TÀI LIỆU THAM KHẢO một số NGUYÊN NHÂN XUNG đột dân tộc, sắc tộc TRÊN THẾ GIỚI VÀ vấn đề đặt RA đối với BẢO vệ CHỦ QUYỀN AN NINH BIÊN GIỚI ở nước TA HIỆN NAY - Pdf 41

1

MỞ ĐẦU
Quan hệ dân tộc, sắc tộc và giải quyết vấn đề dân tộc là một trong những
vấn đề cơ bản và cấp bách được đặt ra trong chương trình nghị sự của nhiều quốc
gia ở tất cả các châu lục với quy mô, tính chất và mức độ, hình thức khác nhau.
Trong đó, lợi ích dân tộc là huyệt nhạy cảm nhất, là tiêu chí quan trọng nhất
trong quan hệ dân tộc, sắc tộc và là nguồn gốc nảy sinh những xung đột dân tộc,
sắc tộc, giữa các quốc gia, dân tộc. Trong thế kỷ XXI thế giới sẽ tiếp tục có
nhiều biến đổi to lớn và sâu sắc. Trong một vài thập kỷ tới, tuy xu hướng hoà
bình, hợp tác và phát triển vẫn được duy trì, ít có khả năng xảy ra chiến tranh thế
giới, nhưng cuộc đấu tranh giai cấp, dân tộc vẫn diễn ra hết sức gay go, quyết liệt
với tính chất phức tạp ngày càng tăng. Nh÷ng cuéc xung ®ét dân tộc, sắc téc,
hiÖn tîng ly khai d©n téc ®ang diÔn ra mét c¸ch phæ biÕn, t¸c ®éng ®Õn chiÕn lîc,
s¸ch lîc cña tÊt c¶ c¸c quèc gia trªn thÕ giíi
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
(Bổ sung, phát triển năm 2011) được Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI thông
qua tiếp tục khẳng định: “Hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ, hợp tác và phát
triển là xu thế lớn; nhưng đấu tranh dân tộc, đấu tranh giai cấp, chiến tranh cục
bộ, xung đột vũ trang, xung đột sắc tộc, tôn giáo,… tiếp tục diễn ra phức tạp” 1.
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, trong quá trình lịch sử dựng nước và giữ
nước, ông cha ta đã luôn quan tâm và giải quyết khá thành công vấn đề dân tộc.
Trong công cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, xây dựng chế độ xã hội mới
cũng như trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay Đảng, Nhà nước ta đã luôn
quan tâm và giải quyết tốt vấn đề dân tộc, góp phần củng cố, tăng cường khối
đoàn kết dân tộc; nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào các dân tộc
1

. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, H, 2011, tr.67.



3

Quan hệ sắc tộc là quan hệ giữa các nhóm người, tộc người, quốc gia dân tộc
có sự khác biệt nào đó về nhân chủng, văn hoá, tôn giáo, ngôn ngữ... thường hàm
ý miệt thị, theo quan điểm kỳ thị về nhân chủng, văn hoá, tôn giáo, ngôn ngữ...
Như vậy, theo nghĩa này quan hệ sắc tộc là một dạng tiêu cực của quan hệ dân tộc.
Theo đó có thể khẳng định, hiện nay ở Việt Nam không có quan hệ sắc tộc, nên
khi nói đến quan hệ dân tộc ở Việt Nam không nên sử dụng thuật ngữ sắc tộc,
quan hệ sắc tộc
Vấn đề dân tộc là những va chạm, xích mích, mâu thuẫn nảy sinh trong
quan hệ giữa các tộc người trong nội bộ quốc gia đa dân tộc và giữa các quốc gia
dân tộc với nhau trong quan hệ quốc tế, diễn ra trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội
tác động xấu đến mỗi dân tộc và mối quan hệ dân tộc, quốc gia dân tộc đòi hỏi
các nhà nước phải quan tâm giải quyết.
Thực chất của vấn đề dân tộc là mâu thuẫn, xung đột lợi ích giữa các tộc
người, các quốc gia dân tộc, nhất là về các quyền cơ bản của các dân tộc. Quyền
dân tộc cơ bản là những cơ sở tối thiểu để bảo đảm cho một dân tộc tồn tại và
phát triển bình thường và là cơ sở để dân tộc đó thực hiện các quyền khác của
mình; bao gồm: hoà bình, độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ.
Cụ thể, đó là các quyền: Quyền được tồn tại những điều kiện để tồn tại với tính
cách là một tộc người, dân tộc; quyền độc lập của tộc người, dân tộc; chủ quyền
tộc người, quốc gia mà cơ bản là quyền dân tộc tự quyết, quyền dân tộc bình
đẳng; quyền độc lập về kinh tế và những điều kiện để phát triển kinh tế lâu dài,
bền vững; quyền giữ gìn và phát triển ngôn ngữ tộc người, dân tộc; quyền giữ
gìn và phát triển văn hóa tộc người, dân tộc.
Đặc điểm của quan hệ dân tộc, sắc tộc trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay
đang có chiều hướng gia tăng; ngày càng đa dạng, phong phú, sinh động và


4

5

ở khắp các châu lục đã gây ra các cuộc xung đột đẫm máu rất thảm khốc, kéo dài
dai dẳng. Mâu thuẫn xung đột dân tộc, sắc tộc diễn ra khắp thế giới không phụ
thuộc vào khu vực địa lý, thể chế chính trị, hay trình độ phát triển kinh tế, xã hội.
Nó diễn ra ở cả những nước phát triển hàng đầu thế giới như nhóm G8 đến
những nước nghèo nàn, lạc hậu nhất ở Châu Phi như: Ru-an-đa, Ru-đa-ni, Công
gô, Xu đăng, Ê-ti-ô-pi-a, Mô dăm bích.
Quan hệ dân tộc, sắc tộc rất nhạy cảm, tế nhị do động chạm tới tâm lý, ý
thức tộc người; tới lợi ích, bản sắc văn hoá và những sự khác biệt của các tộc
người. Các quan hệ đó lại thường gắn với vấn đề giai cấp, vấn đề do lịch sử để lại,
đã in sâu vào tâm lý, ý thức của tộc người, rất dễ bị kẻ thù, các thế lực xấu kích
động, chống phá.
Những đặc điểm trên là những cơ sở cho chúng ta thấy quan hệ dân tộc,
sắc tộc trên thế giới là vấn đề rất nóng bỏng, phức tạp, nhức nhối của nhiều quốc
gia, khu vực. Thực trạng hiện nay cho thấy, quan hệ dân tộc, sắc tộc và vấn đề
dân tộc trên thế giới là vấn đề nóng bỏng, là đặc điểm lớn của thời đại, là vấn đề
mang tính toàn cầu đe doạ nghiêm trọng nền độc lập dân tộc, hoà bình, ổn định
và an ninh thế giới. Mối quan hệ dân tộc, sắc tộc đã và đang bùng nổ thành các
cuộc xung đột, chiến tranh ở những quy mô, phạm vi và cường độ khác nhau; tạo
ra các “điểm nóng”, gây nên tình hình mất ổn định, đe doạ hoà bình, an ninh
quốc gia, khu vực và quốc tế.
Xét đến cùng, mâu thuẫn và xung đột dân tộc, sắc tộc bao giờ cũng xuất
phát và mang nội dung lợi ích giai cấp và dân tộc; bị kích động bởi chủ nghĩa
dân tộc cực đoan, dân tộc sô vanh, dân tộc ly khai, dân tộc hẹp hòi, phân biệt
chủng tộc… Do vậy, chỉ có đứng trên quan điểm lập trường của giai cấp công


6


nước thuộc dân tộc này thì dân tộc khác chống lại, nhất là khi chính quyền không
đủ uy tín và có chính sách dân tộc không đúng đắn. Thực tế, tại nhiều nước châu
Phi, xung đột sắc tộc luôn luôn là vấn đề nhức nhối. Đã từng diễn ra các cuộc
thanh lọc lẫn nhau giữa người Hutu và Tutxi ở Uganđa, Bunrundi; phong trào Hồi
giáo cực đoan ở Angiêri, Xuđăng, Ai Cập…
Ở châu Mỹ và châu Đại Dương nổi lên mâu thuẫn, xung đột giữa người gốc
Âu với thổ dân. Ở Canađa có sự va chạm giữa cộng đồng người nói tiếng Pháp và
cộng đồng người nói tiếng Anh.v.v...
Trên đây là bức tranh toàn cảnh về mối quan hệ dân tộc, sắc tộc trên thế
giới đang diễn ra hết sức phong phú, đa dạng, đủ mọi màu sắc, tính chất, mức độ,
theo nhiều chiều hướng và luôn gắn liền với vấn đề tôn giáo và đấu tranh giai
cấp. Trong đó xu hướng mâu thuẫn, xung đột dân tộc, sắc tộc dẫn đến ly khai,
phân tách, đòi “độc lập” khá phổ biến. Điều đó phản ánh tình hình mâu thuẫn,
xung đột dân tộc, sắc tộc trên thế giới sẽ còn diễn biến phức tạp, khó lường nếu
các Đảng và Nhà nước giải quyết không tốt. Nhưng tựu trung lại, tình hình mâu
thuẫn, xung đột dân tộc vừa có xu hướng gia tăng, vừa có xu hướng giảm dần (vì
hòa bình, hợp tác và phát triển là xu thế khách quan của thế giới hiện nay sẽ tác
động, hạn chế dần mâu thuẫn, xung đột); vừa đan xen mâu thuẫn, xung đột vừa
có hình thái liên minh hợp tác; là vấn đề xảy ra ở từng khu vực, từng quốc gia
dân tộc nhưng lại mang tính toàn cầu… Trong đó, lợi ích dân tộc, tộc người suy
đến cùng là nguồn gốc dẫn đến những mâu thuẫn, xung đột dân tộc, sắc tộc trên
thế giới hiện nay.


8

Xung đột dân tộc, sắc tộc trên thế giới hiện nay để lại hậu quả khá nghiêm
trọng: Nó phá vỡ sự thống nhất của nhiều quốc gia dân tộc; phá vỡ hoà bình, ổn
định an ninh khu vực và quốc tế. Người ta ước tính, trong vòng một thập kỷ qua
hàng trăm vạn người đã chết vì chiến tranh xung đột dân tộc, sắc tộc; hàng triệu

lại nổi lên một số nguyên nhân chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, do mâu thuẫn lợi ích giữa các tộc người, sắc tộc, dân tộc về lãnh
thổ, tài nguyên, chính trị, kinh tế... đã tồn tại lâu đời trong quá khứ lịch sử hoặc
mới nảy sinh. Lợi ích là huyệt nhạy cảm nhất trong các mối quan hệ xã hội nói
chung, quan hệ dân tộc nói riêng. Lênin đã có một chỉ dẫn quan trọng, với tinh
thần cơ bản rằng: Đằng sau sự tuyên bố có tính chất khoa học, tôn giáo, văn học
nghệ thuật…của các giai cấp, các đảng phái là lợi ích của các giai cấp, các đảng
phái đó. Kẻ nào không hiểu được điều đó là ấu trĩ về chính trị và bị giai cấp tư sản
lừa bịp. Điều đó cũng đúng với lợi ích dân tộc, quan hệ dân tộc. Cho nên, giải
quyết hài hòa lợi ích giữa các tộc người, các dân tộc, xét đến cùng là nguyên tắc
quan trọng để xây dựng quan hệ dân tộc tốt đẹp, khắc phục sự xung đột dân tộc.
Thứ hai, do âm mưu, thủ đoạn, chính sách vụ lợi ích kỷ của chủ nghĩa đế
quốc. Chúng luôn tìm “trăm phương, ngàn kế” để chia rẽ, lợi dụng, kích động mâu
thuẫn dân tộc, gây mất ổn định, làm suy yếu đối phương, kiềm chế sự phát triển
của các dân tộc…. để dễ bề bóc lột, nô dịch các dân tộc theo kiểu “đục nước béo
cò”. Các nước đế quốc không từ bỏ thủ đoạn nào, kể cả việc “đổ thêm dầu vào
lửa” xúi dục các dân tộc gây chiến tranh, xung đột, để tìm cách gây ảnh hưởng
hoặc quay trở lại các khu vực, thực hiện ách thống trị mới đối với các dân
tộc...mặt khác còn để bán được nhiều vũ khí, thu về được lợi nhuận siêu ngạch


10

trên máu của các dân tộc khác. Đối với các nước xã hội chủ nghĩa, chúng coi "vấn
đề dân tộc" là một mũi tiến công đột kích, một thủ đoạn quan trọng thực hiện
chiến lược "diễn biến hoà bình" hòng chia rẽ đoàn kết dân tộc, kích động tư tưởng
ly khai, làm suy yếu chế độ xã hội chủ nghĩa.
Thứ ba, do quan điểm, chính sách dân tộc của một số Nhà nước còn hạn chế,
thiếu sót, sai lầm; sự yếu kém trong quản lý xã hội của nhà nước; bất lực trước các
vấn đề xã hội nảy sinh; hoặc bộ máy chính quyền, công chức nhà nước vi phạm

khủng bố… đặc biệt là những vấn đề do lịch sử để lại là nguyên nhân gây nên
xung đột dân tộc, sắc tộc trên thế giới hiện nay. Bởi lẽ, những vấn đề do lịch sử
để lại như: Lãnh thổ, kinh tế, văn hoá, ngôn ngữ, truyền thống lịch sử, ý thức tộc
người, nhân chủng… trong quan hệ dân tộc đều để lại ký ức sâu sắc trong mỗi
cộng đồng dân tộc. Cho nên, những mâu thuẫn hiềm khích cũng luôn chất chứa,
âm ỉ khi gặp sự kích động hoặc có điều kiện là bùng phát thành xung đột. Người
thổ dân châu Úc luôn “khắc cốt ghi xương” chính sách diệt chủng của người da
trắng châu Âu đối với tổ tiên của họ, người Hàn Quốc không thể quên mối thù
với quân đội xâm lược Nhật, người Nhật Bản luôn ghi sâu mối thù với Mỹ khi
chúng ném hai quả bom nguyên tử vào hai thành phố của họ năm 1945, người
Việt Nam luôn khắc sâu trong tâm trí sự xâm lược của người Hán trong hàng
ngàn năm… Mặt khác, vấn đề dân tộc luôn gắn với vấn đề tôn giáo, mỗi tộc
người đều có tín ngưỡng tôn giáo riêng, cho nên mâu thuẫn dân tộc, sắc tộc,
xung đột, chiến tranh dân tộc đều mang màu sắc tôn giáo như ở Bắc Ailen,
Trung Đông, Tây Tạng; giữa dòng Hồi giáo Siai và Suít ở Ápganixtan, giữa Đạo
Hồi với Thiên chúa giáo ở Ácmênia và Adecbaizan…


12

Như vậy, sự xung đột dân tộc, sắc tộc là do nhiều nguyên nhân và sẽ còn
diễn biến phức tạp, kéo dài, tiềm ẩn những bất trắc khó lường. Vấn đề có tính
quy luật trong giải quyết quan hệ dân tộc hiện nay là phải bảo đảm và tôn trọng
các quyền và lợi ích chính đáng của các dân tộc, không can thiệp vào chủ quyền,
lãnh thổ và công việc nội bộ của nhau. Kiên quyết khắc phục, loại trừ tư tưởng
dân tộc lớn, dân tộc cực đoan, hẹp hòi, tự ti dân tộc, chống mọi âm mưu thủ đoạn
của chủ nghĩa đế quốc lợi dụng vấn đề dân tộc thực hiện ý đồ của chúng. Đồng
thời coi việc giải quyết quan hệ dân tộc, giải quyết mâu thuẫn, xung đột dân tộc,
sắc tộc là công việc của mọi quốc gia dân tộc và chỉ có dưới chủ nghĩa xã hội chủ nghĩa cộng sản mới có thể giải quyết một cách đúng đắn, triệt để mâu thuẫn
xung đột dân tộc, sắc tộc trên thế giới hiện nay.

trong sự nghiệp cách mạng nước ta”4.
Tuy nhiên, do việc thực hiện chính sách dân tộc có nơi chưa tốt, kinh tế xã hội vùng dân tộc thiểu số còn chậm phát triển, nghèo đói còn phân hoá nhanh,
y tế, giáo dục thấp, còn có dân tộc sống du canh du cư rất lạc hậu (Chứt, Rục,
Mông…) là những kẻ hở cho chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch lợi dụng
để chia rẽ dân tộc, kích động gây mâu thuẫn, thù hằn dân tộc, phục vụ cho chiến
lược “Diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ nhằm từng bước xoá bỏ chế độ xã hội
chủ nghĩa ở nước ta. Đặc biệt, chúng tập trung vào các khu vực, vùng có đối
tượng các dân tộc thiểu số sinh sống rất đông như: Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây
Nam Bộ.
4

. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb CTQG, H, 2006, tr.121.


14

Từ thực trạng mối quan hệ dân tộc ở nước ta cũng như nguyên nhân dẫn
đến tình hình đó, Đảng ta nhấn mạnh: “Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam
bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ, thực hiện thắng lợi sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”5, “Thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn
kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau giữa các dân tộc, tạo mọi điều kiện để các dân tộc
cùng phát triển, gắn bó mật thiết với sự phát triển chung của cộng đồng dân tộc
Việt Nam. Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá, ngôn ngữ, truyền thống tốt đẹp
của các dân tộc. Chống tư tưởng kỳ thị và chia rẽ dân tộc. Các chính sách kinh tế
- xã hội phải phù hợp với đặc thù của các vùng và các dân tộc, nhất là các dân
tộc thiểu số”6 để tạo nguồn sức mạnh và động lực to lớn để xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc.
Biên giới quốc gia, chủ quyền lãnh thổ là thiêng liêng, bất khả xâm phạm.
Địa bàn biên giới, vùng biển có vị trí chiến lược quan trọng; là “tuyến đầu”, “cửa
ngõ”, là “phên dậu” của mỗi quốc gia. Chủ quyền, an ninh biên giới là một bộ

cuc xõy dng v bo v T quc núi chung cng nh bo v ch quyn, an ninh
biờn gii quc gia núi riờng; trong quỏ trỡnh hot ng v lónh o cỏch mng,
Ch tch H Chớ Minh v ng ta luụn coi trng, cao v khng nh ú l vn
chin lc ca cỏch mng Vit Nam. Sinh thi Ch tch H Chớ Minh luụn
cn dn chỳng ta phi coi trng vn dõn tc vi vn an ninh, quc phũng.
Từ vị trí đặc biệt về quc phũng an ninh ở vùng dân tộc miền núi, Ngời rất quan
tâm tới việc xây dựng củng cố quc phũng an ninh ở địa bàn này, Ngời nhc nh
biên giới là nơi nhiều đồng bào sinh sống, biên giới lại tiếp giáp với các nớc láng
giềng, do đó các thế lực thù địch và bọn phản động thờng nhòm ngó. Nơi đây thờng là chỗ ẩn nấp, là bàn đạp đầu tiên để kẻ địch hoạt động xâm nhập cài cắm,
nhen nhóm các tổ chức phản động, xây dựng lực lợng chống phá cách mạng nớc ta.
Do vậy, bảo vệ biên giới là nhiệm vụ rất quan trọng. Ngi nhn mnh, lũng yờu
nc ca ng bo nhp vi tỡnh th him tr ca nỳi sụng thnh mt lc lng vụ


16

địch. Theo Người, dù trong kháng chiến hay thời kỳ xây dựng, dân tộc và miền núi
luôn giữ vị trí “đầu nguồn” chiến lược về quốc phòng – an ninh và kinh tế. Vì vậy,
phải giải quyết thành công vấn đề dân tộc để giữ vững chủ quyền, an ninh biên
giới quốc gia.
Trong các Nghị quyết của Đảng nhiều khóa cũng như trong Cương lĩnh
xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991 và bổ
sung, sửa đổi năm 2011), Đảng ta đều nhấn mạnh vị trí chiến lược của vấn đề
dân tộc và đoàn kết các dân tộc, đồng thời xác định vùng dân tộc và miền núi có
vị trí chiến lược về kinh tế, quốc phòng, an ninh và môi trường sinh thái. Sự
nghiệp cách mạng ở nước ta cho thấy, nếu Đảng ta biết dựa vào đồng bào các dân
tộc, coi đồng bào các dân tộc là bộ phận tất yếu của cách mạng thì luôn giành
được thắng lợi và ngược lại. Từ vị trí đặc biệt quan trọng ở khu vực miền núi
biên giới, cùng những khó khăn trong đời sống của đồng bào các dân tộc, Đảng
và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách xây dựng hệ thống chính trị

tin bảo đảm cho nhiệm vụ bảo vệ biên giới khi mà các nguồn cung cấp tại chỗ
của vùng này cho quốc phòng - an ninh còn cha đáp ứng đợc.
Li dng c im a hỡnh him tr khu vc biờn gii, vn dõn tc,
trỡnh dõn trớ thp ca ng bo cỏc dõn tctrong nhiu nm qua, cỏc th lc
thự ch tp trung chng phỏ cỏch mng nc ta vi nhiu hỡnh thc, th on
khỏc nhau. Trong ú th on chớnh ca chỳng l: S dng chiờu bi nhõn
quyn, dõn ch, t do; li dng nhng vn do lch s li, nhng c
im vn húa v tõm lý ca ng bo cỏc dõn tc; tỡm mi cỏch khai thỏc, li
dng nhng khú khn trong i sng vt cht, tinh thn ca cỏc dõn tc v


18

những thiếu sót trong thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội, chính sách dân
tộc của Đảng và Nhà nước ta để xuyên tạc đường lối, chính sách dân tộc của
Đảng và Nhà nước ta; kích động, chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc,
chia rẽ dân tộc đa số với dân tộc thiểu số và giữa các dân tộc thiểu số với nhau;
kích động các dân tộc thiểu số chống lại chính sách dân tộc của Đảng và Nhà
nước; tạo dựng các tổ chức phản động trong các dân tộc thiểu số, đồng thời tìm
mọi cách để xây dựng, nuôi dưỡng các tổ chức phản động người Việt Nam ở
nước ngoài; tập hợp, tài trợ, chỉ đạo lực lượng phản động trong nước để tiếp tục
chống phá cách mạng Việt Nam. Bên cạnh đó, chúng còn mua chuộc, lôi kéo, ép
buộc đồng bào các dân tộc chống đối chính quyền, vượt biên trái phép, gây mất
ổn định chính trị - xã hội, bạo loạn, tạo các điểm nóng để vu khống Việt Nam
đàn áp các dân tộc, vi phạm dân chủ, nhân quyền để cô lập, làm suy yếu cách
mạng Việt Nam.
Ở các tỉnh miền núi phía Bắc và Tây bắc, chúng dựng lên cái gọi là “vua
Mông”, “vương quốc Mông”, với mục đích dụ dỗ, lôi kéo người Mông bỏ sản
xuất, bán nhà cửa, tài sản, rời bỏ quê hương để thành lập “vương quốc Mông tự
trị”. Tại các tỉnh Tây Nguyên, chúng lôi kéo đồng bào tham gia vào các vụ gây

c th. Cỏc chớnh sỏch, chng trỡnh khụng ch tp trung vo vic phỏt trin kinh
t - xó hi n thun m gn cht vi vic gi gỡn, bo v phỏt huy bn sc vn
húa ca mi dõn tc; kt hp gia phỏt trin kinh t vi gii quyt vn xó hi
bc xỳc nh úi nghốo, lc hu, chm phỏt trin; phỏt trin kinh t - xó hi min
nỳi, vựng ng bo dõn tc luụn gn vi nhim v bo v biờn gii lónh th quc
gia; u tiờn u t, h tr vựng xung yu, vựng khú khn, gn phỏt trin kinh t


20

- xã hội với củng cố quốc phòng - an ninh; chú trọng đẩy mạnh, nâng cao công
tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ dân tộc thiểu số tại chỗ, củng cố hệ thống chính trị
cơ sở vững mạnh… Cụ thể, trong Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X
Đảng ta đã khẳng định: “Phát triển kinh tế, chăm lo đời sống vật chất và tinh
thần, xoá đói giảm nghèo, nâng cao trình độ dân trí, giữ gìn và phát huy bản sắc
văn hoá, tiếng nói, chữ viết và truyền thống tốt đẹp của các dân tộc. Thực hiện
tốt chiến lược phát triển kinh tế - xã hội ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng
biên giới, vùng căn cứ cách mạng; làm tốt công tác định canh, định cư và xây
dựng vùng kinh tế mới. Quy hoạch, phân bổ, sắp xếp lại dân cư, gắn phát triển
kinh tế với bảo đảm an ninh, quốc phòng”7. Bên cạnh đó, Nghị quyết Đại hội
Đảng toàn quốc lần thứ XI cũng đã khẳng định vị trí của vấn đề dân tộc và
nguyên tắc đoàn kết dân “Đoàn kết các dân tộc có vị trí chiến lược trong sự
nghiệp cách mạng của nước ta. Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình
đẳng, đoàn kết, thương yêu, tôn trọng và giúp nhau cùng tiến bộ, thực hiện thắng
lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc vì dân
giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”8.
Quản lý, bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia là nhiệm vụ thiêng
liêng và trọng đại của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của cả hệ thống chính trị,
trong đó đồng bào các dân tộc thiểu số vùng núi, biên giới đóng vai trò rất to lớn.
Trong tình hình hiện nay phải nắm vững và vận dụng các quan điểm của Đảng

trin kinh t - xó hi, bo v vng chc ch quyn, an ninh biờn gii quc gia.
Bn l, xõy dng i ng cỏn b dõn tc thiu s v s lng v m
bo v cht lng, ng thi coi trng i ng cỏn b min xuụi lờn cụng tỏc
min nỳi v vựng dõn tc.


22

Đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số là những chiến sĩ xung kích của Đảng và
Nhà nước ở vùng đồng bào dân tộc, là biểu tượng sinh động nhất của khối đại đoàn
kết các dân tộc và của chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước, tạo niềm tin
cho đồng bào các dân tộc vào chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước, là
bằng chứng hùng hồn chống lại các luận điệu xuyên tạc của các thế lực phản
động.
Năm là, thường xuyên làm tốt công tác tuyên truyền, giác ngộ quần chúng
nhân dân ở khu vực biên giới về lòng tự hào dân tộc, truyền thống yêu nước,
trách nhiệm bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia.
Đây là nhiệm vụ quan trọng nhằm nâng cao nhận thức cho đồng bào dân
tộc thấy được ý nghĩa chiến lược về an ninh - quốc phòng của khu vực biên giới,
biển đảo; về âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch; về tinh thần cảnh giác, ý
thức trách nhiệm, cùng với các lực lượng tham gia đấu tranh phòng, chống tội
phạm, giữ vững an ninh trật tự ở khu vực biên giới; thực hiện tốt mối quan hệ
đoàn kết, hữu nghị, giữ vững chủ quyền lãnh thổ; tham gia xây dựng đường biên
giới hòa bình, hữu nghị và hợp tác với các nước láng giềng; tích cực tham gia
xây dựng vùng biên giới vững mạnh về mọi mặt, góp phần bảo vệ vững chắc chủ
quyền, an ninh biên giới quốc gia.
Sáu là, củng cố, tăng cường đoàn kết giữa các dân tộc vùng núi biên giới.
Đoàn kết các dân tộc vùng núi biên giới nhằm tạo nên sức mạnh tổng hợp
để phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định chính trị - xã hội, đánh bại mọi
âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc chủ quyền, an ninh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status