TÀI LIỆU THAM KHẢO CHUYÊN đề KINH tế CHÍNH TRỊ, SAU ĐẠI HỌC, CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN đại HÓA gắn LIỀN với PHÁT TRIỂN KINH tế TRI THỨC THEO ĐỊNH HƯỚNG XÃ hội CHỦ NGHĨA - Pdf 41

Chuyờn
công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển
kinh tế tri thức theo định hớng xã hội chủ nghĩa
* * *
I. CễNG NGHIP HO, HIN I HO V KINH T TRI THC
1. Cụng nghip hoỏ, hin i hoỏ
1.1. Quan im v cụng nghip hoỏ, hin i hoỏ trong thi k i mi
T khi bc vo cụng cuc i mi nm 1986, cựng vi vic tng bc
phỏt trin nn kinh t th trng nh hng xó hi ch ngha, gii phúng cỏc
lc lng sn xut, chuyn dch c cu kinh t, i mi c ch qun lý, ch
ng hi nhp kinh t quc t, ng v Nh nc ta ngy cng xỏc nh rừ
quan im mi v cụng nghip hoỏ, hin i hoỏ t nc. ú l kt qu tng
kt thc tin, rỳt ra t nhng bi hc ca my thp k trc õy, kt hp vi s
nghiờn cu, hc hi kin thc, kinh nghim ca th gii.
i hi VI: Nờu quan im xõy dng nhng tin cn thit y
mnh cụng nghip húa xó hi ch ngha v coi vic thc hin 3 chng trỡnh
mc tiờu: lng thc thc phm, hng tiờu dựng v hng xut khu l c th
húa ni dung chớnh ca cụng nghip húa.
Hi ngh Trung ng VII khoỏ VII ca ng (1994) ó ch rừ: Cụng
nghip hoỏ hin i hoỏ l quỏ trỡnh chuyn i cn bn, ton din cỏc hot
ng sn xut kinh doanh, dch v v qun lý kinh t, xó hi t s dng lao
ng th cụng l chớnh, sang s dng mt cỏch ph bin sc lao ng, cựng
vi cụng ngh, phng tin v phng phỏp tiờn tin, hin i, da trờn s
phỏt trin ca cụng nghip v tin b khoa hc-cụng ngh, to ra nng sut
lao ng xó hi cao. 1
Coi s nghip cụng nghip hoỏ, hin i hoỏ nc ta trong thi k i
mi l mt cuc cỏch mng ton din v sõu sc trờn mi lnh vc ca i
sng kinh t, xó hi, ti i hi ng VIII (1996), khi thụng qua ng li
1

CSVN, VK ng thi k i mi, V phỏt trin kinh t - xó hi, Nxb CTQG, H 2005, tr. 235.

2

ĐCSVN, VKĐHĐ toàn quốc lần thứ VIII, Nxb CTQG, H.1996, tr.80.
ĐCSVN, VKĐHĐ toàn quốc lần thứ IX, Nxb CTQG, H.2001, tr.64.
4
SĐD, tr.91.
5
ĐCSVN, VKĐHĐ toàn quốc lần thứ X, Nxb CTQG, H.2006, tr.21&28,29.
3


trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao,
quốc phòng, an ninh vững chắc, dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân
chủ văn minh.
1.2. Những đặc điểm chủ yếu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở
Việt Nam hiện nay
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta có nhiều nét đặc thù cả về nội
dung, hình thức, qui mô, cách thức tiến hành và mục tiêu chiến lược. Những
nét đặc thù này được thể hiện khái quát ở một số điểm chủ yếu sau đây:
Thứ nhất: Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta là quá trình
rộng lớn, phức tạp và toàn diện. Có nghĩa là nó diễn ra trong tất cả các lĩnh
vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, có sự kết hợp giữa bước đi tuần tự với
bước đi nhảy vọt, kết hợp giữa phát triển theo chiều rộng với phát triển theo
chiều sâu, kết hợp giữa biến đổi về lượng với biến đổi về chất của các tác nhân
tham gia quá trình. Mục tiêu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá mang tính bao
trùm rất cao, theo đó đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công
nghiệp theo hướng hiện đại, nhưng mục tiêu xa hơn là nước ta trở thành một
nước “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.
Tiêu chí của một nước công nghiệp: không chỉ đơn thuần xét ở mặt trình
độ trang bị kỹ thuật, công nghệ, phát triển công nghệ mà phải xét tổng hợp

quân 75; nhà ở đô thị đạt trên 20m 2/ người; cả nước không có hộ nghèo; hệ số
GINI nhỏ hơn 0,4.
Thứ hai: Trong bối cảnh toàn cầu hoá và cách mạng khoa học-công nghệ
đang diễn ra mạnh mẽ, nước ta không thể chờ thực hiện xong công nghiệp
hoá rồi mới tiến hành hiện đại hoá, mà phải tiến hành đồng thời và đồng bộ
công nghiệp hoá và hiện đại hoá như một quá trình thống nhất. Có thể nhìn
nhận quá trình này từ hai mặt thống nhất với nhau: Một mặt, đó là quá trình
xây dựng nền công nghiệp hiện đại, tức là tạo nền tảng vật chất, kỹ thuật (lực
lượng sản xuất) của nền kinh tế; Mặt khác, đó là quá trình cải cách thể chế và
cơ chế kinh tế, từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, quan liêu bao cấp, sang
kinh tế thị trường và mở cửa hội nhập. Công nghiệp hoá gắn với hiện đại hoá
là cách làm đẩy lùi nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với các nước trong
khu vực và trên thế giới, nhanh chóng đưa nước ta tiến kịp các nước trong
khu vực, hội nhập vào sự phát triển chung của khu vực và trên thế giới.
Như vậy có 2 lý do mà công nghiệp hóa gắn với hiện đại hóa:
Cách mạng khoa học công nghệ hiện đại đang diễn ra mạnh như vũ bão. Một số


nước đã từ kinh tế công nghiệp chuyển sang kinh tế tri thức, chúng ta phải tăng
cường mở cửa hội nhập, đi tắt đón đầu, phải xây dựng nền công nghiệp lớn hiện đại.
Các nước đang phát triển (như Việt Nam) muốn đẩy lùi nguy cơ tụt hậu
xa hơn về kinh tế so với các nước trong khu vực và trên thế giới nên phải
tranh thủ ứng dụng những thành tựu khoa học công nghệ, tiếp cận kinh tế tri
thức để hiện đại hoá những ngành, khâu lĩnh vực có điều kiện nhảy vọt.
Thứ ba: Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta cần và có thể
được“rút ngắn”. Việc cần được “rút ngắn” ở đây là đòi hỏi khách quan để đất
nước thoát khỏi tình trạng tụt hậu, kém phát triển. Bên cạnh đó, điều kiện
trong nước và bối cảnh quốc tế tạo điều kiện cho phép nước ta có thể “rút
ngắn” quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Về cơ bản cách để nước ta có
thể thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá “rút ngắn” bao gồm hai mặt: Một

cũng như việc thực hiện các nhiệm vụ trong thực tế. Về đại thể, những thuận
lợi và khó khăn được khái quát ở một số nội dung sau:
Về thuận lợi:
- Thứ nhất: Sau 23 năm đổi mới, thế và lực của nước ta có những thay
đổi mạnh mẽ, đạt được nhiều cái mới:
+ Cấu trúc kinh tế mới. Cơ chế thị trường thay cho cơ chế kế hoạch hoá
tập trung, nền kinh tế thuần nhất một thành phần khép kín, được thay bằng
nền kinh tế nhiều thành phần, mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế. Vai trò và
chức năng mới của Nhà nước, xã hội năng động hơn, các yếu tố cấu thành hệ
thống kinh tế - xã hội được kết nối chặt chẽ hơn.
+ Tiềm lực kinh tế mới: GDP tăng trưởng với tốc độ cao liên tục trong
nhiều năm, với cơ cấu ngành biến đổi theo hướng giảm tỷ trọng nông nghiệp,
tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ. GDP tăng liên tục 25 năm (Hàn Quốc 23
năm; Trung Quốc 31 năm) (1997: 8,15%; 1998: 5,76; 1999: 4,77%; 2000:
6.79%; 2001: 6,89%; 2002: 7,08%; 2003: 7,34%; 2004: 7,7%; 2005: 8,43%;
2006: 8,17%; 2007: 7,5%; 2008: 6,23%; 2009: 5,2% ). CLB 1 tỷ đô trở lên
chúng ta có 9 thành viên: Dầu thô; Dệt may, Giày dép, Thủy sản, Sản phẩm
gỗ, Điện tử máy tính, Gạo, Cao su, Cà phê.
+ Thế phát triển mới: Việt Nam thoát khỏi tình trạng cấm vận kinh
tế, quan hệ thương mại và đầu tư quốc tế mở rộng, đã gia nhập ASEAN,


ASEM, APEC và WTO.
+ Động lực phát triển mới: Xuất hiện những động lực phát triển mới,
mạnh mẽ như cạnh tranh thị trường, sự mở rộng các cơ hội, sức mạnh của tinh
thần dân tộc trong cuộc đua tranh phát triển kinh tế.
+ Lực lượng, chủ thể phát triển mới: Năng lực của các chủ thể phát triển:
Nhà nước, nhân dân, đội ngũ doanh nhân, tri thức, quản trị được nâng cao,
các yếu tố bên ngoài vốn, công nghệ - kỹ thuật, thị trường, tri thức trở thành
lực lượng thúc đẩy phát triển quan trọng.

nhiên tương đối phong phú để phát triển một số ngành công nghiệp quan
trọng. Đặc biệt nước ta có lực lượng lao động dồi dào, cơ cấu trẻ, năng lực trí
tuệ con người Việt Nam không thua kém các nước, tiếp thu nhanh các tri thức
mới, dễ đào tạo có khả năng sáng tạo.
Các số liệu sau đây chứng minh điều nêu trên:
HDI (chỉ số phát triển con người) Việt Nam 2003 theo công bố 2005 của
UNDP là 0,704-xếp hạng 108/171 (Nhật 11, Lào 133). Theo số liệu mới công
bố HDI Việt Nam xếp thứ 116/182 quốc gia và vùng lãnh thổ(chắc chắn vượt
mục tiêu CP đề ra năm 2010 là 0,75.) trong đó: chỉ số GDP bình quân đầu
người của Việt Nam (ngang sức mua-USD) 2.490 (TQ là 5.003; TLan 7.595);
chỉ số tuổi thọ bình quân Việt Nam: 0,76; chỉ số giáo dục VNam: 0,82.
Những yếu tố trên tạo nên lợi thế quan trọng trong cạnh tranh quốc tế,
đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để phát triển những ngành, những lĩnh vực
hiện đại, có thể theo hướng rút ngắn.
Về khó khăn:
- Thứ nhất: Tăng trưởng kinh tế chưa được đặt trên cơ sở đủ vững chắc,
hiệu quả và sức cạnh tranh chưa cao, trình độ phát triển lực lượng sản xuất
thấp, cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm, lạc hậu và còn nghiêng về hướng
nội…là những đặc tính của nền kinh tế nước ta sau 20 năm đổi mới. Thể chế
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mới chỉ đang hình thành, chưa
đồng bộ và chưa vận hành tốt, môi trường kinh doanh chưa bình đẳng và chưa
có tính khuyến khích cao. Nói một cách ngắn gọn nền kinh tế nước ta đang
phát triển, đang chuyển đổi.
Thực tế này là khó tranh khỏi đối với một quốc gia đang phát triển, có


tính tạm thời và được khắc phụ dần trong quá trình đổi mới, tuy nhiên nó
đang là một trở ngại lớn đối với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong
môi trường cạnh tranh quyết liệt hiện nay. Trong đó thách thức đặt ra là nguy
cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới.

kinh tế tri thức dựa vào ba cách tiếp cận sau:
a. Cách hiểu kinh tế tri thức dựa trên khía cạnh hẹp về tri thức.
Có hai cách:
+ Thứ nhất: Hiểu "tri thức" với nghĩa hẹp, tức đồng nghĩa tri thức với
khoa học và công nghệ, hoặc đôi khi còn coi "tri thức" chủ yếu là cuộc cách
mạng khoa học và công nghệ hiện đại, trong đó 4 công nghệ trụ cột là công
nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, công nghệ không
gian vũ trụ. Cách hiểu này khá phổ biến ở Mỹ cách đây khoảng 7, 8 năm thấy
được qua các tài liệu của thượng nghị viện Mỹ (2000). Các nước như Ấn Độ,
Philippin cũng đã có lúc chấp nhận cách hiểu này.
+ Thứ hai: Cách tiếp cận ngành: Tách biệt nền kinh tế quốc dân thành
hai bộ phận là khu vực kinh tế tri thức và khu vực kinh tế cũ.
Theo quan niệm này khu vực kinh tế tri thức bao gồm các ngành được
gọi là các ngành dựa trên tri thức (theo phân loại của OECD). Hai khu vực
kinh tế này hoạt động với những cơ chế, qui luật và kết quả khác hẳn nhau.
Nền kinh tế tri thức phát triển tới trình độ càng cao khi các ngành kinh tế dựa
trên tri thức chiếm phần lớn trong nền ktế. Có hai mốc cho thấy nền kinh tế đã
chuyển sang giai đoạn kinh tế tri thức:
Một là, Tỷ trọng của khu vực công nghiệp và nông nghiệp lên đến điểm cực
đại và ngày càng giảm đi. Điểm mốc này đã xuất hiện ở các nước tiên tiến nhất
cách đây 30 năm.

Hai là, Tỷ trọng của các ngành dựa trên tri thức >70%

(theo phân loại của OECD 1996). Các ngành kinh tế tri thức đóng góp vào GDP
ở Mỹ là 55%, ở Nhật 53%, Canada 51%, Sinhgapo 57,3%.
b. Cách tiếp cận rộng
Tiếp cận này dựa trên cách hiểu: Tri thức là mọi sự hiểu biết của con
người đối với bản thân và thế giới. OECD đã phân ra 4 loại tri thức quan
trọng là biết cái gì, biết tại sao, biết như thế nào, biết ai. Kinh tế tri thức

dựng và phổ biến các năng lực tri thức nội sinh.
Xét theo nghĩa này, kinh tế tri thức có thể được hiểu như một giai đoạn
phát triển mới của toàn bộ nền kinh tế, hoặc nói rộng hơn điều này sẽ dẫn tới


một giai đoạn phát triển mới của xã hội nói chung. Cách tiếp cận này ngày
càng dành được nhiều sự ủng hộ (xem các tài liệu của Ngân hàng thế giới
1998, Bộ Công nghiệp, Giáo dục và Tài nguyên Australia, 1999, 2000)...
* Cách tiếp cận của Việt Nam về kinh tế tri thức
Ở Việt nam, từ cuối những năm 90 của thế kỷ trước vấn đề kinh tế tri
thức đã được giới các nhà khoa học, những người hoạch định chính sách, các
nhà quản lý đưa bàn luận khá nhiều. Kinh tế tri thức được nhìn nhận dưới
nhiều góc độ khác nhau, với những tầm mức và phạm vi khác nhau.
Trong nhiều cuộc hội thảo, hội nghị, người ta đã bàn đến không ít các
định nghĩa khác nhau về kinh tế tri thức, tuy nhiên trong các văn bản chính
thức của Đảng và Nhà nước, chưa có văn bản nào nêu ra định nghĩa về kinh tế
tri thức. Theo Giáo sư, Viện sĩ Đặng Hữu - Trưởng ban Công nghệ thông tin
thì "Kinh tế tri thức là nền kinh tế trong đó sự sản sinh ra, phổ cập và sử dụng
tri thức giữ vai trò quyết định đối với sự phát triển kinh tế, tạo ra của cải, nâng
cao chất lượng cuộc sống". Mặc dù vậy, trong số các định nghĩa về kinh tế tri
thức được bàn đến ở Việt Nam, dường như có một định nghĩa nổi lên và được
nhiều người công nhận - là định nghĩa của OECD và APEC nêu ra năm
2000,cho rằng: “Kinh tế tri thức là nền kinh tế trong đó sự sản sinh ra, truyền
bá và sử dụng tri thức là động lực chủ yếu nhất của sự tăng trưởng, tạo ra của
cải, việc làm trong tất cả các ngành kinh tế". Như vậy, kinh tế tri thức là lực
lượng sản xuất của thế kỷ 21. Kinh tế tri thức là động lực chủ yếu nhất chứ
không phải là chỗ dựa trực tiếp. Điều này nhằm tránh tư tưởng cực đoan trước
đây chỉ tập trung phát triển các ngành công nghệ cao dựa nhiều vào tri thức.
2.2. Đặc trưng của kinh tế tri thức
Thứ nhất, tri thức trở thành nhân tố chủ yếu nhất của nền kinh tế.

thức thì nền kinh tế sẽ là nền kinh tế dồi dào, dư dật.
- Mặt khác, tiếp nhận vốn tri thức lại không dễ như tiếp nhận đồng vốn.
Việc chuyển giao, tiếp nhận phải thông qua GD-ĐT. Do đó GD-ĐT trở thành
ngành sản xuất vốn tri thức - ngành sản xuất cơ bản quan trọng nhất trong nền
kinh tế tri thức.
- Tri thức, như một tư liệu sản xuất chủ yếu trong nền kinh tế thị trường
lại do người lao động sở hữu, không tách khỏi người lao động. Như vậy, khi


nền kinh tế dựa chủ yếu vào tri thức thì người lao động - là lao động tri thức phải thực sự được làm chủ, hợp tác nhau bình đẳng trong tổ chức kinh doanh,
tạo ra và phân phối của cải.
- Khi tri thức trở thành vốn chủ yếu của sản xuất thì vấn đề quản lý tri
thức trở thành yếu tố cần thiết nhất. Trong nền kinh tế công nghiệp, khâu
quan trọng là quản lý năng suất, rồi đến quản lý chất lượng thì ngày nay
chuyển sang quản lý thông tin và quản lý tri thức. Quản lý tri thức là quản lý
việc tạo ra, truyền tải và sử dụng tri thức sao cho đạt hiệu quả cao nhất.
Hai là, kinh tế tri thức có tốc độ hoạt động nhanh và đổi mới nhanh.
Trong nền kinh tế công nghiệp, nâng cao năng lực cạnh tranh chủ yếu là
bằng cách tối ưu hoá, tức là hoàn thiện cái đã có để giảm chi phí sản xuất; còn
trong kinh tế tri thức thì quyết định năng lực cạnh tranh chủ yếu là sự sáng tạo
ra cái mới có chất lượng cao hơn, thời gian đi tới tiêu dùng nhanh hơn. Kinh tế
phát triển là do sáng tạo, không ngừng đổi mới công nghệ, đổi mới sản phẩm.
Vòng đời công nghệ và vòng đời sản phẩm từ lúc mới nảy sinh phát triển, chín
muồi đến tiêu vong ngày càng rút ngắn; tốc độ đổi mới của các doanh nghiệp
và của toàn bộ nền kinh tế ngày càng nhanh. Do đó kinh tế tri thức có tốc độ
hoạt động rất nhanh. Làm việc và kinh doanh theo tốc độ của tư duy. Trong
kinh tế tri thức, sáng tạo trở thành động lực chủ yếu của phát triển.
Các doanh nghiệp luôn luôn đổi mới, số doanh nghiệp dựa vào sáng chế,
công nghệ mới, sản phẩm mới, nhất là doanh nghiệp khoa học hay doanh
nghiệp sáng tạo tăng lên nhanh chóng; số doanh nghiệp không đổi mới bị phá

vũ bão của cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại đòi hỏi con người phải
không ngừng học tập, cập nhật kiến thức, sáng tạo tri thức mới, công nghệ
mới, đồng thời phải chủ động theo kịp sự đổi mới và có khả năng thúc đẩy sự
đổi mới. Mặt khác con người phải học và tự học suốt đời mới thích ứng linh
hoạt với sự biến đổi hết sức mau lẹ của của môi trường và điều kiện làm việc
mới. Vì vậy, xã hội học tập trở thành một đặc trưng, một yếu tố quan trọng
của nền kinh tế tri thức.
Năm là, kinh tế tri thức là nền kinh tế toàn cầu hoá.
Quá trình phát triển khoa học và công nghệ, phát triển kinh tế tri thức
cùng với quá trình phát triển kinh tế thị trường, phát triển thương mại thế


gii v quỏ trỡnh ton cu hoỏ l nhng quỏ trỡnh i lin vi nhau, tỏc ng
qua li v thỳc y nhau phỏt trin. S sn sinh ra, truyn bỏ, s dng tri
thc khụng th ch nm trong biờn gii quc gia. Kinh t tri thc ra i
trong iu kin nn kinh t th gii ton cu hoỏ; bt c ngnh sn xut, dch
v no cng u da vo ngun cung ng t nhiu nc v c tiờu th
trờn ton th gii. Ngi ta thng gi nn kinh t tri thc l nn kinh t
ton cu hoỏ ni mng, hay l nn kinh t ton cu da vo tri thc, tỏc ng
n mi mt ca i sng xó hi.
Sỏu l, kinh t tri thc l nn kinh t phỏt trin bn vng.
Thut ng Phỏt trin bn vng do B Brundland a ra (ngi Na uy
lm vic trong y ban quc t v mụi trng v phỏt trin (WCED): kiu phỏt
trin va ỏp ng c nhu cu ca cỏc th h hin ti, va khụng nh hng
n kh nng m cỏc th h tng lai ỏp ng cỏc nhu cu ca mỡnh.
Hi ngh thng nh th gii v phỏt trin bn vng ti Nam Phi
cho rng: Phỏt trin bn vng l quỏ trỡnh phỏt trin cú s kt hp cht
ch, hp lý, hi hũa gia ba mt phát triển kinh tế phát triển xã hội và
bảo vệ môi trờng.
Tiêu chí để đánh giá sự phát triển bền vững là: sự tăng tr ởng kinh tế ổn

năm qua đã có sự chuyển dịch, với tỷ trọng các lĩnh vực kinh tế có giá trị gia
tăng cao, trong đó có những lĩnh vực dựa nhiều vào tri thức ngày càng tăng.
Tỷ trọng nông - lâm - ngư nghiệp trong GDP đã giảm đều đặn và tỷ trong
công nghiệp, dịch vụ tăng lên tương ứng (bảng1 - Nguồn: Tổng cục thống kê)
Bảng 1: Tỷ träng các ngành trong GDP
Các
ngành/năm
Nông,lâm,
ngư nghiệp
Côngnghiệp,
xây dựng
Dịch vụ

1986

1990

1995

2000

2003

2005

2006

2007 2008

38,06 38,74 27,18 24,30 21,80 21,02 20,40

Vit Nam ó t c nhng kt qu quan trng trong vic xõy dng
h thng phỏp lut kinh t, ci cỏch t chc v hot ng b mỏy nh
nc, tng cng nng lc, tớnh nng ng, tinh thn trỏch nhim ca i
ng, cụng chc, chỳ trng h tr cỏc doanh nghip mi v to cuc sng
tt hn cho ngi dõn; c cu lao ng thay i cựng vi s gia tng tng
bc ca lc lng lao động x lý thụng tin, lm dch v, di chuyn sn
phm, lm vn phũng... õy chớnh l s th hin quan im xõy dng th
ch kinh t th trng nh hng xó hi ch ngha bo m cho cỏc quan
h sn xut khụng ngng i mi v hon thin (trong ú kinh t t nhõn
c xỏc nh l vn chin lc lõu di trong phỏt trin nn KTNTP
nh hng xó hi ch ngha).
c bit, trong nhng nm gn õy, cỏc doanh nghip dõn doanh ó
tham gia vo hu ht cỏc ngnh, cỏc lnh vc ca nn kinh t, vi t chc sn
xut kinh doanh linh hot, n lc ci tin cụng ngh, tng nng sut lao ng,
thõm nhp th trng. Tỡnh hỡnh ú cng ũi hi phỏt trin th trng hng
hoỏ, th trng vn, th trng sc lao ng, th trng bt ng sn, th
trng khoa hc - cụng ngh...gúp phn lm tng qui mụ th trng hoỏ nn
kinh t nc ta.
- Th ba, ch ng hi nhp kinh t quc t
Cỏc quan h kinh t song phng, a phng ca Vit nam khụng ngng
c m rng thụng qua vic ký kt v tham gia vo cỏc hip nh v din
n nh: ký hip nh khung vi Liờn minh Chõu u EU (1992); tham gia
Khu vc Thng mi T do ASEAN (1994); tham gia Din n Hp tỏc Kinh
t Chõu - Thỏi Bỡnh Dng APEC (11/1998); ký hip nh thng mi Vit
Nam - Hoa K (2000) v chớnh thc gia nhp WTO (2007). Đó là kt qu
thực hiện NQ 07 của BCT và Chơng trình hành động thực hiện hội nhập kinh


tÕ quèc tÕ cña CP theo Q§ sè 37/2002/Q§ TTg.
Kinh tế VN càng phát triển nhanh khi đất nước đổi mới. Sau khi VN gia

và mở rộng để đáp ứng nhu cầu của khách hàng, phục vụ hoạt động sản xuất
kinh doanh, quản lý nhà nước, giáo dục, y tế, nghiên cứu, giải trí, giao tiếp...
Thực tiễn, Chúng ta đã có những nhân tố mới, mô hình mới phát triển
dựa vào tri thức: Tổng Công ty bưu chính viễn thông; những cánh đồng 600
triệu ở xã Đoàn Thượng, Gia Lộc, Hải Dương; Công ty hoa HASFARM và
các cơ sở khác ở Đà Lạt; Ứng dụng công nghệ mới trong ngành thủy sản,
công nghiệp đóng tàu biển; ở Viện máy và Dụng cụ công nghiệp (IMI); ở một
số trường đại học lớn, ở Công ty phát triển phụ gia và sản phẩm dầu mỏ
(APP), ở công ty cổ phần TRAPHACO...
2.3.2. Những việc có thể làm được nhưng chưa làm được
§ánh giá theo những đặc trưng chủ yếu của kinh tế tri thức, trong những
năm qua, có những việc chúng ta có thể làm được và làm tốt hơn, nhưng chưa
làm được thể hiện chủ yếu là:
Thứ nhất: Chất lượng tăng trưởng kinh tế thấp và chưa được cải thiện nhiều
Chất lượng tăng trưởng kinh tế chưa cao thể hiện ở hiệu quả của nền
kinh tế còn thấp, năng lực cạnh tranh của các ngành kinh tế còn yếu, chuyển
dịch cơ cấu kinh tế còn chậm và chênh lệch về thu nhập giữa các bộ phận dân
cư có xu hướng gia tăng, môi trường đầu tư chưa ổn định, năng lực quản lý
điều hành của bộ máy hành chính còn nhiều yếu kém làm tăng đáng kể chi phí
giao dịch và chi phí đÇu vào sản xuất kinh doanh. Việc tiếp tục theo đuổi
phương thức tăng trưởng chủ yếu dựa vào lợi thế so sánh tĩnh, tăng vốn (vốn
đầu tư đóng góp vào tăng trưởng là 64%, năng suất tổng hợp chỉ 19%)...trong
nhiều năm qua khó có thể bảo đảm được mức tăng trưởng cao trong dài hạn,
nhất là trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.
- Thứ hai: nền kinh tế và thể chế thị trường còn yếu, thiếu sót và méo mó.
Hệ thống kinh tế thị trường ở nước ta, nhiều mặt, nhiều lĩnh vực chưa
theo kịp diễn biến thực tế của hoạt động kinh tế, chưa đầy đủ, chưa đồng bộ,
mâu thuẫn, chồng chéo, không minh bạch và nhất là năng lực thực thi pháp
luật yếu. Cải cách hành chính diễn ra chậm chạp, khiến cho năng lực hỗ trợ
của nền hành chính cho phát triển kinh tế bị hạn chế nghiêm trọng, thậm chí

thnh Vit Nam mt xó hi hc tp, mt ội ng ụng o cỏc nh tri thc.


Vit Nam vn thuc nhng nc nghốo nht th gii, GDP bỡnh quõn
ca Vit Nam mi bng 1/14 Malaysia, 1/30 Hn Quc, ti sao nh vy? Ti
sao cỏi tim nng y cha c phỏt huy, iu gỡ ngn tr gii phúng cỏi tim
nng y? Gii ỏp nghch lý ny ch cú mt cỏch tr li: vỡ c ch qun lý
cha thun, vỡ trớ tu cng ng cha cao, vỡ cỏi phn mm h thng cũn
nhiu trc trc, vỡ trớ tu v ti nng ang b vng mc bi mt c ch t
thõn mõu thun, thiu nht quỏn. Do ú vn ct t l nờn tp trung trớ tu
ci cỏch qun lý, xõy dng mt mụi trng kinh t xó hi lnh mnh v
thoỏng óng, khuyn khớch mi sỏng tạo, phỏt huy mi ti nng, ng thi
hn ch, loi tr nhng yu t v xu hng tiờu cc.
Nhiu thớ d lch s ó cho thy tm quan trng ca vn ny, tng
khụng cn nhc li vỡ ai cng ó bit rừ:
- Khong cỏch cụng ngh gia Tõy u v M nhng nm 60 khụng phi
do ngi M ti gii gỡ hn m ch yu do cỏch qun lý ca M thun li hn
cho ti nng ny n v phỏt trin.
- Singapore, Hn Quc, Hng Cụng lờn nhanh õu phi vỡ cỏc dõn tc h
thụng minh hn Vit Nam.
- Ngm li bn thõn ta cng thy quỏ rừ: nu 23 nm trc, Vit Nam
khụng i mi thỡ bõy gi Vit Nam ang õu trờn th gii ny?
II. Định hớng đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại
hóa gắn với phát triển kinh T TRI THC NƯớc TA
hiện nay
1. S cn thit phi y mnh cụng nghip hoỏ, hin i hoỏ gn vi
phỏt trin kinh t tri thc.
Ngh quyt i hi X ca ng khng nh: y mnh cụng nghip
hoỏ, hin i hoỏ gn vi phỏt trin kinh t tri thc. 8 Ch trng ú ca
ng ta l hon ton ỳng n.

móc cơ khí phục vụ sản xuất. Nhưng để hình thành được thị trường hàng
hóa của kinh tế công nghiệp cổ điển thì tài nguyên và vốn (tư bản) lại quan
trọng hơn nên tri thức cổ điển cũng đóng vai trò thứ yếu.
Đến khoảng giữa thế kỷ XX, kinh tế công nghiệp cổ điển hết tiềm năng
phát triển và bắt đầu suy thoái, vì tài nguyên trở nên cạn kiệt, ô nhiễm ngày
càng nghiêm trọng, chiến tranh huỷ diệt đe doạ thường xuyên…Trong bối
cảnh đó cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại xuất hiện và phát triển


bùng nổ, dựa trên những khối tri thức khổng lồ, rất mới và vô cùng phong
phú về thế giới vật chất vĩ mô và vi mô. Lực lượng sản xuất mới được hình
thành dựa trên nguồn lực chủ yếu là tri thức tạo nên hệ thống công nghệ cao
với máy móc thông minh mà điển hình là máy tính điện tử (máy điện toán)
mô phỏng não người. Sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất mới đã
thúc đẩy hình thành nền kinh tế tri thức trong nửa sau của thế kỷ XX. Trong
kinh tế tri thức, thì sản xuất chủ yếu dựa vào nguồn lực tri thức. Tài nguyên
và vốn dù quan trọng vẫn chỉ giữ vai trò thứ yếu.
Như vậy, trong tiến trình lịch sử phát triển của nhân loại, chỉ con người là
có năng lực sáng tạo tri thức, do đó biết lao động sản xuất và tiến dần tới nền
kinh tế dựa vào tri thức là chính. Bởi vậy, kinh tế tri thức là một lịch sử tất yếu.
Theo các chuyên gia thì những trụ cột chính của kinh tế tri thức bao gồm
công nghệ thông tin, sinh học, năng lượng và vi điện tử. Những sản phẩm của
kinh tế tri thøc có hàm lượng tri thức cao và giá trị gia tăng lớn; dịch vụ
chiếm tỷ trọng lớn, vượt xa cả các ngành công nghiệp truyền thống. Kinh tế
mạng (Network Based Economy) đóng vai trò vô cùng quan trọng. Internet là
động lực mạnh mẽ nhất và con đường nhanh nhất của tự do thương mại và
toàn cầu hoá. Trong phần lớn các ngành, xu thế sát nhập tạo ra những công ty
có tiềm lực khổng lồ như các ngân hàng, công ty sản xuất ô tô, máy tính. Các
công ty lớn đã hợp tác với nhau để nâng cao sức cạnh tranh. Lực lượng lao
động cũng có thay đổi đáng kể. Nhu cầu về lao động chuyên môn kỹ thuật

trong công nghệ thông tin đã tạo ra một cơ hội ngàn vàng cho các doanh
nghiệp Mỹ chiến thắng trong các cuộc cạnh tranh. Các doanh nghiệp Mỹ
trong quá trình xây dựng lại (restructuring) đã không chỉ thay đổi phương
thức chính sách quản lý làm việc mà đã ứng dụng một các tối đa những thành
tựu của khoa học thông tin. Năng suất lao động và chất lượng tăng trong khi
chi phí giảm đi đã tạo ra một ưu thế cạnh tranh tuyệt đối của các doanh
nghiệp Mỹ. Các doanh nghiệp công nghệ thông tin, mà phần lớn là của Mỹ,
như Yahoo, Nescape, Dell, đã phát triển nhanh chóng, trở thành những công
ty khổng lồ với tài sản hàng chục tỷ USD trong vòng chưa đầy một chục năm,
vượt xa những công ty công nghiệp truyền thống. Một ví dụ điển hình khác là
chuỗi siêu thị lớn nhất và thành công nhất nước Mỹ và thế giới là “WalMart”



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status