TÀI LIỆU THAM KHẢO NHỮNG vấn đề cơ BẢN TRONG tư TƯỞNG TRIẾT HỌC hồ CHÍ MINH về văn HÓA VÀ sự vận DỤNG TRONG xây DỰNG QUÂN đội TA về văn HÓA - Pdf 41

NHỮNG VẤN ĐỀ CÓ BẢN TRONG TƯ TƯỞNG TRIẾT
HỌC HỒ CHÍ MINH VỀ VĂN HÓA VÀ SỰ VẬN DỤNG
TRONG XÂY DỰNG QUÂN ĐỘI TA VỀ VĂN HÓA
Chủ tịch Hồ Chí Minh có những tư tưởng triết học phong phú, sâu sắc
và độc đáo, được thể hiện trong nhiều bài viết của Người. Những tư tưởng
triết học của Chủ tịch Hồ Chí Minh có thể được xem xét ở nhiều góc độ khác
nhau. Nhưng dù ở góc độ nào chúng ta cũng thấy những tư tưởng đó vừa
mang sắc thái thâm thuý của triết học phương Đông, lại vừa có tính khúc triết,
duy lý, hiện đại của triết học phương Tây. Thí dụ: Về tư tưởng “Không có gì
quý hơn độc lập tự do” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người Việt Nam nhận thấy
ở đó trình độ khái quát cao của tư tưởng “một dân tộc độc lập và một quốc gia
có chủ quyền” của tư tưởng truyền thống Việt Nam; người phương Tây nhìn
thấy bóng dáng của tư tưởng triết học khai sáng Pháp; những người cộng sản
lại nhìn thấy ở đó hiện thân của triết học Mác - Lênin. Trong hàng loạt những
tư tưởng triết học của Chú tịch Hồ Chí Minh về con người, chúng ta cũng
thấy hiện lên rất rõ những khai niệm nhân văn đặc sắc của dân tộc Việt Nam,
cũng như những tư tưởng triết học sâu sắc của Khổng Tử, Lão Tử, Phật giáo,
Thiên chúa giáo, triết học khai sáng Pháp và đặc biệt là tư tưởng nhân đạo cao
cả của triết học Mác - Lênin. Ở tư tưởng “dĩ bất biến, ứng vạn biến” của Chủ
tịch Hồ Chí Minh, có cả phép “biến dịch” của triết học phương Đông, lại có
cả phép biện chứng duy vật của triết học mácxít…Có thể nói, nhiều giá trị
triết học của nhân loại trong lịch sử đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh tổng kết,
kế thừa, vận dụng sáng tạo, và nhờ đó mà nâng chúng lên ở trình độ mới,
chẳng những ngang tầm thời đại mà còn hướng tới tương lai.
Như vậy, nguồn gốc tư tưởng triết học của Hồ Chí Minh ở ba yếu tố
chính: một là, những truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam; hai là,
những giá trị hợp lý, tiến bộ của triết học phương Đông và triết học phương
Tây; ba là, hệ thống tư tưởng triết học Mác - Lênin - đỉnh cao trong sự phát
triển của tư tưởng nhân loại. Những yếu tố này đóng vai trò quan trọng tạo



Có ý kiến cho rằng, “để hiểu ý nghĩa của bản nghị quyết của UNESCO,
tôi hình dung Hồ Chí Minh là người đem lại ánh sáng, ánh sáng văn hoá, ánh
sáng cách mạng cho nhân dân nhiều nước khác để xua tan bóng tối của chủ
nghĩa thực dân, đế quốc, của dốt nát, đói nghèo, bệnh tật đè nặng lên cuộc
sống của các dân tộc bị áp bức…Sự nghiệp văn hoá lớn nhất, quan trọng nhất
của Hồ Chí Minh là đã huy động sức mạnh của truyền thống hơn 4000 năm
văn hiến của dân tộc kết hợp với tinh hoa văn hoá của thời đại, lãnh đạo thành
công sự nghiệp giải phóng dân tộc, giành lại cho nhân dân ta quyền làm
người, quyền được sống xứng đáng với con người. Sự nghiệp đó trả lại địa vị
xứng đáng cho nền văn hoá Việt Nam, cũng là một sự nghiệp có ý nghĩa to
lớn đối với nền văn hoá thế giới, góp phần vào cuộc đấu tranh của nhân dân
các nước thuộc địa, từng bước tiến lên thanh toán chủ nghĩa thực dân, xoá đi
một vết nhơ trong lịch sử và trong nền văn hoá của loài người” 1. Ý kiến này
xác định một cách tổng quát rằng: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một kho tàng
đầy của báu, là di sản chứa đựng biết bao giá trị, giá trị đó nói cho cùng là giá
trị văn hoá”2.
Một ý kiến khác khẳng định: “Sự nghiệp Văn hoá quan trọng nhất của
Người là đã lãnh đạo toàn dân đánh đuổi giặc ngoại xâm trong thời đại mới,
giành lại cho nhân dân những quyền sống của con người, một cuộc sống có
văn hoá”3.
Một vài nhà nghiên cứu khi trình bày tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hoá
đã đi vào từng lĩnh vực cụ thể như văn hoá chính trị, văn hoá đạo đức, văn
hoá nghệ thuật…
Có học giả viết: “Tư tưởng Hồ Chí Minh tất nhiên là tư tưởng chính trị,
định hướng chính trị, song mang đặc thù dễ phân biệt với các tư tưởng đương
thời ở phần lớn biểu hiện của tư tưởng dưới dạng văn hoá. Nói cách khác, tư
Phạm Văn Đồng: Hồ Chí Minh - quá khứ, hiện tại và tương lai, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1991, t1, tr.43,
47-48.
2 Phạm Văn Đồng: Văn hoá và đổi mới, Nxb. CTQG, Hà Nội, 1994, tr.. 126.
3 Võ Nguyên Giáp: Thế giới còn đổi thay nhưng tư tưởng Hồ Chí Minh sống mãi, Ban Khoa học xã hội

đường của trào lưu thực dân tràn vào Việt Nam với thế áp đảo, thì nền văn
4
5

Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh, Viện Hồ Chí Minh xuất bản, Hà Nội, 1993, tr. 57.
Ôxíp Manđenxtam: Thăm một chiến quốc tế cộng sản - Nguyễn Ái Quốc, báo Đốm lửa, số 39, tháng 12-1923.


hoá truyền thống Việt Nam - bên cạnh các giá trị cao đẹp có sức trường tồn đã bộc lộ những hạn chế không đủ khả năng cứu vãn số phận dân tộc. Thế kỷ
XX và thời đại mới đặt ra và đòi hỏi phải xử lý các mối quan hệ: truyền thống
- hiện đại; dân tộc - nhân loại; dân tộc - giai cấp; Đông - Tây, v.v…Hồ Chí
Minh - trong khi có điều kiện để trở thành “nhà văn hoá kiểu cũ” hoặc nhà
“trí thức mới thuần Pháp” - lại không đi theo con đường đó. Người sang tận
phương Tây tìm đường cứu nước, chọn cho mình và cho cả dân tộc mình con
đường hoà nhập vào thế giới hiện đại trên cơ sở giữ vững bản sắc văn hoá dân
tộc. Con đường Hồ Chí Minh hoạt động cách mạng trở thành vị lãnh tụ kiểu
mới của dân tộc cũng chính là con đường Người trở thành nhà văn hoá kiệt
xuất, nhà văn hoá của tương lai. Trên con đường để đạt tới nhà văn hoá kiểu
mới, Hồ Chí Minh đã được bồi đắp nhiều kinh nghiệm sống, sự tiếp xúc với
nhiều nền văn hoá và một lối ứng xử khoan dung, độc đáo.
1.2. Sự kết hợp hài hoà tinh hoa văn hoá dân tộc và nhân loại
Trước khi rời tổ quốc ra đi tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã được
hấp thụ một vốn văn hoá gia đình, quê hương, dân tộc. Từ vùng quê làng
chùa, làng sen, mở rộng ra quê hương Nghệ Tĩnh, qua kinh đô Huế…, mỗi
nơi có vốn có sắc thái văn hoá khác nhau, nhưng điểm tương đồng là tất cả
đều sáng ngời truyền thống yêu nước, dân chủ, cộng đồng và nhân văn. Hồ
Chí Minh có được những yếu tố văn hoá dân tộc có tính chất cội rễ đó cùng
với quá trình tiếp nhận và nâng cao giá trị văn hóa phương Đông. Nói cách
khác, trên nền tảng của văn hóa dân tộc, Người đã dân tộc hóa những tinh hoa
văn hóa được tiếp nhận từ bên ngoài và không bao giờ bị hòa tan trong bất cứ

tựu của nền văn hóa nhân loại. Nhưng không thể ngồi ở Việt Nam để nắm
được những thành tựu ấy”7.
Với khát vọng và ham muốn tột bậc là giải phóng đồng bào mình,
vượt qua nhiều khó khăn, gian khổ và lỗ lực kiên trì, Người tự làm phong
phú sự hiểu biết của mình bằng nhiều vốn tri thức: tri thức ngoại ngữ, tri
Võ Nguyên Giáp: Tư tưởng Hồ Chí Minh-quá trình hình thành và phát triển, Nxb. Sự thật, H, 1993, tr.
29.
7 Vũ Khiêu: HCM đỉnh cao của văn hóa dân tộc và nhân loại. Viện văn hóa xb. H, 1990, tr. 60-61.
6


thức sách vở, tri thức thực tiễn…Đấy cũng là quá trình và con đường Hồ
Chí Minh đi tới đỉnh cao của văn hóa nhân loại. Điều kỳ lạ chính lại bắt
nguồn từ sự tương phản, nghịch cảnh của trung tâm văn minh nhân loại
như Pháp, Anh, Mỹ lúc bấy giờ. Với tầm hiểu biết và trình độ nhận thức
cao, Hồ Chí Minh sớm ghi nhận những gì mà cuộc cách mạng Pháp 1789
đã làm được như xoá bỏ chế độ phong kiến, giải phóng nông nô, đấu tranh
cho tự do của con người, lập hiến pháp…Đó là “một sự nghiệp rất nhân
đạo”, “một trong những cội nguồn của tự do, bình đẳng, bắc ái”. Người
cũng nhấn mạnh tới “quyền con người”, “quyền tự do và bình đẳng về
quyên lợi” trong tuyên ngôn độc lập 1776 của Hoa Kỳ. Tuy nhiên, bằng sự
nhạy cảm chính trị và nhãn quan văn hóa qua những cảnh tai nghe mắt thấy
trong cuộc sống của nhân loại đau khổ, Người đã thấy rõ sự thật đằng sau
những từ “tự do, bình đẳng, bác ái” là sự chống lại nhân dân lao động,
chém giết bạo tàn; là phản bội lý tưởng của cách mạng Pháp, Mỹ, tức là
phản văn hóa. Năm1924, Người viết trên tạp chí Thư tín quốc tế như sau:
“Rốt cuộc người ta đã nhân danh nó (tức bình đẳng - TG) để nhập vào nước
họ (chỉ các thuộc địa) rượu cồn, thuốc phiện, chế độ lao dịch, chế độ bốc
vác nặng nề, chế độ dân bản xứ và sự cướp đoạt”. Trong bản án chế độ
thực dân Pháp, Người viết: “công lý được tương trưng bằng một bà đầm,

chứa đựng nhiều giá trị mà căn bản là những giá trị văn hóa. Nó làm giàu
không chỉ cho kho tàng văn hóa Việt Nam mà cho cả văn hóa nhân loại. Với
cuộc hành trình đó, Hồ Chí Minh đã đem về cho dân tộc những giá trị văn hóa
đó có khả năng kết hợp đạo đức của nhân loại với đạo lý làm người của cha
ông; có khả năng giữ gìn, khai thác triệt để di sản văn hóa tinh thần của tổ tiên
và cả loài người tiến bộ.
1.3. Hồ Chí Minh - chủ thể sáng tạo văn hóa
Đối với Hồ Chí Minh, tri thức văn hóa chỉ nhằm mục đích phục vụ cho
sự nghiệp cách mạng và cuộc đời hoạt động cách mạng chuyên nghiệp của
Người lại phản ánh một tầm nhìn văn hóa rộng lớn. Những tri thức và các yếu
tố văn hóa trong con người Hồ Chí Minh là hết sức phong phú, đa dạng, mà


trước hết Người là một chủ thể sáng tạo văn hóa. Người để lại cho dân tộc và
nhân loại một giá trị văn hóa phong phú, cao đẹp, trong sáng và đậm dà tư
tưởng nhân văn như chính cuộc đời Người.
Người là nhà thơ, nhà văn lớn của dân tộc. Văn thơ Người mang tính
chiến đấu cao, triệt để chống mọi thứ tham tàn, bạo ngược. Thơ văn Người
phản ánh nội tâm của Người và không vắng bóng con người với khát vọng
giải phóng, tự do, công lý, cơm áo, hòa bình. cái đẹp của thiên nhiên, của con
người và cuộc sống hòa quyện trong thơ Người thành sức mạnh cổ vũ lớn lao,
hướng con người tới chân, thiện, mỹ. Thơ, văn của Người mang hơi thở của
dân tộc và thời đại, trăn trở với vận mệnh của các dân tộc bị áp bức và số
phận đau khổ của con người. Với rất nhiều thể loại như văn chính luận, truyện
ký, kịch, tiểu phẩm…, Hồ Chí Minh đã thể hiện nhiều yếu tố mới, hiện đại cả
nội dung tư tưởng, hình thức nghệ thuật, phương pháp, phong cách, ngôn
ngữ,v.v..
Người là bậc thầy của báo chí cách mạng Việt Nam. Người nhận thức
đúng đắn, đầy đủ vai trò của báo chí, đặc biệt trong hoàn cảnh lúc đó (1919),
“trong tất cả những tờ báo Pháp, chỉ có tờ dân chúng, cơ quan của Đảng xã

dân chủ, nhân đạo, khác với xã hội đầy rẫy áp bức, bất công đang diễn ra trên
Tổ quốc mình. Vì vậy, cả cuộc đời Người luôn luôn chiến đấu trên mặt trận
văn hóa. Cùng với việc sử dụng ngòi bút làm vũ khí sắc bén lên án chế độ
thực dân đế quốc, người còn thực sự là một chiến sĩ văn hóa chiếu rọi ánh
sáng, gieo mầm cách mạng, chăm lo giáo dục đào tạo con người.
Sau ngày cách mạng tháng tám năm 1945 thành công, người đã có kế
sách văn hóa trong chiến lược “kháng chiến kiến quốc”. Xã hội mới với tiêu
ngữ được đặt lên hàng đầu: Việt Nam dân chủ cộng hòa đã phản ánh cách
nhìn và tầm nhìn của Hồ Chí Minh, tiếp tục những ước vọng từ quá khứ, đồng
thời bắt đầu những công việc mới của một xã hội vừa thoát thai từ chế độ
thuộc địa. Đó là công việc phát triển toàn diện đất nước. Người đã phát triển
văn hóa Việt Nam thông qua chiến lược chống giặc dốt; chống giặc đói;
chống giặc ngoại xâm; chống giặc nội xâm; chống giặc truyền thống của thói
quen lạc hậu. Nhiệm vụ “chống giặc dốt” và xoá mù chữ do Người khởi


xướng được liên hợp quốc đánh giá rất cao. Theo V.I. Lênin, sau khi giành
được chính quyền, phải đưa quần chúng lên một trình độ cao hơn, nếu quần
chúng lao động không biết chữ thì sẽ bị đứng ngoài chính trị. Hồ Chí Minh đề
ra vấn đề “giáo dục lại tinh thần của nhân dân bằng cách thực hiện “cần,
kiệm, liêm, chính” để làm cho dân tộc chúng ta trở nên một dân tộc dũng cảm,
yêu nước, yêu lao động, một dân tộc xứng đáng với nước Việt Nam độc lập” 9.
Về nhiệm vụ chống giặc đói, người khẳng định: “Dân dĩ thực vi thiên”. Người
chỉ rõ nhiệm vụ chống giặc nội xâm (tức chống chủ nghĩa cá nhân) là công
việc “tỷ lệ thuận” với thắng lợi của chủ nghĩa xã hội. Hồ Chí Minh xác định
rõ việc chống nghèo nàn, lạc hậu và những gì đã cũ kỹ, hư hỏng để tạo ra
những cái mới mẻ tốt tươi là cuộc sống chiến đấu khổng lồ. Muốn giành được
toàn thắng trong chiến đấu thì trước tiên phải động viên toàn dân, tổ chức và
giáo dục toàn dân, dựa vào lực lượng vĩ đại của nhân dân… Hồ Chí Minh là
người khởi xướng các phong trào xây dựng “Đời sống mới”, “Tết trồng cây”,

con người; là tất cả những gì do con người và liên quan trực tiếp đến con
người, được thể hiện qua các giá trị vật chất và tinh thần, qua các hình thức tổ
chức đời sống và hoạt động của con người. Với nội dung như vậy, văn hóa
luôn luôn là động lực thức đẩy xã hội phát triển và mục tiêu phát triển của xã
hội, xét cho cùng cũng chính là văn hóa.
Bước nhảy vọt lớn lao, triệt để từ con người bị áp bức, bị bóc lột, bị
tha hóa đến vương quốc của con người phát triển tự do và toàn diện được
thực hiện trước hết và xuyên suốt bằng sứ mệnh và sức mạnh của văn hóa
thông qua việc thức tỉnh, định hướng, tổ chức và quy tụ con người. Những
năm đầu hoạt động cách mạng, nhiều giá trị văn hóa của nhân loại, đặc biệt
là chủ nghĩa Mác - Lênin đã trở thành bó đuốc soi tỏ nhận thức Hồ Chí
Minh. Rồi đến lượt mình, suốt đời Hồ Chí Minh cần mẫn thực hiện sứ
mệnh của người đi gieo ánh sáng, thức tỉnh lương tâm đồng bào, đồng chí,
chăm lo việc trồng người, gieo mầm cách mạng, đào tạo những thế hệ con
người mới. Hồ Chí Minh nhận thức sâu sắc rằng văn hóa là vũ khí sắc bén
để lên án chế độ thực dân đế quốc; để tuyên truyền và tổ chức lớp lớp quần
chúng nhân dân đứng lên làm cách mạng. Văn hóa tạo khả năng cho các
dân tộc bị áp bức xây dựng tình đoàn kết, vùng dậy với sức mạnh, tài năng


sáng tạo và lòng dũng cảm để tiến hành sự nghiệp giải phóng. Chúng ta
chiến thắng kẻ thù, đó là “sự chiến thắng của văn minh đối với bạo tàn”,
tức là chiến thắng bằng sức mạnh văn hóa.
Văn hóa được huy động như một lực thúc đẩy sự tiếp xúc văn hóa và sự
hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc. Ở khía cạnh này, Hồ Chí Minh đã khai
thác sức mạnh của văn hóa một cách hiệu nghiệm làm cho các dân tộc tạo
dựng được cơ hội để mở rộng kiến thức của mình và xích lại gần nhau. Thông
qua các yếu tố và sức mạnh văn hóa, Hồ Chí Minh đã nâng cao tầm nhìn của
dân tộc Việt Nam ra thế giới bên ngoài. Vì vậy văn đã trở thành thước đo sự
phát triển và tiến bộ của đất nước ta. Văn hóa mới, đời sống mới mà Hồ Chí

sống nhân, nghĩa, trọng lẽ phải, ngay thẳng, thật thà, làm điều thiện, tránh
điều ác. Văn hóa có sư mệnh luôn luôn khẳng định một sự thật hiển nhiên
là đã bao đời nay nhân dân ta sống với nhau có tình có nghĩa. Đồng thời
văn hóa - thông qua gương người tốt, việc tốt còn là cộng cụ sắc bén để
tuyên truyền, giáo dục lẽ sống làm người. Chúng ta có vốn văn nghệ dân
tộc hết sức độc đáo. Đó là âm nhạc, thơ cổ điển, tuồng, chèo, ví dặm, hát
phường vải…Những yếu tố, chất liệu riêng đó phản ánh tinh hoa văn hoá
của dân tộc và sắc thái độc đáo nhất của nền văn hóa, văn nghệ Việt Nam.
Nói đến vốn văn hóa, văn nghệ, Hồ Chí Minh thương nhắc nhở các nhà văn
hóa phải chịu khó học, hiểu sâu, khai thác, phát huy và phát triển những cái
độc đáo, cốt cách và đặc tính dân tộc. Trong khi khẳng định bản sắc văn
hóa của dân tộc thì cần phải hiểu đó là một nền văn hóa Việt Nam nhiều
màu sắc đẹp. Nó kết tinh nhiều tài năng, sáng tạo, luôn hướng tới một nền
văn minh vì những giá trị nhân đạo và tiến bộ xã hội.
Hồ Chí Minh luôn khẳng định chứ không bao giờ cường điệu hóa bản
sắc dân tộc. Bời vì Người đã đi từ văn hóa dân tộc đến văn hóa nhân loại.
Tiếp xúc với nhiều nền văn hóa của nhân loại, Người thấy văn hóa của các
dân tộc khác cần phải nghiên cứu toàn diện, chỉ có trong trường hợp đó mới
có thể tiếp thu được nhiều hơn cho văn hóa của chính mình. Kế thừa truyền
thống tốt đẹp của văn hóa dân tộc đi đôi với tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn
hóa nhân loại là sự thể hiện một nét biện chứng trong tư tưởng Hồ Chí Minh
11

Hồ Chí Minh Toàn tập, xuất bản lần thứ hai, Nxb, CTQG, H, 1995, t.6, tr. 216.


về văn hóa. Dân tộc và nhân loại là những yếu tố có giá trị vĩnh hằng. Nhưng
quá khứ, hiện tại hay tương lai thì văn hóa dân tộc vẫn luôn là yếu tố hàng
đầu. Đó là điều kiện, là cơ sở để tiếp thu văn hóa nhân loại. Mặt khác, khi các
dân tộc đã có sự tiếp xúc lẫn nhau thì văn hóa dân tộc phải trở thành một bộ

quân đội, nhân sĩ…, Hồ Chí Minh chúc tết bằng một vế đối:
“Muốn cho xã hội đầu xuân
Nhân sĩ phải là chiến sĩ”13.
Văn hóa ở trong chính trị tức văn hóa phải là “vũ khí sắc bén trong sự
nghiệp phò chính trị trừ tà”; “anh chị em văn hóa và trí thức quyết tâm không
chịu làm nô lệ”, “phải xây đắp một nền văn hóa kháng chiến kiến quốc thiết
thực và rộng rãi, để giúp sự nghiệp kháng chiến kiến quốc của toàn dân”. Văn
hóa là một mặt trận nên có tính chất phức tạp của “mặt trận” và chiến sĩ trên
mặt trận đó cần có những đức tính của người chiên sĩ như “lập trường đúng,
tư tưởng đúng, hiểu thấu, liên hệ và đi vào cuộc sống của nhân dân” để bày
tỏ cái tinh thần kiên quyết và anh hùng của quốc dân ta, đồng thời để giúp
phát triển và nâng cao tinh thần ấy. Chiên sĩ văn hóa phải là những người
dũng cảm, kiên cường để chống lại những lực lương phản văn hóa.
Không nên hiểu một cách một cách hạn hẹp về nội dung khái niệm
“mặt trận văn hóa” và “chiến sĩ văn hóa”. đừng bao giờ nghĩ rằng tư tưởng
đó chỉ có ý nghĩa trong thời kỳ “kháng chiến kiến quốc”. Đây là một luận
điểm khoa học soi sáng thời đại, mang tầm nhân loại và có ý nghĩa lớn lao
đối với hạnh phúc và nền văn minh của loài người trên hành tinh. Chúc
mừng hội nghị các nhà văn Á - Phi tại thủ độ Ai Cập, Hồ Chí Minh viết:
“…Cây bút phục vụ chính nghĩa trong tay nhà văn chiến đấu có một lực
lượng cực kỳ mạnh mẽ…Hội nghị sẽ làm cho các nhà văn góp phần xứng
đáng trong phong trào chống chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa thực dân,
đoàn kết các dân tộc để đấu tranh cho độc lập, hòa bình, dân chủ và hạnh
phúc cho cả loài người trên thế giới” 14.
Hồ Chí Minh: Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận, Nxb. Văn học, H, 1981,tr.361.
Hồ Chí Minh: Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận, Nxb. Văn học, H, 1981,tr. 356.
14 Hồ Chí Minh: Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận, Nxb. Văn học, H, 1981,tr.356.
12

13

15

Hồ Chí Minh: Toàn tập, xuất bản lần thứ hai, Nxb. CTQG, H, 1995, t5, tr. 248.


nguồn nhựa sống. Còn nếu nhà văn quên điều đó - nhân dân cũng quên anh
ta. Người cho rằng: “Muốn xây dựng xã hội chủ nghĩa phải có tinh thần xã
hội chủ nghĩa, muốn có tinh thần xã hội chủ nghĩa phải đánh bại chủ nghĩa
cá nhân”16. Văn hoá là sự nuôi dưỡng những giá trị người, Người nói:
“Làm cán bộ tức là suốt đời làm đày tớ trung thành của nhân dân” 17. Về
Vai trò của giáo dục và tự giáo dục trong phát triển nhân cách Người cho
rằng: “Văn hoá phải thiết thực phục vụ nhân dân, góp phần vào việc nâng
cao đời sống vui tươi, lành mạnh của quần chúng. Vì vậy, nội dung văn
hoá phải có ý nghĩa giáo dục” 18.
Như vậy, những nét đặc sắc trong tư tưởng triết học Hồ Chí Minh về
văn hoá thể hiện: thứ nhất, tính triết luận và biện chứng sâu sắc, Người nói:
Chúng ta không chống mượn tiếng ngoại quốc để làm cho tiếng ta đầy đủ
thêm. Nhưng chúng ta phải chống cách mượn không phải lối, mượn đến nỗi
bỏ cả tiếng ta, đến nỗi quần chúng không hiểu; không chú ý đến đặc điểm
của dân tộc mình trong khi học tập kinh nghiệm của các nước anh em, là
sai lầm nghiêm trọng, là phạm chủ nghĩa giáo điều. Nhưng nếu quá nhấn
mạnh đặc điểm dân tộc để phủ nhận giá trị phổ biến của những kinh
nghiệm lớn, cơ bản của các nước anh em, thì sẽ mắc sai lầm nghiêm trọng
của chủ nghĩa xét lại; thứ hai, tính dung dị, gần gũi với nhân dân, Người
nói: cán bộ đi làm việc chỗ nào, phải học tiếng ở đấy; không riêng gì viết
sách viết báo, mà công tác gì muốn làm tốt đều phải coi trọng ý kiến của
nhân dân; tuyên truyền huấn luyện không nên nói trên trời dưới đất, nào là
khách quan, chủ quan, nào là tích cực, tiêu cực, không đâu vào đâu cả; thứ
ba, bản sắc dân tộc đậm nét, Người nói: tiếng nói là thứ của cải vô cùng lâu
đời và vô cùng quý báu của dân tộc. Chúng ta phải giữ gìn nó, quý trọng

mạng trong điều kiện thực tế là Người và Đảng ta đưa phong trào yêu nước
của nhân dân Việt Nam vào quỹ đạo cách mạng xã hội chủ nghĩa. Quân đội ta
có những quan hệ kiểu mới khác hẳn với mọi thứ quân đội của giai cấp áp bức
và bóc lột. Đó là quan hệ đoàn kết nội bộ, đoàn kết quân dân, đoàn kết quốc
tế, dân chủ rộng rãi đi đôi với kỷ luật tự giác nghiêm minh.

19

Hồ Chí Minh: Toàn tập, t9, tr. 128.


Về quan hệ nội bộ của lực lượng vũ trang, Hồ Chí Minh nhấn mạnh:
“Cán bộ phải thương yêu đội viên…Cán bộ có thân đội viên như chân tay, thì
đội viên mới thương cán bộ như ruột thịt…có như thế thì chỉ thị, mệnh lệnh
và kế hoạch cấp trên đưa xuống đội viên sẽ tích cực và triệt để chấp hành”.
Người cán bộ bất kỳ ở cương vị nào “từ tiểu đội trưởng trở lên, từ tổng tư
lệnh trở xuống phải chăm sóc đời sống vật chất, tinh thần của đội viên. Bộ đội
chưa ăn cơm cán bộ không được kêu mình đói…Bộ đội chưa đủ chỗ ở, cán bộ
không được kêu mình mệt. Thề mới dân chủ, mới đoàn kết, mới tất thắng” 20.
Đối với quan hệ quân dân, Hồ Chí Minh nói: “Nhân dân là nền tảng là cha mẹ
bộ đội”. Quân dội nhân dân do dân đẻ ra, vì nhân dân mà chiến đấu. Người
căn dặn bộ đội: “Mình đánh giặc là vì nhân dân, nhưng mình không phải là
“cứu tinh” của dân, mà mình có trách nhiệm phụng sự nhân dân”. Đó là,
những tư tưởng văn hóa đặt trong từng mối quan hệ của người quân nhân, là
đặc sắc văn hóa trong xây dựng Quân đội ta hiện nay.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội phải có
con người mới xã hội chủ nghĩa”, con người mới xã hội chủ nghĩa là một
nhân cách tổng hợp của các yếu tố, đó hệ tư tưởng, phẩm chất chính trị, lối
sống, thế giới quan, nhân sinh quan, đó là biểu hiện những giá trị văn hóa của
con người Việt Nam nói chung và lực lượng vũ trang nói riêng. Từ chiều sâu

Xây dựng quân đội tinh nhuệ trước hết phải tinh nhuệ về chính trị, tư
tưởng và văn hoá, đồng thời phải có tri thức toàn diện về khoa học nghệ thuật
quân sự. Không có một quân đội tinh nhuệ mà trình độ tri thức chưa hòa nhập
được với mặt bằng chung của xã hội, tri thức đó vừa là yêu cầu của việc xây
dựng quân đội tinh nhuệ đồng tời nó lại là thành tố của văn hóa và là đòi hỏi
cấp bách đối với cán bộ chiến sỹ trong giai đoạn cách mạng hiện nay.
Xây dựng quân đội tinh nhuệ là nói tới sự tinh thông về kỹ thuật, là khả
năng nắm vững khoa học, nghệ thuật quân sự để chiến đấu và chiến thắng bất
cứ kẻ thù nào. Trình độ tinh nhuệ về quân sự phải dựa trên nền tảng vững
chắc của văn hóa thì mới bền chắc, mới phát huy được sức mạnh vật chất của
quân đội. Nếu thiếu cái nền văn hóa, xa rời bản chất cách mạng thì khi có
trình độ kỹ thuật giỏi, trang bị vũ khí hiện đại lại không bảo vệ được thành
quả cách mạng. Trong lịch sử chiến tranh có những quân đội nhà nghề, đội


quân đánh thuê, với trang bị vũ khí hiện đại, kỷ luật hà khắc nhưng lại bị thất
bại vì thiếu cái nền văn hóa, đó là đội quân xâm lược, phản động có lối thấp
hèn.
Phát huy bản chất truyền thống của quân đội trên nền tảng văn hóa dân
tộc chúng ta luôn coi trọng đề cao tư tưởng, đạo đức tác phong Hồ Chí Minh nét đặc trưng của nền văn hóa Việt Nam, là chuẩn mực, là tiêu chí để học tập,
rèn luyện. Đồng thời tích cực đẩy mạnh phong trào xây dựng môi trường văn
hóa quân sự ở mỗi đơn vị, nhà trường trong toàn quân. Văn hóa gắn với chính
trị và phục vụ chính trị, môi trường văn hóa quân sự đóng vai trò hết sức quan
trọng trong việc giáo dục, xây dựng phẩm chất nhân cách quân nhân. Do đó,
cuộc vận động xây dựng môi trường văn hóa, thực chất là cuộc đấu tranh giai
cấp trên mặt trận văn hóa tư tưởng. Chỉ có ở một tập thể quân nhân có mục
đích và lý tưởng sống cao cả, có bầu không khí dân chủ, đoàn kết, giầu lòng
nhân ái, thấm đượm tình cảm đồng chí đồng đội, có nề nếp chính quy, có văn
hóa thẩm mỹ cao đẹp, thì mới xây dựng được đơn vị vững mạnh tòn diện.
Sự hình thành những phẩm chất và giá trị văn hóa cao đẹp của con





Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status