương đã xảy ra tình trạng mặc dù điều kiện địa
phương không thuận lợi cho việc chăn nuôi bò sữa, nhưng tại đây chính quyền địa
phương lại khuyến khích người dân tham gia vào các chương trình chăn nuôi bò sữa
điều này tất yếu dẫn đến việc là đầu tư không hiệu quả, không thể thu hồi vốn. Hay
tại nhiều tỉnh đồng bằng Sông Cửu Long đất nông nghiệp đã được chuyển thành khu
công nghiệp, khu dân cư. Nhưng thật trớ trêu, không ít khu dân cư có rất ít người dân
sinh sống, còn các khu công nghiệp thì đang bỏ hoang, nông dân mất nghề phải chịu
cảnh ly nông…
 Rủi ro do môi trường pháp lý không thuận lợi:
- Sự kém hiệu quả của cơ quan pháp luật cấp địa phương.
Trong những năm gần đây, Quốc hội, Ủy ban thường vụ quốc hội, Chính phủ,

ngân hàng thương mại dẫn đến những rủi ro rất lớn, có nguy cơ đe dọa sự an toàn
của cả hệ thống lẽ ra có thể đã được ngăn chặn ngay từ đầu nếu bộ máy thanh tra
phát hiện và xử lý sớm hơn.
- Hệ thống quản lý thông tin còn bất cập.
Hiện nay ở Việt Nam chưa có một cơ chế công bố thông tin đầy đủ về doanh
nghiệp và ngân hàng. Trung tâm thông tin tín dụng ngân hàng (CIC) của Ngân hàng
Nhà nước đã hoạt động đã quá một thập niên và đã đạt được những kết quả bước đầu
rất đáng khích lệ trong việc cung cấp thông tin kịp thời về tình hình hoạt động tín
dụng nhưng chưa phải là cơ quan định mức tín nhiệm doanh nghiệp một cách độc lập
và hiệu quả, thông tin cung cấp còn đơn điệu, thiếu cập nhật và ngoài ra việc kết nối
thông tin với trang Web – CIC qua đường X25 của Chi cục tin học ngân hàng còn
nhiều trục trặc, chưa đáp ứng được đầy đủ yêu cầu tra cứu thông tin tại Thành phố
Hồ Chí Minh. Đó cũng là thách thức cho hệ thống ngân hàng trong việc mở rộng và
kiểm soát tín dụng cho nền kinh tế trong điều kiện thiếu một hệ thống thông tin
tương xứng. Nếu các ngân hàng cố gắng chạy theo thành tích, mở rộng tín dụng
trong điều kiện môi trường thông tin không cân xứng thì sẽ gia tăng nguy cơ nợ xấu
cho hệ thống ngân hàng.
2.6.2.2. Rủi ro tín dụng do nguyên nhân chủ quan:
 Rủi ro do các nguyên nhân từ phía ngân hàng cho vay:
- Do không thấy được năng lực của khách hàng.
- Do không thẩm định kỹ về khách hàng trước khi cho vay.

Một số biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – CN An Giang

GVHD: TS. Bùi Thanh Quang Trang 15

- Do cán bộ ngân hàng thiếu đạo đức nghề nghiệp, yếu kém về trình độ chuyên
môn nghiệp vụ, dẫn đến việc cho vay khống, cho vay không đúng mục đích, thẩm
định dự án đầu tư, phương án kinh doanh không chính xác.
- Do cho vay tập trung quá nhiều vào một lĩnh vực.

Kiểm tra nội bộ có điểm mạnh hơn thanh tra Ngân hàng Nhà nước ở tính thời
gian vì nó nhanh chóng, kịp thời ngay khi vừa phát sinh vấn đề và tính sâu sát của
người kiểm tra viên, do việc kiểm tra được thực hiện thường xuyên cùng với công
việc kinh doanh. Nhưng trong thời gian trước đây, công việc kiểm tra nội bộ của các
ngân hàng hầu như chỉ tồn tại trên hình thức. Kiểm tra nội bộ cần phải được xem như
hệ thống “thắng” của cỗ xe tín dụng. Cỗ xe càng lao đi với vận tốc lớn thì hệ thống
này càng phải an toàn, hiệu quả thì mới tránh cho cỗ xe khỏi đi vào những ngả rẽ rủi
ro vốn luôn luôn tồn tại thường trực trên con đường đi tới.
 Rủi ro do các nguyên nhân từ phía khách hàng vay:
Một số biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – CN An Giang

GVHD: TS. Bùi Thanh Quang Trang 16

- Khách hàng vay vốn thiếu năng lực pháp lý.
- Tính chất công việc của khách hàng có mức độ rủi ro cao.
- Do khách hàng sử dụng vốn vay sai mục đích, kinh doanh kém hiệu quả,
không có thiện chí trong việc trả nợ.
Đa số các doanh nghiệp khi vay vốn ngân hàng đều có các phương án kinh doanh
cụ thể, khả thi. Số lượng các doanh nghiệp sử dụng vốn sai mục đích, cố ý lừa đảo
ngân hàng để chiếm đoạt tài sản không nhiều. Tuy nhiên những vụ việc phát sinh lại
hết sức nặng nề, liên quan đến uy tín của các cán bộ, làm ảnh hưởng xấu đến các
doanh nghiệp khác.
- Khả năng quản lý kinh doanh kém.
Khi các doanh nghiệp vay tiền ngân hàng để mở rộng quy mô kinh doanh, đa
phần là tập trung vốn đầu tư vào tài sản vật chất chứ ít doanh nghiệp nào mạnh dạn
đổi mới cung cách quản lý, đầu tư cho bộ máy giám sát kinh doanh, tài chính, kế
toán theo đúng chuẩn mực. Quy mô kinh doanh phình ra quá to so với tư duy quản lý
là nguyên nhân dẫn đến sự phá sản của các phương án kinh doanh đầy khả thi mà lẽ
ra nó phải thành công trên thực tế.
- Do năng lực vay vốn của khách hàng không tốt về tài sản đảm bảo, vốn tự có,

- Cơ cấu lại quy mô lớn, mở rộng hay thu hẹp công ty (doanh nghiệp).
- Sụt giá cổ phiếu trên thị trường.
- Những thay đổi trong nhu cầu thị trường, cổ phiếu bị ảnh hưởng bởi công
nghệ hay các quy chế hoặc việc xóa bỏ quy chế.
- Giới thiệu hay hủy bỏ các sản phẩm và dịch vụ chính.
- Chất lượng sản phẩm.
- Những điều chỉnh của luật pháp có ảnh hưởng đến tính cạnh tranh.
- Hệ thống phân phối không hiệu quả trong điều kiện thị trường biến động.
- Sự thay đổi về giá bán hàng.
- Sự thay đổi về giá đầu vào.
- Khả năng điều chỉnh giá đầu ra theo những thay đổi của giá đầu vào.
 Nhóm dấu hiệu báo trước thông qua thông tin tài chính:
- Kiểm soát tài chính yếu kém và không thống nhất trong báo cáo.
- Báo cáo không đầy đủ thông tin tài chính.
- Trì hoãn việc chuẩn bị các báo cáo tài chính.
- Những dấu hiệu hạch toán không minh bạch trong báo cáo tài chính.
- Giảm các khả năng tài chính.
- Tỷ lệ nợ trên vốn cổ phần.
- Lỗ và các khoản dự phòng lớn, ngoài dự kiến.
- Tài khoản có rút quá số dư không.
- Có hiện tượng sai phạm hay thanh toán chậm các nghĩa vụ không.
- Giá trị của các khoản đảm bảo có được kiểm tra thường xuyên không.
- Ngân hàng có nhận được kịp thời các thông tin về hàng trong kho và các
khoản phải thu không, con số có chính xác không.
- Có sự chậm trễ quá mức nào trong việc nhận các báo cáo tài chính.
- Những giải thích về sự chậm trễ của khách hàng thường là những dấu hiệu
báo trước về bản thân khách hàng.
 Nhóm dấu hiệu báo trước thông qua thông tin cá nhân / công tác quản lý:
- Lối sống phung phí của các vị giám đốc.
- Việc né tránh của các nhà quản lý công ty.

- Đề nghị gia hạn, điều chỉnh kỳ hạn nợ nhiều lần không rõ lý do hoặc thiếu
các căn cứ thuyết phục mang tính khách quan về việc gia hạn hay điều chỉnh kỳ hạn
nợ.
- Sự sụt giảm bất thường số dư tài khoản tiền gửi tại ngân hàng, xuất hiện
những thay đổi bất thường ngoài dự kiến và không giải thích được.
- Chậm thanh toán các khoản lãi khi đến hạn.
- Thanh toán các khoản nợ gốc không đầy đủ, đúng hạn.
- Xuất hiện nợ quá hạn do khách hàng không có khả năng hoàn trả hoặc khách
hàng không muốn trả nợ.
- Mức vay thường xuyên tăng, yêu cầu các khoản vay vượt quá nhu cầu dự
kiến.
- Tài sản đảm bảo không đủ tiêu chuẩn, giá trị tài sản đảm bảo giảm sút so với
định giá khi cho vay. Có dấu hiệu tài sản đảm bảo đã cho người khác thuê, bán hay
trao đổi hoặc đã biến mất, không còn tồn tại.
Một số biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – CN An Giang

GVHD: TS. Bùi Thanh Quang Trang 19

- Có dấu hiệu khách hàng trông chờ vào các khoản thu nhập bất thường khác
không phải từ hoạt động sản xuất kinh doanh chính hoặc từ hoạt động được đề xuất
trong phương án vay vốn để đáp ứng các nghĩa vụ thanh toán.
- Có dấu hiệu tìm kiến các nguồn vốn lưu động từ nhiều nguồn khác, đặc biệt
là từ đối thủ cạnh tranh của ngân hàng.
- Có dấu hiệu sử dụng nhiều tài khoản tài trợ ngắn hạn cho các hoạt động đầu
tư dài hạn.
- Chấp nhận sử dụng các nguồn vốn với giá cao với mọi điều kiện.
- Có sự chênh lệch lớn giữa doanh thu hay dòng tiền thực tế so với mức dự
kiến khi khách hàng đề nghị cấp tín dụng.
- Những khoản thay đổi bất lợi trong cơ cấu vốn, tỷ lệ thanh khoản hay mức độ
hoạt động của khách hàng.


không quan hệ với các tổ chức tín dụng khác mặc dù biết rõ các khoản tín dụng mới
cấp sẽ ẩn chứa nguy cơ rủi ro cao.
2.6.4. Các chỉ tiêu để đánh giá hoạt động tín dụng:
2.6.4.1. Tỷ số Nợ quá hạn trên Tổng dư nợ:
Chỉ tiêu này đánh giá chất lượng công tác tín dụng. Quy định hiện nay của Ngân
hàng Nhà nước cho phép dư nợ quá hạn của các ngân hàng thương mại không được
vượt quá 5%.
2.6.4.2. Tỷ số Hệ số thu nợ:
Hệ số thu nợ thể hiện khả năng thu hồi nợ từ việc cho khách hàng vay. Hệ số thu
nợ cao cho thấy khả năng thu nợ của ngân hàng tốt, rủi ro tín dụng thấp.
2.6.4.3. Tỷ số giữa các khoản xóa nợ ròng so với tổng cho vay và cho thuê tài
chính.
2.6.4.4. Tỷ số dự phòng tổn thất tín dụng hàng năm so với tổng cho vay và cho
thuê tài chính.
2.7. Phân nhóm nợ:
Căn cứ theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2006 của Thống
đốc Ngân hàng Nhà nước ban hàng quy định về việc phân loại nợ, trích lập và sử
dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của Tổ chức tín
dụng, Quyết định số 18/2007/ QĐ-NHNN ngày 25/04/2007 về việc sửa đổi, bổ sung
một số điều của Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN thì có các nhóm nợ sau:
- Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm:
+ Các khoản nợ trong hạn mà tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng thu hồi
đầy đủ cả gốc và lãi đúng thời hạn.

trong thời gian tối thiểu 06 tháng đối với các khoản nợ trung và dài hạn, 03 tháng đối
với các khoản nợ ngắn hạn, kể từ ngày bắt đầu trả đầy đủ nợ gốc và lãi theo thời hạn
được cơ cấu lại.
 Có tài liệu, hồ sơ chứng minh các nguyên nhân làm khoản nợ phải cơ cấu lại
thời hạn trả nợ đã được xử lý, khắc phục.
 Tổ chức tín dụng có đủ cơ sở (thông tín dụng, tài liệu kèm theo) để đánh giá
là khách hàng có khả năng trả đầy đủ nợ gốc và lãi đúng thời hạn đã được cơ cấu lại
còn lại.
- Nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm:
+ Các khoản nợ quá hạn từ 10 ngày đến 90 ngày.
+ Các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu (đối với khách hàng là doanh
nghiệp, tổ chức thì tổ chức tín dụng phải có hồ sơ đánh giá khách hàng về khả năng
trả nợ đầy đủ nợ gốc và lãi đúng kỳ hạn được điều chỉnh lần đầu).
+ Các khoản nợ khác được phân loại vào nhóm 2 theo quy định:
Tổ chức tín dụng phải chuyển khoản nợ vào nhóm có rủi ro cao hơn trong các
trường hợp:
 Toàn bộ dư nợ của một khách hàng tại một tổ chức tín dụng phải được phân
loại vào cùng một nhóm nợ.
 Đối với khoản nợ cho vay hợp vốn tổ chức tín dụng làm đầu mối phải thực
hiện phân loại nợ đối với khoản cho vay hợp vốn theo các quy định và phải thông
báo kết quả phân loại nợ cho các tổ chức tín dụng tham gia cho vay hợp vốn. Trường
hợp khách hàng vay hợp vốn có một hoặc một số các khoản nợ khác tại tổ chức tín
dụng tham gia cho vay hợp vốn đã phân loại vào nhóm nợ không cùng nhóm nợ của
khoản nợ vay hợp vốn do tổ chức tín dụng làm đầu mối phân loại, tổ chức tín dụng
tham gia cho vay hợp vốn phân loại lại toàn bộ dư nợ (kể cả phần dư nợ cho vay hợp
vốn) của khách hàng vay hợp vốn vào nhóm nợ do tổ chức tín dụng đầu mối phân
loại hoặc do tổ chức tín dụng tham gia cho vay hợp vốn phân loại tùy theo nhóm nợ
nào có rủi ro cao hơn.
 Tổ chức tín dụng phải chủ động phân loại các khoản nợ được phân loại vào
các nhóm theo quy định vào nhóm nợ có rủi ro cao hơn theo đánh giá của tổ chức tín

khoản nợ vay hợp vốn do tổ chức tín dụng làm đầu mối phân loại, tổ chức tín dụng
tham gia cho vay hợp vốn phân loại lại toàn bộ dư nợ (kể cả phần dư nợ cho vay hợp
vốn) của khách hàng vay hợp vốn vào nhóm nợ do tổ chức tín dụng đầu mối phân
loại hoặc do tổ chức tín dụng tham gia cho vay hợp vốn phân loại tùy theo nhóm nợ
nào có rủi ro cao hơn.
 Tổ chức tín dụng phải chủ động phân loại các khoản nợ được phân loại vào
các nhóm theo quy định vào nhóm nợ có rủi ro cao hơn theo đánh giá của tổ chức tín
dụng khi xảy ra các trường hợp:
Có những diễn biến bất lợi tác động tiêu cực đến môi trường, lĩnh vực kinh
doanh của khách hàng.
Các khoản nợ của khách hàng bị các tổ chức tín dụng khác phân loại vào
nhóm nợ có mức độ rủi ro cao hơn (nếu có thông tin).
Các chỉ tiêu tài chính của khách hàng (về khả năng sinh lời, khả năng thanh
toán, tỷ lệ nợ trên vốn và dòng tiền) hoặc khả năng trả nợ của khách hàng bị suy
giảm liên tục hoặc có biến động lớn theo chiều hướng suy giảm.
Khách hàng không cung cấp đầy đủ, kịp thời và trung thực các thông tin tài
chính theo yêu cầu của tổ chức tín dụng để đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng.
- Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm:
Một số biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – CN An Giang

GVHD: TS. Bùi Thanh Quang Trang 23

+ Các khoảnnợ quá hạn từ 181 đến 360 ngày.
+ Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo
thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu.
+ Các khoản nợ khác được phân loại vào nhóm 4 theo quy định:
Tổ chức tín dụng phải chuyển khoản nợ vào nhóm có rủi ro cao hơn trong các
trường hợp:
 Toàn bộ dư nợ của một khách hàng tại một tổ chức tín dụng phải được phân
loại vào cùng một nhóm nợ.

+ Các khoản nợ khoanh, nợ chờ xử lý.
+ Các khoản nợ khác được phân loại vào nhóm 5 theo quy định:
Một số biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – CN An Giang

GVHD: TS. Bùi Thanh Quang Trang 24

Tổ chức tín dụng phải chuyển khoản nợ vào nhóm có rủi ro cao hơn trong các
trường hợp:
 Toàn bộ dư nợ của một khách hàng tại một tổ chức tín dụng phải được phân
loại vào cùng một nhóm nợ.
 Đối với khoản nợ cho vay hợp vốn tổ chức tín dụng làm đầu mối phải thực
hiện phân loại nợ đối với khoản cho vay hợp vốn theo các quy định và phải thông
báo kết quả phân loại nợ cho các tổ chức tín dụng tham gia cho vay hợp vốn. Trường
hợp khách hàng vay hợp vốn có một hoặc một số các khoản nợ khác tại tổ chức tín
dụng tham gia cho vay hợp vốn đã phân loại vào nhóm nợ không cùng nhóm nợ của
khoản nợ vay hợp vốn do tổ chức tín dụng làm đầu mối phân loại, tổ chức tín dụng
tham gia cho vay hợp vốn phân loại lại toàn bộ dư nợ (kể cả phần dư nợ cho vay hợp
vốn) của khách hàng vay hợp vốn vào nhóm nợ do tổ chức tín dụng đầu mối phân
loại hoặc do tổ chức tín dụng tham gia cho vay hợp vốn phân loại tùy theo nhóm nợ
nào có rủi ro cao hơn.
 Tổ chức tín dụng phải chủ động phân loại các khoản nợ được phân loại vào
các nhóm theo quy định vào nhóm nợ có rủi ro cao hơn theo đánh giá của tổ chức tín
dụng khi xảy ra các trường hợp:
Có những diễn biến bất lợi tác động tiêu cực đến môi trường, lĩnh vực kinh
doanh của khách hàng.
Các khoản nợ của khách hàng bị các tổ chức tín dụng khác phân loại vào
nhóm nợ có mức độ rủi ro cao hơn (nếu có thông tin).
Các chỉ tiêu tài chính của khách hàng (về khả năng sinh lời, khả năng thanh
toán, tỷ lệ nợ trên vốn và dòng tiền) hoặc khả năng trả nợ của khách hàng bị suy
giảm liên tục hoặc có biến động lớn theo chiều hướng suy giảm.

đáng lưu ý trong danh mục đầu tư và phải thiết lập giới hạn an toàn để hạn chế xu
hướng ngân hàng tập trung vào các khách hàng đơn lẻ hoặc các nhóm khách hàng có
quan hệ.
- Chuẩn mực 10: Cho vay khách hàng có mối quan hệ.
Để ngăn ngừa sự lạm dụng phát sinh từ việc cho vay khách hàng có mối quan hệ,
quan hệ vay vốn phải dựa trên nguyên tắc “trong tầm kiểm soát”, như vậy, việc mở
rộng tín dụng được giám sát một cách có hiệu quả, kiểm soát và giảm thiểu rủi ro.
Giao dịch cho vay khách hàng có mối quan hệ thường gây ra những rủi ro đặc
biệt cho ngân hàng , vì thế nên có sự chấp thuận của Hội đồng quản trị.
Tóm tắt chương 2: Trong chương này đề cập đến cơ sở lý luận của đề tài, các vấn
đề mang tính lý thuyết về ngân hàng thương mại, chức năng của ngân hàng thương
mại; tín dụng, chức năng, vai trò của tín dụng; rủi ro tín dụng, ảng hưởng của rủi ro
tín dụng, dấu hiệu nhận biết rủi ro tín dụng, các chỉ tiêu đánh giá hoạt động tín dụng
của ngân hàng, phân nhóm nợ… Đây là chương cơ sở để đi vào thực trạng tín dụng
tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Chi nhánh An Giang.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status