TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ DÂN CHỦ TRONG 3 TÁC PHẨM:
“ĐƯỜNG CÁCH MỆNH”; “SỬA ĐỔI LỐI LÀM VIỆC”; “DI CHÚC”
Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống những quan điểm sâu sắc và
toàn diện về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, về con đường
giải phóng dân tộc, về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội… Tư
tưởng của Hồ Chí Minh về dân chủ là là một bộ phận quan trọng trong tư
tưởng của Người, là kết quả của sự nhận thức sâu sắc những quan điểm
của chủ nghĩa Mác- Lênin về dân chủ vào điều kiện lịch sử cụ thể ở nước
ta, là sự kết hợp giữa truyền thống và hiện đại, giữa lý luận và thực tiễn Hồ Chí Minh đã nâng tư tưởng dân chủ lên một tầm cao mới.
Dân chủ là một nguyên tắc trong tổ chức sinh hoạt và hoạt động của
các tổ chức, là khát khao, nguyện vọng của cả dân tộc Việt Nam, đồng thời
dân chủ cũng là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực
của sự phát triển đất nước…. Nghiên cứu 3 tác phẩm “Đường cách
mệnh”(1925); “Sửa đổi lối làm việc”(1947); “Di chúc”(1969) trong kinh
điển gốc của Hồ Chí Minh giúp chúng ta có cái nhìn tổng quan hơn về dân
chủ, đồng thời quán triệt và thực hiện tốt những quan điểm của Đảng về
xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay.
Hồ Chí Minh luôn ý thức sâu sắc rằng, dân chủ không chỉ là "dân là
chủ" mà còn là "dân làm chủ". Dân có thực sự làm chủ thì mới tiếp tục bắt
tay vào xây dựng một nước Việt Nam dân chủ mới, thực hiện dân chủ mới,
có điều kiện để tiến đến chủ nghĩa xã hội. Hơn ai hết, Hồ Chí Minh thấy rõ
dân chủ là động lực, là sức mạnh để xây dựng một xã hội ấm no, hạnh
phúc, tự do và bình đẳng. Hồ Chí Minh luận bàn dân chủ là để thực hiện
dân chủ trong thực tiễn. Dân là giá trị lớn nhất trong tư tưởng Hồ Chí
Minh: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân”. Dân chủ là cái quý
báu của nhân dân. Hồ Chí Minh nhận thức rất rõ vai trò và động lực của
dân chủ, coi dân chủ là nhân tố động lực của sự phát triển. Thực hành dân
chủ là chìa khóa vạn năng để giải quyết mọi khó khăn.
Người đã đi từ giảng giải, giải thích lịch sử cách mệnh Mỹ, Pháp, Nga, các
Quốc tế... để nói về dân chủ, những khẩu hiệu dân chủ mà các cuộc cách
mạng trước đây giai cấp tư sản đã thực hiện, những khẩu hiệu dân chủ mà
thực dân vẫn bắt chúng ta phải nghe đều là giả dối “tư bán nó dùng chữ Tự
do, Bình đẳng, Đồng bào để lừa dân, xúi dân đánh đổ phong kiến. Khi
đánh đổ phong kiến rồi thì nó lại thay phong kiến áp bức nhân dân”1. Để
truyền đạt các nội dung của chủ nghĩa Mác – Lênin, phong trào cộng sản và
công nhân quốc tế vào phong trào yêu nước là điều không dễ, trình độ dân
trí của ta thấp, không thể hiểu được ngay để xây dựng chế độ dân chủ là thế
nào, không thể hiểu ngay những quan niệm của chủ nghĩa Mác – Lênin về
dân chủ. Từ đặc điểm đó Nguyễn Ái Quốc đã rất khéo léo giảng giải về dân
chủ, Người đã đi từ giảng giải thành công của “Pari Công xã” và mục đích
của Công xã ấy là thế nào. Công xã đã lập nên chính phủ nhân dân và thực
hành những việc của một chế độ dân chủ ra sao: Người viết về Công xã:
“1. Bao nhiêu cơ quan sinh sản (tức chính phủ của nhân dân) riêng
đều đem làm của công. 2. Tất cả trẻ con trong nước, bất kỳ con trai con
gái, đều phải đi học. Học phí nhà nước phải cho. 3. Dân có quyền tự do tổ
chức, làm báo, khai hội, xuất dương…4. Bất kỳ đàn ông đàn bà, ai cũng
được quyền chính trị, tuyển cử và ứng cử. 5. Chính phủ tự dân cử lên, và
dân có quyền thay đổi Chính phủ”2. Thực chất ở đây Nguyễn Ái Quốc
muốn giảng giải mô hình xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới, những kết
1
2
Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, H. 2000, tập. 2, tr. 274
Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, H. 2000, tập. 2, tr. 273
quả đấu tranh của công nhân Công xã Pari và nguyên nhân thất bại của
Công xã trong đấu tranh “giành lấy dân chủ” “Pari Công xã vì tổ chức
khéo léo kết hợp cách truyền đạt dễ hiểu, dễ nhớ không dài dòng, trừu
tượng làm cho nhận thức về chế độ dân chủ mà chúng ta hướng tới dễ dàng
thâm nhập vào phong trào công nhân, phong trào yêu nước ở Việt nam.
Năm 1947 sau khi chúng giành được chính quyền 2 năm, tình hình
quốc tế có nhiều diễn biến mới. Trong nước, guồng máy của hệ thống
chính trị mới hoạt động, bên cạnh những ưu điểm, đã bộc lộ những hạn
chế, yếu kém, những thói hư tật xấu mới trái với đạo đức cách mạng, trái
với chế độ dân chủ mà chúng ta đang xây dựng, do vậy cần phải nhanh
chóng khắc phục những hạn chế này để đưa cách mạng tiến lên. Đội ngũ
cán bộ trong bộ máy nhà nước, đặc biệt là đảng viên chủ yếu là nông dân
với tâm lý thói quen của người sản xuất nhỏ, lại có học vấn thấp, chưa
được đào tạo đã tác động tiêu cực đến hiệu quả công việc. Khi được giao
chức quyền thì lại dễ nảy sinh bệnh gia trưởng, quan liêu. Một số tật bệnh
đã xuất hiện: kém lý luận, coi khinh lý luận, bệnh hẹp hòi, địa phương chủ
nghĩa, gia trưởng, địa vị, hủ hoá…những căn bệnh đó rất giống với nước
Nga, sau 5 năm giành được chính quyền để Lênin phải viết tác phẩm Thà ít
mà tốt mà Hồ Chí Minh đã đọc và tiếp thu. Sự xuống cấp về đạo đức được
đánh giá như một thứ vi trùng độc hại. Do đó, vấn đề đạo đức của đội ngũ
cán bộ lãnh đạo cần phải được chấn chỉnh lại. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
yêu cầu phải sửa đổi lối làm việc, chỉ ra những căn bệnh của Đảng và cán
bộ Đảng viên ta và cách chữa trị, nhằm tạo nên một thế giới quan, nhân
sinh quan mới phục vụ đắc lực cho công cuộc đấu tranh chống Pháp và xây
dựng kiến thiết Tổ quốc. Trong tác “sửa đổi lối làm việc” Hồ Chí Minh
không đề cập nhiều, nói nhiều, sử dụng nhiều thuật ngữ “dân chủ” vì trình
độ dân trí của ta thấp, rất có thể dễ hiểu lầm dân chủ mà chủ yếu người hay
dùng chữ “bàn bạc” với nhân dân. Thực chất của thuật ngữ này đó chính là:
Dân chủ.
Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, H. 1995, tập. 5, tr. 246
chúng. Nghị quyết gì mà dân chúng cho là không hợp thì để họ đề nghị sửa
chữa...”7 Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, trước khi làm bất cứ việc gì “Việc gì
cũng phải học hỏi và bàn bạc với dân chúng, giải thích cho dân chúng”8 và
Người coi đó là nguyên tắc. Cùng với dân chúng đặt kế hoạch cho phù hợp
với hoàn cảnh địa phương, rồi động viên và tổ chức họ thi hành. Trong lúc
thi hành lại phải theo dõi, giúp đỡ, đôn đốc, khuyến khích nhân dân; thi
hành xong phải cùng với họ kiểm thảo lại công việc, rút kinh nghiệm, phê
bình, khen thưởng.
Trong “mấy điều kinh nghiệm” Người chỉ ra phải nâng cao sáng kiến
và lòng hăng hái. Để cán bộ, Đảng viên ta có sáng kiến và lòng hăng hái
phải thực hành dân chủ, nêu cao tinh thần tự phê bình và phê bình, biết
cách phê bình một cách sáng suốt, khôn khéo. “Dân chủ, sáng kiến, hăng
hái ba điều đó rất quan hệ với nhau. Có dân chủ mới làm cho cán bộ và
quần chúng đề ra sáng kiến, những sáng kiến đó được khen ngợi, thì những
người đó càng thêm hăng hái, và người khác cũng học theo. Và trong khi
tăng thêm sáng kiến và hăng hái làm việc thì những khuyết điểm lặt vặt
cũng sửa chữa được nhiều”9. Như vậy, có thể thấy Hồ Chí Minh luôn đề
cao dân chủ, coi dân chủ là nguồn gốc của những sáng kiến, dân chủ làm
cho sáng kiến nảy sinh và tạo nên sự hăng hái đồng thời làm hạn chế được
những khuyết điểm. Đã làm việc tất yếu sinh ra khuyết điểm, nhưng những
khuyết điểm nhỏ, khuyết điểm lặt vặt của cán bộ, đảng viên ta cũng sẽ bớt
đi nhiều. Chính dân chủ làm cho người ta được bàn bạc để đi đến thực hiện,
làm cho tư tưởng, hành động thống nhất và làm cho người thực hiện công
việc bớt đi được khuyết điểm trong quá trình thực hiện.
Có dân chủ mới có những sáng kiến hay, những kinh nghiệm quý
trong thực hiện nhiệm vụ của người cán bộ, đảng viên. Để nâng cao sáng
Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, H. 1995, tập. 5, tr. 297
thất bại”12. Trong 2 cách làm việc mà Người chỉ ra thì cách thứ 2 là “làm
theo cách quần chúng. Việc gì cũng hỏi ý kiến dân chúng, cùng dân chúng
bàn bạc. Giải thích cho dân chúng hiểu rõ. Được dân chúng đồng ý. Do dân
Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, H. 1995, tập. 5, tr. 245
Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, H. 1995, tập. 5, tr. 280
12
Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, H. 1995, tập. 5, tr. 293
10
11
chúng vui lòng ra sức làm” thì sẽ rất hiệu quả. Ngược lại “có nhiều cán bộ
không bàn bạc, không giải thích với dân chúng, không để cho dân chúng
phát biểu ý kiến, giải quyết các vấn đề, chỉ bắt buộc dân chúng làm theo
mệnh lệnh. Thậm chí khi dân chúng đề ra ý kiến và nêu rõ vấn đề, họ cũng
tìm cách dìm đi. Họ chỉ làm theo ý kiến của họ. kết quả là làm cho dân
chúng nghi ngờ, bất mãn”13 không phát huy được dân chủ trong dân chúng
kết quả “sẽ không đến nơi đến chốn, việc đó không được lâu dài, bền vững”.
Vấn đề xây dựng, kiến thiết chế độ mới, cách làm tốt nhất là dựa vào
dân, đem tài dân, sức dân, làm lợi cho dân. Đây thực chất là con đường
thực hiện dân chủ. Thực tế đã chứng minh lời căn dặn của Người: “Kinh
nghiệm trong nước tỏ cho chúng ta biết: có lực lượng dân chúng việc to tát
mấy, khó khăn mấy cũng làm được. Không có, việc gì làm cũng không
xong”.14 Dựa vào dân, làm theo lợi ích của dân, đó là nguyên tắc bất di bất
dịch trong chủ trương, đường lối cũng như trong chỉ đạo thực hiện. Hồ Chí
Minh viết: “Dân chúng biết giải quyết nhiều vấn đề một cách giản đơn,
mau chóng, đầy đủ, mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn nghĩ
mãi không ra.”15 Từ những điều mà Hồ Chí Minh chỉ ra, một lần nữa
chúng ta thấy Người rất quan tâm tới dân chủ, trong lãnh đạo cũng như
trong thực hiện các nhiệm vụ. “dân chúng đồng lòng, việc gì cũng làm
đối không nên theo đuôi quần chúng. Nhưng phải khéo tập trung ý kiến của
quần chúng, hóa nó thành cái đường lối để lãnh đạo quần chúng…”19. như
vậy dân chủ của Hồ Chí Minh luôn đi liền với tập trung, không phải là dân
chủ hình thức mà dân chủ để lắng nghe ý kiến nguyện vọng của nhân dân,
biến những mong muốn, nguyện vọng của nhân dân thành đường lối lãnh
đạo của đảng, làm cho đường lối ấy đi vào quần chúng nhân dân và chính
họ là người tổ chức thực hiện.
Trong suốt cuộc đời hoạt động của mình từ khi ra đi tìm đường cứu
nước đến khi về “gặp cụ Các Mác, cụ Lênin và các vị đàn anh khác”, Hồ
Chí Minh chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là làm cho nước nhà
được độc lập, nhân dân được tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn áo mặc,
ai cũng được học hành. Người đã làm tất cả để thực hiện mục tiêu nước ta
Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, H. 1995, tập. 5, tr. 297
Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, H. 1995, tập. 5, tr. 296
19
Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, H. 1995, tập. 5, tr. 298
17
18
trở thành nước dân chủ, dân ta được sống trong Độc lập - Tự do - Hạnh
phúc. Người đã rút ra một chân lý vĩnh hằng không chỉ cho dân tộc mà còn
cho cả nhân loại "không có gì quý hơn độc lập tự do". Hồ Chí Minh khẳng
định bản chất của dân chủ tức là dân là chủ và dân làm chủ. Từ đó người
chỉ rõ địa vị của nhân dân là người chủ đối với xã hội, đất nước và nhân
dân là chủ thể của quyền lực ấy. Đây là nội dung cốt lõi trong tư tưởng dân
chủ Hồ Chí Minh, phản ánh giá trị cao nhất, chung nhất của dân chủ là
quyền lực thuộc về nhân dân. Trước khi đi xa người căn dặn Đảng ta phải
“Thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình
và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống
của Người. Tư tưởng dân chủ Hồ Chí Minh không chỉ được thể hiện trong 3
tác phẩm nêu trên của Người mà còn được thể hiện trên rất nhiều tác phẩm.
* Ý nghĩa lịch sử:
Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ là sự phát triển các quan điểm về
dân chủ một cách sáng tạo, đúng đắn, kịp thời và có hiệu quả những tư
tưởng về dân chủ của chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể nước ta,
là sự đóng góp to lớn vào kho tàng tư tưởng lý luận của Đảng, góp phần vào
thắng lợi của cách mạng Tháng Tám năm 1945 và công cuộc xây dựng nước Việt
Nam dân chủ cộng hoà.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề cập đến một chủ đề rất hệ trọng, rộng lớn
đó là việc phát huy dân chủ trong điều kiện một đảng cầm quyền, vai trò
của một đảng cầm quyền lãnh đạo quần chúng nhân dân tiến hành xây
dựng một nước dân chủ. Trong điều kiện đó, Đảng phải khắc phục nhiều
khuyết điểm, chứng bệnh, thói hư tật xấu, tiêu cực của đội ngũ cán bộ,
đảng viên, mà ở giai đoạn trước khi giành chính quyền chúng chưa xuất
hiện hoặc chưa lộ rõ. Những biểu hiện này không chỉ gây khó khăn cho sự
nghiệp kháng chiến ở giai đoạn bước ngoặt khó khăn trọng đại có tính sống
còn của cả dân tộc. Chúng còn nguy cơ đe doạ làm thoái hoá, biến chất
chính bản chất cách mạng của Đảng, lý tưởng, mục tiêu và phẩm chất đạo
đức cách mạng của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Cùng với việc chỉ ra và phân
tích rõ khuyết điểm, Hồ Chí Minh cũng cũng tập trung nêu lên những biện
pháp toàn diện, đúng đắn, có tính hệ thống và đồng bộ để khắc phục khuyết
điểm là phải thực hành và phát huy dân chủ.
Những quan điểm, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về dân chủ
trong 3 tác phẩm trên có ý nghĩa quan trọng đối với sự nghiệp cách mạng
trước đây cũng như trong giai đoạn hiện nay. Nhờ sự chỉ dẫn kịp thời và
kiên quyết của Người, Đảng ta và đội ngũ Cán bộ, Đảng viên của chúng ta
khi ấy đã củng cố lực lượng, xiết chặt đội ngũ, chấn chỉnh kỷ luật, giữ vững
đất nước hiện nay. Hơn lúc nào hết chúng ta phải quán triệt tư tưởng Hồ
Chí Minh về dân chủ, phải "làm sao cho nhân dân biết hưởng quyền dân
chủ, biết dùng quyền dân chủ của mình". Do vậy, "thực hành dân chủ là cái
chìa khóa vạn năng có thể giải quyết mọi khó khăn".