CÁC DẠNG ĐỀ MỞ MÔN TẬP LÀM VĂN THCS - Pdf 15

3. CÁCH CHẤM BÀI THEO HƯỚNG MỞ
Như trên đã nói, đề mở thật sự gây khó cho người chấm. Người chấm cần
hết sức mềm dẻo, linh hoạt nhưng đồng thời cũng nắm rất chắc vấn đề và cách giải
quyết vấn đề để lượng định đánh giá một cách có cơ sở khoa học.
Qua những để thi đại học năm vừa qua cho thấy đề thi phân loại tốt HS, đề văn
gắn liền với vấn đề xã hội; HS trung bình - khá đều làm được 5 - 6 điểm, HS khá
giỏi vẫn làm được 8 - 9 điểm. Theo ý kiến của Bộ GD - ĐT, nếu có ý nào thí sinh
trình bày khác đáp án nhưng đúng cũng được cho điểm, Bộ khuyến khích sáng tạo
của thí sinh.
Một dẫn chứng cụ thể cho cách chấm bài theo hướng mở: Trong đề kiểm
tra học kì I lớp 9, năm học 2007 - 2008, , Phòng GD - ĐT Diên Khánh có câu “Kể
về một cuộc gặp gỡ với các anh bộ đội nhân ngày thành lập Quân đội nhân
dân Việt Nam (22 - 12).Trong buổi gặp ấy, em được thay mặt các bạn phát
biểu những suy nghĩ của thế hệ mình về thế hệ cha anh đã chiến đấu, hi sinh
để bảo vệ Tổ Quốc”.
Với đề bài này, Phòng GD - ĐT Diên Khánh cũng đã đưa ra một đáp án và biểu
điểm cụ thể. Ngoài những mục như A. Yêu cầu chung, B. Những ý chính cần có
thì trong đáp án còn có thêm mục *Một số điểm giáo viên cần lưu ý:
+ Những ý chính nêu trên chỉ có tính chất gợi ý, HS có thể có những sáng tạo
riêng. GV cần hết sức linh hoạt trong quá trình chấm.
+ Thời gian làm bài so với các năm học trước có ít hơn vì vậy các em có thể có
khó khăn về thời gian, nội dung bài có thể không sâu lắm.
+ Với trình độ thực tế của HS lớp 9, việc các em kết hợp nghị luận và miêu tà nội
tâm sẽ có hạn chế, GV không nên yêu cầu cao.
+ Cần trân trọng, đánh giá cao những cố gắng sáng tạo của riêng các em.
Qua dẫn chứng này chúng ta thấy rằng, việc chấm bài văn dạng đề mở của
GV cũng tạo điều kiện cho HS có được điểm số cao. Cách chấm bài này nói lên sự
trân trọng tính tích cực và sáng tạp của HS. Đây cũng là một ưu thế cho HS nếu
HS biết cách vận dụng tốt khả năng học tập của mình.
4. HƯỚNG DẪN TIẾP CẬN CÁC ĐỀ BÀI TLV DẠNG MỞ TRONG
CHƯƠNG TRÌNH SGK NGỮ VĂN THCS

4.2: Loài cây em yêu
A. Yêu cầu:
- Kiểu bài: văn tự sự.
- Xác định yêu cầu đề: cảm nghĩ, tình cảm yêu mến của em đối với một loài cây.
B. Nội dung:
- Mở bài: Nêu loài cây và lí do em thích loài cây đó (đẹp, gắn với một kỉ niệm…)
- Thân bài:
+ Cảm xúc chung: loài cây đã gắn bó với em nhiều năm, em xem cây như người
bạn…
+ Đặc điểm nổi bật của cây: tuổi của cây, cành, lá, hoa, dáng…
+ Kỉ niệm đáng nhớ về loài cây
- Kết bài: Ấn tượng, tình cảm của em về loài cây (em luôn nhớ về loài cây đáng
yêu đó, em ao ước loài cây đó sẽ luôn là người bạn gắn bó với em trong thời gian
sắp đến…)
4.3: Người ấy (bạn, thầy, người thân…) sống mãi trong lòng tôi
A. Yêu cầu:
- Kiểu bài: văn tự sự (những tình cảm của em dành cho người thân), có kết hợp
miêu tả và biểu cảm.
- Xác định yêu cầu đề: kể lại những kỉ niệm đáng nhớ giữa em với đối tượng được
nói đến (Cái chính, cốt lõi chủ yếu khiến bài văn của em hay là do cách mà em
miêu tả và cái em nói sự ấn tượng về đối tượng ấy)
B. Nội dung:
- Mở bài: giới thiệu về đối tượng định nói đến (đối tượng được nói đến là ai? Em
có kỉ niệm về đối tượng ấy như thế nào mà khiến em nhớ mãi?)
- Thân bài:
+ Miêu tả khái quát về đối tượng: tuổi, hình dáng, việc làm, tính tình…
+ Em và người ấy gặp nhau trong hoàn cảnh nào? Mối quan hệ giữa em và người
ấy?
+ Kỉ niệm đáng nhớ hoặc ấn tượng sâu sắc của mình về người ấy
+ Cảm nghĩ của em về người ấy (tự hào, yêu mến, kính trọng…)

tu từ như nhân hóa, ẩn dụ…)
- Yêu cầu của đề: thuyết minh về cây lúa Việt Nam.
B. Nội dung:
- Mở bài: Giới thiệu khái quát về cây lúa, về sự gắn bó mật thiết giữa cây lúa và
người nông dân Việt Nam
- Thân bài:
+ Khái quát về cây lúa: là loại cây trồng quan trọng nhất, thuộc nhóm ngũ cốc; là
cây lương thực chính của người Việt Nam nói riêng và người Châu Á nói chung…
+ Thuyết minh chi tiết:
. Đặc điểm, hình dạng: lúa là cây có một lá mầm, rễ chum, lá bao quanh thân, có
phiến dài và mỏng…
. Kích thước: lá lúa dài khoảng 25-30cm
. Có nhiều loại lúa: lúa 202, lúa 17, lúa 3588…
. Cách trồng lúa qua các giai đoạn: hạt thóc nảy mầm thành cây mạ, nhổ mạ cấy
xuống ruộng, phải bón phân, cày bừa, diệt sâu bọ để lúa phát triển, cát lúa, tuốt
hạt, phơi khô, xay xát thành hạt gạo…
+ Tác dụng, vai trò của cây lúa và hạt gạo: gạo tẻ, gạo nếp dùng làm bánh chưng
hay cac loại xôi; lúa nếp non dùng làm cốm…
+ Những thành tựu mà nước ta đạt được từ cây lúa: Ngày nay, nước ta đã lai tạo
được hơn ba mươi giống lúa, được công nhận là giống lúa quốc gia; đứng thứ hai
thế giới sau Thái Lan về xuất khẩu gạo…
- Kết bài: Vai trò của cây lúa trong đời sống vật chất và tinh thần
Với đề bài này, khi thuyết minh chi tiết về cây lúa, HS có thể kết hợp miêu tả và
biểu cảm, cần vận dụng tính sáng tạo trong việc sử dụng các biện pháp nhân hóa,
ẩn dụ để làm cho bài văn sinh động và mang phong thái riêng.
4.6: Một nét đặc sắc trong di tích, thắng cảnh quê em
A. Yêu cầu:
- Kiểu bài: văn thuyết minh (HS có thể sử dụng vài biện pháp nghệ thuật và miêu
tả một cách hợp lí và có hiệu quả)
- Xác định yêu cầu đề: chọn đúng đối tượng thuyết minh, thuyết minh được những

cảm; bố cục đủ 3 phần. Hành văn mạch lạc, lưu loát. Chú ý tránh lỗi: dùng từ, ngữ
pháp, chính tả.
- Biết xác định người kể chuyện là nhân vật Thu (trong truyện Chiếc lược ngà) và
sử dụng ngôi kể phù hợp.
- Biết kết hôp giữa tự sự với các yếu tố khác: miêu tả, miêu tả nội tâm, độc thoại
nội tâm, nghị luận. (Yếu tố nghị luận phải bám sát nội dung về ý của phần: Đọc -
hiểu văn bản).
2. Yêu cầu về kiến thức:
Học sinh có thể sáng tạo các tình huống khác nhau, miễn sao tự nhiên, hợp lí và
không xa rời nội dung tác phẩm. Nhập vai nhân vật Thu trong tác phẩm Chiếc
lược ngà, trong cuộc gặp gỡ và chia tay đầy xúc động giữa hai cha con, để làm rõ
diễn biến trạng thái tình cảm và hành động của Thu và người cha.
2.1. Nhân vật tự giới thiệu khái quát về tên, tình huống để dẫn đến hoàn cảnh xảy
ra câu chuyện (cảnh gặp gỡ giữa bé Thu và người cha).
2.2. Thuật lại câu chuyện theo nội dung tác phẩm (diễn biến cuộc gặp gỡ).
2.3. Khéo lại câu chuyện là cảnh chia tay đầy xúc động của hai cha con.
Lưu ý: Học sinh có thể sắp xếp hoặc trình bày ý theo nhiều cách khác nhau song
cần đúng với diễn biến câu chuyện, giáo viên cần căn cứ vào tính chất hợp lí,
thuyết phục, sáng tạo để đánh giá và cho điểm bài làm.
- Điểm 6,0: + Đáp ứng tốt những yêu cầu nêu trên.
+ Bố cục hợp lí, nội dung chặt chẽ, phong phú, giàu sức
thuyết phục.
+ Diễn đạt tốt. Có thể mắc một vài sai sót nhỏ.
- Điềm 3,0: + Hiểu đúng đề bài, viết đầy đủ những ý cơ bản ở trên nhưng còn sơ
lược.
+ Văn chưa trôi chảy nhưng diễn đạt được ý. Không mắc
nhiều lỗi.
- Điểm 1,0: + Nội dung sơ sài. Còn lúng túng trong phương pháp.
+ Bố cục lộn xộn. Văn viết lủng củng, mắc nhiều lỗi diễn đạt.
- Điểm 0,0: Không hiểu đề, lạc đề.

+ Bắt đầu giờ ra chơi: học sinh ùa ra khắp nơi trên sân trường ->Tiếng loa phát
thanh…
b. Tả cụ thể những hình ảnh sinh hoạt trong giờ ra chơi.
+ Phía sau dãy lầu: nữ đá cầu, nhảy dây; nam bắn bi, rượt bắt…
+ Dưới gốc phượng các bạn trò chuyện, ôn bài…
+ Văn phòng: thầy, cô giải lao; thầy Tổng phụ trách và giáo viên trực ban theo dõi
hoạt động của học sinh.
+ Xen lẫn tả không gian chung.
+ Tiếng trống báo hiệu giờ và lớp…
3. Kết bài: Cảm nghĩ của em qua giờ ra chơi.
Biểu điểm:
Văn phong: lời văn mạch lạc, rõ ràng, trình bày sạch sẽ (1,0 điểm)
Dàn bài phải hội đủ các ý: Mở bài: 0,5 điểm; Thân bài: 3 điểm; Kết bài: 0,5 điểm.
Đề 4: đề kiểm tra học kì II, lớp 9, năm học 2006-2007, trường THCS Lương
Thế Vinh
Phần tự luận (6,0 điểm): Kể về việc em trót xem nhật kí của bạn
Đáp án và biểu điểm của Phòng GD Cam Lâm:
A. Yêu cầu chung:
1. Về kiến thức:
Học sinh cần hiểu được đây là kiểu bài tự sự (kể sự việc là chính) nhưng có kết
hợp yếu tố nghị luận (thể hiện quan điểm, tư tưởng) và miêu tả nội tâm của nhười
viết.
2. Về kĩ năng:
- Các em cần có sự kết hợp hài hòa giữa kể và nghị luận, miêu tả.
- Bố cục rõ ràng, diễn đạt chính xác.
B. Những ý chính cần có:
I. Mở bài: giới thiệu lỗi lầm trot xem nhật kí của bạn. (0,5 điểm)
II. Thân bài:
1. Có thể giơi thiệu ngắn gọn về người bạn và cuốn nhật kí. (0,5 điểm)
2. Kể lại sự việc: (trọng tâm bài viết)

có cảm xúc. Bước đầu biết vận dụng yếu tố nghị luận vào văn bản tự sự.
+ Nội dung câu chuyện hợp lí, tự nhiên, lo6gic giữa các phần. Cảm xúc không
gượng ép, có ý nghĩa sâu sắc trong việc bồi dưỡng nhận thức, tình cảm cho học
sinh.
+ Trình bày đủ ba phần. Bài viết rõ ràng, sạch đẹp. Lỗi diễn đạt không đáng kể.
2. Yêu cầu cụ thể:
Bài làm của học sinh có những cách diễn đạt khác nhau, nhưng cần đạt được
những ý cơ bản sau:
- Giới thiệu câu chuyện về câu chuyện đáng nhớ của mình. (0,5 điểm)
a. Trình bày tình huống xảy ra câu chuyện: ở đâu? Vào lúc nào? Có những ai tham
gia vào câu chuyện? (1,0 điểm)
b. Diễn biến câu chuyện:
- Chuyện xảy ra như thế nào? (Bắt đầu ra sao? Diễn biến của sự việc…) (0,75
điểm)
- Mình có vai trò như thế nào? (Quan hệ với những nhân vật khác, có thái độ, hành
động gì trước sự việc đó…) (0,75 điểm)
c. Kết thúc câu chuyện:
- Hệ quả của sự việc đó là gì? (0,5 điểm)
- Việc đó có tác động đến tình cảm, nhận thức của mình như thế nào? (0,5 điểm)
- Tại sao như vậy? (0,5 điểm)
- Mình đã rút ra được bài học gì từ câu chuyện ấy? (0,25 điểm)
- Trình bày cảm xúc, suy nghĩ của mỉnh về câu chuyện đó. (0,25 điểm)
3.9 Tham khảo một số đề thi môn Ngữ văn của các nước trên thế giới:
Đề văn trung học của Trung Quốc (năm 1998):
1. Tác hại của thuốc lá.
2. Con người phải có khí tiết.
3. Suy nghĩ từ ngọn lửa.
4. Đọc sách phải hiểu sâu.
5. Thiếu tôi thì chợ vẫn đông sao?
Đề văn trung học của Cộng hoà liên bang Đức:

Chúng tôi đã tiến hành ra dạng đề mở trong kiểm tra đánh giá môn
Ngữ văn ở cả hai trường THCS. Sau khi ra dạng đề mở cho HS, chúng tôi nhận
thấy HS có những phản ứng và kết quả như sau:
- Khối 6,7: Học sinh vẫn thấy bỡ ngỡ và coi dạng đề mở là khó. Thực tế
là nhiều em không xác định đúng trọng tâm yêu cầu của đề, kể cả đối với học sinh
khá.
- Khối 8, 9: Học sinh đã dần quen với dạng đề mở và nhiều HS hứng thú
với dạng đề này; khả năng xác định trọng tâm của đề bài cũng nâng cao hơn. Tuy
nhiên đó chưa phải là phổ biến.
b. Bài học:
- Khi kiểm tra đại trà, GV cần ra các dạng đề mở có định hướng; đề mở
không có định hướng chỉ nên áp dụng trong các kì thi kiểm tra chất lượng đội
tuyển.
- Kết hợp đan xen giữa dạng đề mở và đề truyền thống để vừa đảm bảo
HS nắm vững được những yêu cầu, kiến thức cơ bản vừa phát huy được năng lực
sáng tạo vừa rèn luyện tính tự giác và khơi gợi năng khiếu của các em.
Từ những vấn đề trình bày trên, chúng tôi thiết nghĩ, việc ra đề theo hướng
mở trong dạng đề tự luận môn Ngữ văn ở trường THCS nên được phổ biến rộng
rãi, thường xuyên hơn nữa. Sở GD- ĐT Khánh Hòa nên mạnh dạn đổi mới cách ra
đề thi, áp dụng dạng đề mở trong kiểm tra - đánh giá, đặc biệt là kì thi Học sinh
giỏi cấp Tỉnh hàng năm. Tuy SGK, chương trình có được cải tiến đến mức nào
chăng nữa thì chủ thể dạy và học vẫn là đối tượng quan trọng nhất để cùng nâng
cao chất luợng môn Văn. Điều đó đòi hỏi sự nỗ lực cao của người dạy và người
học để việc dạy và học Văn thực sự có ý nghĩa và hiệu quả thiết thực hơn.
Với thực trạng và vấn đề cần lưu ý về việc xây dựng đề mở môn Ngữ văn,
tập thể GV và HS cần cố gắng tự nâng cao và hoàn thiện mình để những khó khăn
dần dần sẽ biến mất, tự đổi mới mình hoàn toàn để có thể tiến xa hơn trên con
đường giáo dục.
2. Một số kiến nghị
Các em HS trường THCS Trần Quang Khải có yêu cầu GV cần cho HS luyện tập

phân phối lại số tiết và có thể giảm tải kiến thức cho HS để không gây áp lực cho
cả người dạy và người học.
Vì nguyên nhân của những tồn tại trong kiểm tra - đánh giá đề Tập làm văn theo
hướng mở, cho nên việc ra đề TLV mở cần phải tiến hành đồng thời và thống nhất
với việc đổi mới chương trình SGK và quan điểm của xã hội, thống nhất với đổi
mới về phương pháp dạy và học.
Trước hết, chúng ta cần phải bám sát mục tiêu môn học Ngữ văn, từ mục
tiêu môn học mà đề ra các chuẩn kiến thức, kĩ năng, thái độ cần đánh giá. Cần đa
dạng hoá các hình thức kiểm tra bằng cách nêu vấn đề mở ; cần kết hợp nhiều
dạng câu hỏi và tự luận “mở” có cả nghị luận xã hội và nghị luận văn học theo tỉ lệ
mức khó dễ hợp lý, để đánh giá đúng chất lượng học tập của HS. Cách ra đề: đúng
(nội dung, hình thức); đủ (ma trận); hay (diễn đạt); Kiểm tra: đúng (thời điểm, đối
tượng, cách thức); hiệu quả (kinh tế, giá trị…). Đề bài phải phát huy tính sáng tạo,
hạn chế đến mức thấp nhất việc sao chép của HS. Đặc biệt, kiểm tra học kì nên ra
đề thống nhất để có sự đánh giá trên một bình diện chung và nên thiết lập và phát
huy ngân hàng đề thi.
Bên cạnh đó, GV cần thay đổi cách dạy và cách chấm bài kiểm tra, bài thi
môn Ngữ Văn: Chọn lọc những lý thuyết có tính ứng dụng cao, tăng cường thực
hành trên lớp các kĩ năng: phân tích đề, tìm ý, lập dàn ý, lập luận, diễn đạt Cần
bám sát chương trình và nội dung SGK; cần hình dung các khả năng có thể xảy ra
về việc làm bài của HS để có hướng làm đáp án thích hợp.
Chúng tôi hi vọng đề tài “Tìm hiểu việc ra đề mở phân môn Tập làm văn
THCS” sẽ góp phần nhỏ vào việc đánh giá đầy đủ và toàn diện quá trình đổi mới
công tác kiểm tra – đánh giá môn Ngữ văn đồng thời đề ra những giải pháp khả thi
để nâng cao chất lượng dạy học môn học này trong các trường THCS tỉnh
nhà.Trong phạm vi kiến thức còn hạn hẹp của mình, đề tài này sẽ không tránh khỏi
những thiếu sót, mong quý thầy, cô đóng góp ý kiến để đề tài được hoàn thiện
hơn.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status