TÀI LIỆU THAM KHẢO TIỂU LUẬN môn LỊCH sử tâm LÝ HỌC NHỮNG TIỀN đề tư TƯỞNG CỦA TRIẾT HỌC MÁC XÍT TRONG xây DỰNG nền tâm LÝ HỌC MÁC XÍT ở VIỆT NAM - Pdf 41

MỞ ĐẦU
Triết học Mác kế thừa và phát triển những thành tựu quan trọng nhất
của tư duy nhân loại, sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật biện chứng trong việc xem
xét tự nhiên cũng như đời sống xã hội và tư duy con người. Trong triết học
Mác, lý luận duy vật biện chứng và phơng pháp biện chứng duy vật thống
nhất hữu cơ với nhau. Sự thống nhất đó làm cho chủ nghĩa duy vật trở nên
triệt để và phép biện chứng trở thành lý luận khoa học. Nhờ đó, triết học Mác
có khả năng nhận thức đúng đắn tự nhiên, xã hội và tư duy. Phép biện chứng
duy vật không chỉ là lý luận về phương pháp mà còn là lý luận về thế giới
quan. Hệ thống quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng trở thành nhân
tố định hướng cho hoạt động nhận thức và thực tiễn, trở thành những nguyên
tắc xuất phát điểm của phương pháp luận. Như vậy, trong triết học Mác thế
giới quan và phương pháp luận thống nhất hữu cơ với nhau, làm cho triết học
Mác trở thành chủ nghĩa duy vật hoàn bị, một "công cụ nhận thức vĩ đại".
Triết học Mác ra đời đã làm thay đổi mối quan hệ giữa triết học và
khoa học; sự phát triển của khoa học tạo điều kiện cho sự phát triển của triết
học. Ngược lại, triết học Mác đem lại thế giới quan và phương pháp luận
đúng đắn cho sự phát triển khoa học. Tâm lý học ra đời cũng dựa trên những
cơ sở lý luận và phương pháp luận vững chắc của triết học Mác mà cụ thể đó
là lý luận của học thuyết mác-xít về vấn đề bản chất con người, về vấn đề
hoạt động, về ý thức con người.
Năm 1879 đánh dấu một bước ngoặc vĩ đại, một mốc son chói lọi trong
quá trình phát triển của ngành Tâm lý học, W. Wundt đã thành lập phòng thực
nghiệm tâm lý đầu tiên trên thế giới và công bố cương lĩnh mới về việc xây
dựng khoa học tâm lý. Tâm lý học từ đây tồn tại với tư cách là một khoa học
độc lập với các nghiên cứu thực nghiệm được tiến hành độc lập. Năm 1880,
Viện Tâm lý học đầu tiên trên thế giới cũng được thành lập nhằm đào tạo
nguồn nhân lực tâm lý cho các nước trên thế giới, nhiều nhà Tâm lý học nổi
1



lập và sau đó lan rộng trong các nước Âu, Mỹ. Các trường phái tâm lý học nổi
tiếng thời kỳ này như: Tâm lý học Gestalt; Tâm lý học hành vi; Phân tâm học
và nhiều dòng phái Tâm lý học khác đã có ở đầu thế kỷ XX không đáp ứng
được những đòi hỏi của thực tiễn cuộc sống. các trường phái tâm lý học khách
quan đã có đóng góp không nhỏ trong việc tìm kiếm con đường phát triển mới
cho tâm lý học. Những thành tựu mà các trường phái này đạt được có ý nghĩa vô
cùng to lớn đối với sự phát triển của khoa học tâm lý. Tuy nhiên, do điều kiện xã
hội lịch sử, do thiếu những cơ sở lý luận và phương pháp luận đúng đắn, các dòng
phái tâm lý học này còn có những hạn chế nhất định, không thực hiện được cuộc
cách mạng để đưa tâm lý học trở thành một khoa học thực sự khách quan, đúng
như GS, VS Phạm Minh Hạc đã viết trong tác phẩm “Hành vi và hoạt động”:
“tâm lý học phân tâm mới bước lên đường xây dựng tâm lý học khách quan,
nhưng với các quan điểm cơ bản về con người và tâm lý người còn chưa thoát
khỏi phạm vi của thuyết sinh vật hóa con người và tâm lý người, chưa thấy được
bản chất xã hội – lịch sử của con người và tâm lý người. Cho nên tâm lý học phân
tâm, cũng như tâm lý học hành vi và tâm lý học Gestalt đều không đạt tới đích
thực sự nghiên cứu thế giới tâm lý trong cuộc sống thực của con người”. Chính vì
vậy đã dẫn đến cuộc khủng hoảng lần thứ hai trong tâm lý học thế giới hay còn
gọi là cuộc khủng hoảng của tâm học tư sản hiện đại mà thực chất là sự bế tắc
trong việc xác định phương hướng cho sự phát triển tâm lý học cụ thể là là bế tắc
trong việc xác định cơ sở phương pháp luận, phương pháp tiếp cận để nghiên cứu
tâm lý và quan niệm về bản chất tâm lý cũng như đối tượng nghiên cứu của tâm lý
học. X.L.Rubinstêin đã nhận xét: “Trong tâm lý học, cuộc khủng hoảng đó dẫn tới
chỗ chia ra nhiều thứ tâm lý học, còn các nhà tâm lý học thì chia thành nhiều
trường phái đối địch nhau. Do đó, cuộc khủng hoảng trong Tâm lý học mang một

3


tính chất gay gắt và công khai đến mức các đại biểu nổi tiếng nhất của khoa Tâm

từ những cơ sở nền tảng của nó. Bằng các lập luận sắc sảo thuyết phục
Vưgốtski đã đưa ra các nhận xét, đánh giá và đề xuất cách tháo gỡ tình trạng
khủng hoảng trong tâm lý học hiện thời, khẳng định sự cần thiết phải xây dựng
một nền tâm lý học thực sự khách quan khoa học, trong đó: Nền tâm lý học
mới phải nghiên cứu cả hành vi lẫn ý thức. Nhưng cả hành vi lẫn ý thức đều là
vấn đề vô cùng phức tạp. Ý thức và hành vi đều cùng tồn tại một cách khách
quan có thực, đều có vai trò quan trọng trong cuộc sống của con người. Muốn
hiểu được ý thức thì phải hiểu hành vi và ngược lại khi xét đến hành vi, không
thể không xét đến ý thức. Với phạm trù hành vi, không được hiểu như tâm lý
học hành vi đã hiểu trong đó quan niệm hành vi là tổ hợp của các phản xạ, là
phản ứng máy móc nhằm giúp cơ thể thích nghi với môi trường. Hành vi theo
ông đó là “cuộc sống”, là “lao động”, là “thực tiễn”. Hành vi chính là hoạt
động thực tiễn của con người. Cần phải nghiên cứu hành vi ở chỗ làm rõ cơ
chế, thành phần và cấu trúc của nó. Phạm trù phản xạ là cần thiết nhưng không
thể lấy phản xạ là khái niệm cơ bản của tâm lý học. Với con người, ông quan
niệm không thể nghiên cứu hoàn toàn bằng chìa khoá phản xạ có điều kiện.
Tâm lý học không được loại bỏ ý thức trong nghiên cứu tâm lý mà cần phải vật
chất hoá nó, không được coi ý thức là một loại hiện tượng thứ yếu. Muốn
nghiên cứu ý thức thì phải nghiên cứu cấu trúc của hành vi. “Ý thức là một vấn
đề của cấu trúc hành vi”. Hành vi của con người khác hành vi của con vật ở
chỗ trong hành vi của con người có sự kế thừa các kinh nghiệm: kinh nghiệm
lịch sử, kinh nghiệm xã hội và kinh nghiệm đã được tăng cường. Thông qua bài
báo đã nêu trên và qua nhiều công trình nghiên cứu khác Vưgốtxki xác định
phương pháp nghiên cứu tâm lý: Nghiên cứu tâm lý người bằng phương pháp
hoạt động. Tâm lý con người được tồn tại thể hiện trong hoạt động.
Đến năm 1934, X.L. Rubinstêin (1889 –1960) viết tác phẩm “ Những
vấn đề Tâm lý học trong các tác phẩm của C.Mác”. Tác phẩm này có ý
nghĩa quan trọng về mặt phương pháp luận và tạo tiền đề xây dựng nền tâm
5


X.L. Rubinstêin, Những vấn đề Tâm lý học trong các tác phẩm của C.Mác,Học viện CTQS, 1984, tr 25.

6


tất cả bản tính sinh học, tính loài của nó. Yếu tố sinh học trong con người là
điều kiện đầu tiên quy định sự tồn tại của con người. Vì vậy, có thể nói: Giới
tự nhiên là "thân thể vô cơ của con người"; con người là một bộ phận của tự
nhiên; là kết quả của quá trình phát triển và tiến hoá lâu dài của môi trường tự
nhiên. Tuy nhiên, điều cần khẳng định rằng, mặt tự nhiên không phải là yếu tố
duy nhất quy định bản chất con người. Đặc trưng quy định sự khác biệt giữa
con người với thế giới loài vật là phương diện xã hội của nó. Trong lịch sử đã
có những quan niệm khác nhau phân biệt con người với loài vật, như con
người là động vật sử dụng công cụ lao động, là "một động vật có tính xã hội",
hoặc con người động vật có tư duy... Những quan niệm trên đều phiến diện
chỉ vì nhấn mạnh một khía cạnh nào đó trong bản chất xã hội của con người
mà chưa nêu lên được nguồn gốc của bản chất xã hội ấy.
Với phương pháp biện chứng duy vật, triết học Mác nhận thức vấn đề
con người một cách toàn diện, cụ thể, trong toàn bộ tính hiện thực xã hội của
nó, mà trước hết là lao động sản xuất ra của cải vật chất. "Có thể phân biệt
con người với súc vật, bằng ý thức, bằng tôn giáo, nói chung bằng bất cứ cái
gì cũng được. Bản thân con người bắt đầu bằng sự tự phân biệt với súc vật
ngay khi con người bắt đầu sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình - đó
là một bước tiến do tổ chức cơ thể của con người quy định. Sản xuất ra những
tư liệu sinh hoạt của mình, như thế con người đã gián tiếp sản xuất ra chính
đời sống vật chất của mình". Thông qua hoạt động sản xuất vật chất; con
người đã làm thay đổi, cải biến giới tự nhiên: "Con vật chỉ sản xuất ra bản
thân nó, còn con người thì tái sản xuất ra toàn bộ giới tự nhiên"
Tính xã hội của con người biểu hiện trong hoạt động sản xuất vật chất;
hoạt động sản xuất vật chất biểu hiện một cách căn bản tính xã hội của con

quan hệ xã hội. Từ những quan niệm đã trình bày ở trên, chúng ta thấy rằng,
con người vượt lên thế giới loài vật trên cả ba phương diện khác nhau: quan
hệ với tự nhiên, quan hệ với xã hội và quan hệ với chính bản thân con người.
Cả ba mối quan hệ đó, suy đến cùng, đều mang tính xã hội, trong đó quan hệ
8


xã hội giữa người với người là quan hệ bản chất, bao trùm tất cả các mối quan
hệ khác và mọi hoạt động trong chừng mực liên quan đến con người. Bởi vậy,
để nhấn mạnh bản chất xã hội của con người, C.Mác đã nêu lên luận đề nổi
tiếng trong tác phẩm Luận cương về Phoiơbắc: "Bản chất con người không
phải là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt. Trong tính hiện thực
của nó, bản chất con người là tổng hoà những quan hệ xã hội".
Luận đề trên khẳng định rằng, không có con người trừu tượng, thoát ly
mọi điều kiện, hoàn cảnh lịch sử xã hội. Con người luôn luôn cụ thể, xác
định, sống trong một điều kiện lịch sử cụ thể nhất định, một thời đại nhất
định. Trong điều kiện lịch sử đó, bằng hoạt động thực tiễn của mình, con
người tạo ra những giá trị vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển cả thể
lực và tư duy trí tuệ. Chỉ trong toàn bộ các mối quan hệ xã hội đó (như quan
hệ giai cấp, dân tộc, thời đại; quan hệ chính trị, kinh tế; quan hệ cá nhân, gia
đình, xã hội...) con người mới bộc lộ toàn bộ bản chất xã hội của mình. Điều
cần lưu ý là luận đề trên khẳng định bản chất xã hội không có nghĩa là phủ
nhận mặt tự nhiên trong đời sống con người. Song, ở con người, mặt tự nhiên
tồn tại trong sự thống nhất với mặt xã hội; ngay cả việc thực hiện những nhu
cầu sinh vật ở con người cũng đã mang tính xã hội. Quan niệm bản chất con
người là tổng hoà những quan hệ xã hội mới giúp cho chúng ta nhận thức
đúng đắn, tránh khỏi cách hiểu thô thiển về mặt tự nhiên, cái sinh vật ở con
người.
Con người là chủ thể và là sản phẩm của lịch sử. Học thuyết Mác xít về
con người khẳng định con người gắn với tính tích cực hoạt động cải tạo hiện

triển từ thấp đến cao, phù hợp với mục tiêu và nhu cầu do con người đặt ra.
Không có hoạt động của con người thì cũng không tồn tại quy luật xã hội, và
do đó, không có sự tồn tại của toàn bộ lịch sử xã hội loài người. Không có con
người trừu tượng, chỉ có con người cụ thể trong mỗi giai đoạn phát triển nhất
2

Các Mác - Ph. Ăngghen, Tuyển tập, Tập 2, Nxb ST, H. 1971, Tr 491
Các Mác, Tư bản, Quyển 1, Tập 1, Nxb ST, H.1959, Tr 247.
4
Ph.Ăngghen, Biện chứng của tự nhiên, NxbST,H.1963, Tr 283.
3

10


định của xã hội. Do vậy, bản chất con người, trong mối quan hệ với điều kiện
lịch sử xã hội luôn luôn vận động biến đổi, cũng phải thay đổi cho phù hợp.
Bản chất con người không phải là một hệ thống đóng kín, mà là hệ thống mở,
tương ứng với điều kiện tồn tại của con người. Mặc dù là "tổng hoà các quan
hệ xã hội", con người có vai trò tích cực trong tiến trình lịch sử với tư cách là
chủ thể sáng tạo. Thông qua đó, bản chất con người cũng vận động biến đổi
cho phù hợp. Có thể nói rằng, mỗi sự vận động và tiến lên của lịch sử sẽ quy
định tương ứng (mặc dù không trùng khớp) với sự vận động và biến đổi của
bản chất con người.
Vì vậy, để phát triển bản chất con người theo hướng tích cực, cần phải
làm cho hoàn cảnh ngày càng mang tính người nhiều hơn. Hoàn cảnh đó
chính là toàn bộ môi trường tự nhiên và xã hội tác động đến con người theo
khuynh hướng phát triển nhằm đạt tới các giá trị có tính mục đích, tự giác, có
ý nghĩa định hướng giáo dục. Thông qua đó, con người tiếp nhận hoàn cảnh
một cách tích cực và tác động trở lại hoàn cảnh trên nhiều phương diện khác

hội của con người nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội.
Hoạt động là hoạt động bản chất của con người. Nếu con vật chỉ hoạt
động theo bản năng nhằm thích nghi một cách thụ động với thế giới bên
ngoài, thì con người nhờ hoạt động thực tiễn là hoạt động có mục đích, có
tính xã hội của mình mà cải tạo thế giới để thỏa mãn nhu cầu của mình, và để
làm chủ thế giới. Trong qúa trình hoạt động thực tiễn con người đã tạo ra
được một “thiên nhiên thứ hai” của mình, một thế giới của văn hóa tinh thần
và vật chất, những điều kiện mới cho sự tồn tại và phát triển của con người
vốn không có sẵn trong tự nhiên. Vì vậy, không có hoạt động, con người và
xã hội loài người không thể tồn tại và phát triển được. Hoạt động là phương
thức tồn tại cơ bản của con người và xã hội, là phương thức đầu tiên, chủ yếu
của mối quan hệ giữa con người và thế giới. Hoạt động có mối quan hệ biện
chứng với hoạt động nhận thức. Trong mối quan hệ với nhận thức, vai trò của
thực tiễn được biểu hiện trước hết ở chỗ, thực tiễn là cơ sở, động lực chủ yếu
12


và trực tiếp của nhận thức, Ăngghen khẳng định“chính việc người ta biến đổi
tự nhiên, chứ không phải chỉ một mình giới tự nhiên, với tính cách giới tự
nhiên, là cơ sở chủ yếu nhất và trực tiếp của tư duy con người, và trí tuệ con
người đã phát triển song song với việc người ta cải biến tự nhiên”.
Con người quan hệ với thế giới không phải bắt đầu bằng lý luận mà
bằng thực tiễn. Chính từ trong qúa trình hoạt động cải tạo thế giới mà nhận
thức của con người được hình thành, phát triển. Thông qua hoạt động con
người tác động vào thế giới buộc thế giới phải bộ lộ ra những thuộc tính,
những tính quy luật để con người nhận thức chúng. Thoát ly thực tiễn, nhận
thức đã thoát ly khỏi mảnh đất hiện thực nuôi dưỡng nó phát triển vì thế
không thể đem lại những tri thức sâu sắc, xác thực, đúng đắn về sự vật, sẽ
không có khoa học, không có lý luận. Trong qúa trình hoạt động cải biến thế
giới, con người cũng biến đổi luôn cả bản thân mình, thực tiễn rèn luyện các

lượng bản chất người. Đối với C.Mác, toàn bộ hoạt động của con người là sự
đối tượng hoá của bản thân con người, hay nói cách khác, là quá trình bộc lộ
ra khách quan của những lực lượng bản chất của con người. Trong tác phẩm
Tư bản, khi phân tích lao động C.Mác đã nói giản đơn rằng, trong lao động
“chủ thể di chuyển vào khách thể”. Như vậy hoạt động của con người không
phải là phản ứng của cơ thể đối với kích thích bên ngoài như tâm lý học hành
vi quan niệm, cũng không phải là một việc làm theo lối thao tác bên ngoài của
chủ thể đối với khách thể, mà nó là sự di chuyển của chủ thể vào khách thể.
Bản thân quan niệm về hoạt động như là sự đối tượng hoá đã chứa đựng tư
tưởng đó. Đồng thời C.Mác cũng có ý tưởng về chủ thể. C.Mác nhấn mạnh:
“Hoạt động và đối tượng thâm nhập lẫn vào nhau”. Bởi vì hoạt động của con
người là sự đối tượng hoá, là sự khách thể hoá con người, hoặc là sự di
chuyển chủ thể vào khách thể, là sự phát lộ ra trong các đối tượng của hoạt
động những lực lượng bản chất của con người, trong đó có tình cảm và ý
thức. C.Mác viết: “Sự tồn tại đối tượng hoá đã hình thành của công nghiệp là
quyển sách đã mở ra của những lực lượng bản chất của con người, là tâm lý
5

C.Mác, Bản thảo Kinh tế – Triết học năm 1844, Nxb Sự Thật, H.1962, tr194.

14


con người bày ra trước mắt chúng ta một cách cảm tính:” 6. Vì vậy C.Mác viết
tiếp: “Tâm lý học - quyển sách ấy, nghĩa là chính cái bộ phận dễ cảm thấy
nhất, dễ tiếp xúc nhất của lịch sử không mở ra cho tâm lý học này- không thể
trở thành khoa học thực sự có nội dung phong phú và hiện thực” 7. Như vậy,
theo luận điểm của C.Mác về hoạt động của con người thì mối quan hệ qua lại
giữa con người với môi trường xung quanh được xác định là sự tác động qua
lại có nội dung hoạt động. Tác động là cái thứ nhất, tâm lý là cái thứ hai. Sự

định mình như là những lực lượng bản chất của con người” 8. Như vậy sự đối
tượng hoá bản chất con người là tất yếu – xét về phương diện lý luận cũng
như phương diện thực tiễn, như C.Mác nói: “để một mặt nhân loại hoá cảm
giác của con người, và mặt khác sáng tạo cảm giác con người tương ứng với
toàn bộ sự phong phú của bản chất nhân loại và tự nhiên” 9. Theo cách nói của
C.Mác thì “bằng cách biến đổi tự nhiên bên ngoài con người, đồng thời con
người biến đổi bản tính của chính mình”. Có nghĩa là tâm lý, ý thức con
người hình thành không phải theo cách âm thầm, tự hiểu, không bộc lộ ra,
không phải trong trạng thái vô vị không hoạt động, mà là trong lao động,
trong bản thân hoạt động cải tạo thế giới của con người.
Trong các tác phẩm của C.Mác, mặc dù không phải là những tác phẩm
chuyên về tâm lý học, nhưng bằng cách phân tích, lập luận khoa học, có dẫn
chứng, kết hợp với so sánh, phê phán những sai lầm của các quan điểm triết
học khi nghiên cứu về hoạt động của con người, C.Mác đã khai thông bế tắc
về mặt phương pháp luận trong nghiên cứu hoạt động của con người. Theo
quan điểm của C.Mác thì sự tác động qua lại có nội dung hoạt động giữa con
người và thế giới bên ngoài được xem như là quá trình đối tượng hoá chủ thể
(con người tạo ra sản phẩm) và quá trình chủ thể hóa đối tượng (con người
lĩnh hội các thao tác nằm trong đối tượng, các quan hệ sau đối tượng). Quá
trình thứ nhất là quá trình con người dùng tri thức, kỹ năng, kỹ xảo… của
mình để tham gia vào việc sáng tạo ra thế giới đối tượng. Quá trình thứ hai
được hiểu là quá trình hình thành tâm lý, ý thức, chính là hình thành tri thức,
kỹ năng, kỹ xảo… của con người - hình thành nhân cách nói chung. Nếu gọi
quá trình thứ nhất là quá trình “xuất tâm” thì quá trình thứ hai được gọi là quá
trình “nhập tâm”. Quá trình thứ nhất là quá trình sáng tạo, còn quá trình thứ
hai là quá trình lĩnh hội. Hai quá trình này có quan hệ biên chứng với nhau,
8
9

C.Mác, Bản thảo Kinh tế – Triết học năm 1844, Nxb Sự Thật, H.1962, tr137

một hệ thống vật này ở hệ thống vật chất khác trong quá trình tác động qua
lại của chúng. Thuộc tính phản ánh của vật chất có quá trình phát triển lâu dài
từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp. Là hình thức cao nhất của sự phản
17


ánh thế giới hiện thực, ý thức chỉ nảy sinh ở giai đoạn phát triển cao của thế
giới vật chất, cùng với sự xuất hiện của con người..ý thức là ý thức của con
người, nằm trong con người, không thể tách rời con người.
Ý thức ra đời là kết quả phát triển lâu dài của thuộc tính phản ánh của
vật chất, nội dung của nó là thông tin về thế giới bên ngoài, về vật được phản
ánh. Ý thức là sự phản ánh thế giới bên ngoài vào trong bộ óc người. Bộ óc
người là cơ quan phản ánh, song chỉ riêng bộ óc người thôi thì chưa thể có ý
thức. Không có sự tác động của thế giới bên ngoài lên các giác quan và qua
đó đến bộ óc thì hoạt động ý thức không thể xảy ra. Như vậy, bộ óc người
cùng với thế giới bên ngoài tác động lên bộ óc, đó là nguồn gốc tự nhiên của
ý thức.
Nguồn gốc xã hội: Để ý thức ra đời, những tiền đề, nguồn gốc tự nhiên
là rất quan trọng, không thể thiếu được, song chưa đủ. Điều kiện quyết định
cho sự ra đời của ý thức là những tiền đề, nguồn gốc xã hội. Sự ra đời của bộ
não người cũng như sự hình thành con người và xã hội loài người nhờ hoạt
động lao động và giao tiếp xã hội bằng ngôn ngũ. Lao động và ngôn ngữ là
nguồn gốc xã hội của ý thức. Lao động là hoạt động đặc thù của con người,
nhờ lao động mà năng lực phản ánh của bộ óc người ngày càng phát triển.
Loài vật tồn tại nhờ vào những vật phẩm có sẵn trong tự nhiên dưới dạng trực
tiếp. Còn loài người thì khác hẳn. Những vật phẩm cần thiết cho sự sống
thường không có sẵn trong tự nhiên. Con người phải tạo ra những vật phẩm
ấy. Chính trong quá trình lao động đã từng bước hoàn thiện con người, làm
biến đổi con người và làm cho con người ngày càng nhận thức sâu sắc hơn về
thế giới. Thông qua lao động làm cho thế giới khách quan bộc lộ bản chất quy

định ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong đầu óc con người
một cách tích cực, chủ động, sáng tạo. Bản chất của ý thức là hình ảnh chủ quan
của thế giới khách quan.
Ý thức là hình ảnh của sự vật, là sự phản ánh thế giới khách quan được
thực hiện trong não người, gắn liền hoạt động khái quát hóa, trừu tượng hóa,
19


có tính định hướng, có lựa chọn nhằm sáng tạo ra những tri thức về sự vật
hiện tượng của thế giới khách quan. Nội dung của ý thức do thực tại khách
quy định. Thực tại khách quan giống như bản chính, còn ý thức giống như
bản sao. Ý thức là sự phản ánh thế giới khách quan thông qua lăng kính chủ
quan của mỗi người, gắn liền với hoạt động thực tiễn của con người.
Ý thức là phản ánh chủ quan của thế giới khách quan nhưng là sự phản
ánh mang tính tính sáng tạo, tích cực về thế giới khách quan. Phản ánh của ý
thức là sự sáng tạo do nhu cầu thực tiễn quy định. Phản ánh của ý thức là tích
cực chủ động sáng tạo vì phản ánh bao giờ cũng dựa trên hoạt động thực tiễn
xã hội và là sản phẩm của quan hệ xã hội, chịu sự chi phối chủ yếu của các
quy luật xã hội do nhu cầu giao tiếp xã hội và các điều kiện sinh hoạt hiện
thực của con người quy định. Do vậy, ý thức mang bản chất xã hội.
Sự phản ánh của ý thức mang dấu ấn của chủ thể phản ánh. Theo quan
điểm của triết học Mác, qua quá trình phản ánh của ý thức là quá trình cái vật
chất di chuyển vào óc người và được cải biến trong đó. Do đó, sự phản ánh
của ý thức phụ thuộc vào bản thân chủ thể trong quá trình phản ánh thế giới
khách quan. Sự phản ánh phụ thuộc vào trình độ năng lực chủ thể trong quá
trình phản ánh. Trình độ năng lực của chủ thể chính là tri thức của chủ thể, sự
hiểu biết của chủ thể về tự nhiền và xã hội. Trình độ của chủ thể càng cao thì
phản ánh càng đúng đắn thế giới vật chất ; người có trình độ hiểu biết cao sẽ
nhận thức đúng về thế giới và điều chỉnh hành vi của mình trong hoạt động
thực tiễn. Sự phản ánh phụ thuộc vào kinh nghiệm của chủ thể; kinh nghiệm ở

định sự tồn tại của vật chất không phụ thuộc vào cảm giác”. Còn nội dung của
ý thức, bắt nguồn từ những biến đổi trong quan hệ thực của con người với
hoàn cảnh, điều kiện sống cụ thể của mỗi cá nhân, như X.L.Rubinstêin nhấn
mạnh “Đó là điểm có ý nghĩa quyết định về phương pháp luận”(11) .

10

X.L.Runbinstêin, Những vấn đề tâm lý học trong các tác phẩm của Các Mác, trong sách “Tâm lý học những cơ sở lý luận và phương pháp luận”, Học viện chính trị quân sự, H.1984, Tr 38.
11

X.L.Rubinstêin, những vấn đề tâm lý học trong các tác phẩm của Các Mác, Sđd, Tr 43.

21


Theo luận điểm của C.Mác thì tâm lý người hình thành trong quá trình
con người thực hiện hoạt động, qua sản phẩm của hoạt động đó Đồng thời,
tâm lý, ý thức người có tính chất gián tiếp khách quan. Ý thức không phải là
cái tồn tại trong thế giới tâm lý nội tại khép kín, tách biệt, mà là cái tồn tại
thông qua hoạt động thực tiễn trong thế giới khách quan. Tức là, ý thức hình
thành và vận hành trong quá trình chuyển hoá qua lại giữa chủ thể và khách
thể - các quá trình được thực hiện bằng hoạt động của chủ thể. Trong quan hệ
đối với môi trường xung quanh, ý thức và tâm lý không phải là một thứ tinh
thần nào đó có khả năng sáng tạo tuỳ ý, không phải là một cái gì đó hoàn toàn
thụ động, đứng ngoài lề mà phải được coi là một thứ có chức năng tích cực
đối với hoạt động tác động vào thế giới khách quan, cũng chính là tác động
vào chính chủ thể của hoạt động đó Từ hai vấn đề trên rút ra kết luận là chỉ có
thể nhận thức được tâm lý, ý thức thông qua hoạt động của con người và sản
phẩm của hoạt động đó. Vì hoạt động và sự sử dụng thành quả của hoạt động
cả về nội dung lẫn phương thức tồn tại đều có tính chất xã hội. C.Mác khẳng

và tính ý chí, đó chính là những nét định tính cho hoạt động của con người
trong sự khác biệt hẳn với hành vi của con vật”13. Từ đó có thể khắc phục
được quan niệm máy móc về hành động của con người theo cách hiểu của chủ
nghĩa hành vi. Đồng thời tâm lý, ý thức trở thành đối tượng thực của một nền
tâm lý học có thực, một nền tâm lý học có nội dung khác hẳn trào lưu hành vi
chủ nghĩa là học thuyết đã loại trừ tâm lý và ý thức ra ngoài phạm vi nghiên
cứu, cũng như vượt lên trên quan niệm nội quan của tâm lý học cũ trước Mác
- xít về tâm lý và ý thức.
Tóm lại, học thuyết Mác - xít về bản chất con người, hoạt động, ý thức
của con người được vận dụng vào tâm lý học có thể khái quát như sau:
Thứ nhất, Muốn tìm hiểu đời sống tâm lý con người, trước hết phải có
quan niệm đúng về con người, đó là con người tồn tại với tư cách là sản phẩm
và là chủ thể tích cực của điều kiện xã hội – lịch sử. Tâm lý người được giải
thích bằng nội dung của cả lịch sử xã hội loài người, từ khi hình thành loài
người, qua các hình thái kinh tế xã hội, cũng như trong các điều kiện xã hội
cụ thể mà con người đang sống trong đó. Nghiên cứu tâm lý con người phải
dựa trên quan điểm duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác về con người, lấy con
người làm trung tâm, từ đó đi tìm hiểu cái gọi là “tính người” trong mỗi con
13

X.L. Rubinstêin, Những vấn đề Tâm lý học trong các tác phẩm của C.Mác,Học viện CTQS, 1984, tr 41.

23


người cụ thể, từng xã hội cụ thể. Bên cạnh đó, phải khắc phục những hạn chế
trước đó về cách thức tiếp cận để tìm hiểu, đánh giá tâm lý con người. Muốn
hiểu được tâm lý con người cần phải thoát ra khỏi mối quan hệ của cơ thể với
môi trường tự nhiên đảm bảo sự tồn tại của cơ thể. Nói cách khác, là tâm lý
cần phải thoát ra khỏi vòng cương tỏa của sinh vật luận, tâm lý học phải

diễn ra việc các khách thể có hình thức là những hình tượng chủ quan của
chúng trong đầu óc con người, tức là hình thức ý thức” 14. Điều này nhấn mạnh,
vấn đề ý thức chỉ có thể được làm sáng tỏ khi tiếp cận dưới góc độ hoạt động.
KẾT LUẬN
Với tư cách một học thuyết cách mạng về bản chất, khoa học về thực
chất, triết học Mác không chỉ có giá trị lịch sử, mà còn mang ý nghĩa thời đại,
mang hơi thở và sức sống của thời đại và do vậy, không chỉ trường tồn trong
thế kỷ XXI này, mà còn mãi trường tồn với lịch sử nhân loại. Ý nghĩa thời đại
và sức sống trường tồn của triết học Mác là ở chỗ, các giá trị bền vững trong
hệ thống triết học này đã, đang và vẫn sẽ là cơ sở lý luận nền tảng, phương
pháp luận khoa học để nhận thức và cải tạo thế giới bằng cách mạng; còn
những hạn chế lịch sử trong một số luận điểm, quan điểm, tư tưởng cụ thể nào
đó thì tự thân tính khoa học và bản chất cách mạng của hệ thống triết học này
cũng đặt ra yêu cầu phải bổ sung và phát triển cho phù hợp với điều kiện mới.
Thật vậy, trong thời đại ngày nay, chỉ có triết học Mác mà hạt nhân của
nó là phép biện chứng duy vật mới có khả năng giải đáp một cách khoa học
những vấn đề mà tư tưởng tiến bộ của nhân loại đã đặt ra, soi sáng những
nhiệm vụ lịch sử đã chín muồi của xã hội loài người - giải phóng con người
và nhân loại, cải biến và xây dựng chế độ xã hội mới mà trong đó, tự do, công
bằng, bình đẳng, dân chủ và văn minh là những giá trị nền tảng.
Học thuyết Mác-lênin ra đời với những luận điểm mang tính cách mạng,
khoa học về con người, về thế giới đã tạo bước ngoặt vĩ đại cho lịch sử khoa học
nhân loại, trong đó những lý luận về bản chất con người, về hoạt động của con
người cũng như vấn đề bản chất của ý thức con người là tiền đề, cơ sở trực tiếp
14

Sđd, tr. 36 - 37

25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status