TÀI LIỆU THAM KHẢO sự PHÁT TRIỂN về LÍ LUẬN CHỦ NGHĨA XÃ hội KHOA HỌC CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ đổi mới - Pdf 41

SỰ PHÁT TRIỂN LÍ LUẬN VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC
CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI
1. Bối cảnh lịch sử những năm 90 thế kỷ XX đến nay
* Tình hình thế giới.
Cuối những năm 80 đầu những năm 90 thế kỷ XX, cuộc cách mạng khoa
học – kỹ thuật có sự phát triển vượt bậc, chuyển sang giai đoạn phát triển mới
là cuộc cách mạng khoa học – công nghệ hiện đại. Từ đó đến nay, cuộc cách
mạng khoa học – công nghệ hiện đại với sự bùng nổ của công nghệ thông tin –
Internet, công nghệ sinh học, vật liệu mới, tự động hóa và điều khiển học… đã
tác động mạnh mẽ đến các lĩnh vực đời sống xã hội của mỗi quốc gia cũng như
toàn thế giới.
Toàn cầu hóa ngày càng sâu rộng, xuất hiện và phát triển kinh tế tri
thức, tạo ra cơ hội phát triển cũng như gây ra những hậu quả, khó khăn, thách
thức cho các quốc gia, nhất là các nước đang phát triển.
Trên thế giới, hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ hợp tác và phát triển là
xu thế lớn, nhưng đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc, chiến tranh cục bộ,
xung đột dân tộc, tôn giáo, chạy đua vũ trang, hoạt động can thiệp, lật đổ,
tranh chấp lãnh thổ, tài nguyên và cạnh tranh quyết liệt về kinh tế tiếp tục
diễn ra phức tạp. Chủ nghĩa khủng bố có chiều hướng gia tăng, lan rộng ở
nhiều nơi trên thế giới.
Các mâu thuẫn cơ bản của thời đại mà Hội nghị các Đảng Cộng sản và
công nhân năm 1957, 1960 ở Matxcơva chỉ ra, vẫn tồn tại và có những biểu
hiện mới về nội dung và hình thức.


2
Chủ nghĩa xã hội hiện thực trên thế giới, cuối những năm 80 đầu những
năm 90 thế kỷ XX lâm vào khủng hoảng và sụp đổ ở Liên Xô và Đông Âu,
làm cho phong trào xã hội chủ nghĩa trên thế giới, phong trào Cộng sản và
công nhân quốc tế tạm thời lâm vào thoái trào. Một số nước xã hội chủ nghĩa
kiên định mục tiêu, lý tưởng, tiến hành cải cách, đổi mới; điều chỉnh, cập nhật

- Trật tự thế giới, sau sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ
nghĩa ở Đông Âu đầu những năm 90 đã có sự thay đổi lớn. Đó là sự tan rã của
trật tự thế giới 2 cực. Từ đó đến nay, đang hình thành một trật tự thế giới mới
theo hướng đa cực, đa trung tâm, làm cho cục diện chính trị thế giới, có sự
biến đổi. Các liên kết khu vực, tiểu khu vực ngày càng mạnh tạo nên những
chủ thể quốc tế mới. Khu vực Châu Á – Thái Bình Dương ngày càng phát
triển năng động, tác động mạnh mẽ đến sự điều chỉnh chiến lược tổng thể
quốc gia của nhiều nước, nhất là các nước lớn.
Những đặc điểm trên đây, vừa tạo thời cơ phát triển, đồng thời gây nên
những khó khăn thách thức to lớn về nhiều mặt cho các quốc gia, trong đó có
Việt Nam.
* Tình hình trong nước
Về kinh tế: Bước vào thời kỳ đổi mới, mở đầu từ Đại Hộ VI Đảng Cộng
sản Việt Nam (1986), nền kinh tế nước ta bên cạnh những thành tựu đã đạt
được, nhưng do sự giảm sút sản xuất vào cuối những năm 70, cùng những sai
lầm, khuyết điểm trong bố trí cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu tư và xây dựng cơ bản,
đã để lại những hậu quả nặng nề. Đó là, hiệu quả sản xuất và đầu tư thấp; tài
nguyên đất nước nhất là dất nông nghiệp sử dụng lãng phí, kém hiệu quả; lưu
thông, phân phối rối ren, vật giá tăng nhanh; nền kinh tế mất cân đối giữa cụng
và cầu, giữa thu và chi, giữa xuất khẩu và nhập khẩu. Quan hệ sản xuất xã hội
chủ nghĩa, vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước yếu kém, đời sống nhân dân


4
khó khăn; tiêu cực xã hội phát triển…Đất nước bị bao vây, cấm vận về kinh tế.
Trong quá trình đổi mới đất nước, trước hết là đổi mới tư duy kinh tế, với tinh
thần “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật”, “tôn trọng
qui luật khách quan” và với những chủ trương, chính sách đúng đắn, nền kinh
tế đất nước có chuyển biến tích cực. Kinh tế phát triển năng động, với tốc độ
tăng trưởng cao ổn định nhiều năm liên tục; Việt Nam đã phá được thế bị bao

đi vào chiều sâu ổn định; hội nhập quốc tế mạnh mẽ trên mọi lĩnh vực, vị thế
và vai trò của Việt Nam ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế.
Tuy nhiên, tình hình chính trị của đất nước trong thời kỳ đổi mới từ
năm 1986 đến nay vẫn tiềm ẩn nhiều nhân tố có thể gây mất ổn định chính trị
- xã hội. Các nguy cơ, thách thức đối với Đảng, chế độ xã hội chủ nghĩa và đất
nước vẫn tồn tại, chưa bị đẩy lùi: Trên lĩnh vực chính trị, đó là sự suy thoái về
tư tưởng chính trị, quan liêu, tham nhũng, chệch hướng xã hội chủ nghĩa, sự
chống phá quyết liệt về chính trị - tư tưởng của “Diễn biến hòa bình”. Trong
nội bộ, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” diễn biến phức tạp;
các vấn đề dân tộc, tôn giáo chưa được giải quyết triệt để; tình trạng xâm
phạp quyền dân chủ của nhân dân trên các lĩnh vực còn diễn ra nghiêm trọng
ở nhiều nơi làm suy giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và
chế độ xã hội chủ nghĩa.
Về văn hóa, xã hội: Trước những tác động của tình hình thế giới và
những biến đổi về kinh tế - xã hội trong nước, tình hình văn hóa – xã hội đất
nước trong thời kỳ đổi mới cũng có những chuyển biến tích cực, đồng thời
cũng đứng trước những thách thức to lớn.
Về mặt tích cực: Đời sống văn hóa – xã hội được quan tâm xây dựng,
phong trào “toàn dân xây dựng đời sống văn hóa ở cộng đồng dân cư”, “xây
dựng gia đình văn hóa” được nhân dân tích cực hưởng ứng, các hoạt động
“đền ơn đáp nghĩa”, từ thiện, nhân đạo được đẩy mạnh; Các hoạt động và sinh


6
hoạt văn hóa cộng đồng dưới nhiều hình thức và qui mô được tổ chức sôi nổi;
mạng lưới truyền thanh, truyền hình phủ sóng tới mọi vùng sâu, vùng xa, biên
giới, hải đảo; nhiều giá trị văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể được thế giới
tôn vinh. Các vấn đề xã hội được quan tâm giải quyết, tỷ lệ đói nghèo được
thu hẹp. Nhiều công trình, dự án xã hội được triển khai; chính sách xã hội,
chính sách giai cấp, dân tộc, tôn giáo được thực hiện với nhiều tiến bộ, an

“sự phát triển của phong trào cộng sản và phong trào hòa bình, dân chủ”2
Về mục tiêu thời đại hiện nay Đảng ta nhất quán chỉ rõ: “Mục tiêu của
thời đại hiện nay là hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội”
+ Đánh giá về chủ nghĩa tư bản các văn kiện đều chỉ rõ: “Chủ nghĩa tư
bản còn tiềm năng phát triển”; “nắm ưu thế về vốn, khoa học, công nghệ, thị
trường” song “về bản chất là chế độ áp bức, bóc lột, bất công”; “những mâu
thuẫn vốn có của chủ nghĩa tư bản, nhất là mâu thuẫn giữa tính chất xã hội
hóa của lực lượng sản xuất với chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa”,
“giữa lao động và tư bản” ngày càng trở nên sâu sắc”3.
+ Khẳng định tính tất yếu của chủ nghĩa xã hội: “Theo qui luật tiến hóa
của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội”4.
- Về đặc điểm của thời đại hiện nay, Đảng ta nhận thức rằng, thời đại là
một thời kỳ lịch sử lâu dài, hàm chứa những đặc điểm nổi bật của cả quá trình
chuyển biến quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hộitrên phạm vi thế
giới, như Hội nghị các Đảng Cộng sản và công nhân ở Matxcơva 1957, 1960
đã chỉ ra; đồng thời, trong mỗi thời kỳ, giai đoạn nhất định lại có những đặc
điểm cụ thể. Từ cuối những năm 80, thời đại bước vào một giai đoạn mới –
Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị Quốc gia, H,
2001, tr.61 - 62
2
Sđd, tr 61 - 62
3
Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị Quốc gia, H,
2011, tr 68
4
Sđd, tr 69
1


8

càng nhiều vào quá trình hợp tác, liên kết khu vực, liên kết quốc tế; cá dân tộc
nâng cao ý thức độc lập, tự chủ, tự lực tự cường, đấu tranh chống áp đặt can
thiệp của nước ngoài, bảo vệ độc lập, chủ quyền và nền văn hóa dân tộc. Các
nước xã hội chủ nghĩa, các Đảng Cộng sản và công nhân, các lực lượng cách
mạng, tiến bộ trên thế giới kiên trì đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân
chủ và tiến bộ xã hội. Các nước có chế độ xã hội khác nhau vừa hợp tác vừa
đấu tranh trong cùng tồn tại hòa bình.
Đại hội IX của Đảng (2001) đã đánh giá thế giới trong thế kỷ XX và
nhận định: thế kỷ XX ghi đậm trong lich sử loài người dấu ấn cực kỳ sâu sắc.
Thế kỷ XX “là thế kỷ khoa học và công nghệ tiến nhanh chưa từng thấy, giá
trị sản xuất vật chất tăng hàng chục lần so với thế kỷ trước; kinh tế phát triển
mạnh mẽ xen lẫn những khủng hoảng lớn của chủ nghĩa tư bản thế giới và sự
phân hóa về giàu nghèo giữa các nước và khu vực; là thế kỷ diễn ra hai cuộc
chiến tranh thế giới đẫm máu cùng hàng trăm cuộc xung đột vũ trang”; “là thế
kỷ chứng kiến một phong trào cách mạng sâu rộng trên phạm vi toàn thế giới
với thắng lợi của cách mạng tháng Mười Nga – cuộc cách mạng vĩ đại mở ra
thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội; cách mạng xã hội
chủ nghĩa ở một loạt nước Châu Âu, Châu Á và Mỹ La Tinh; sự giải phóng
hầu hết các nước thuộc địa của chủ nghĩa thực dân; sự phát triển của phong
trào Cộng sản, công nhân quốc tế và phong trào hòa bình, dân chủ, mặc dù
vào thập niên cuối, chủ nghĩa xã hội hiện thực tạm thời lâm vào thoái trào”1.
Đại hội IX cũng đưa ra dự báo về đặc điểm thế giới trong thế kỷ XXI với
nhận định: “thế kỷ XXI sẽ tiếp tục có nhiều biến đổi. Cụ thể: Một là, khoa học
và công nghệ sẽ có bước tiến nhảy vọt; hai là, kinh tế tri thức có vai trò ngày
càng nổi bật trong quá trình phát triển lực lượng sản xuất; ba là, toàn cầu hóa là
xu thế khách quan lôi cuốn ngày càng nhiều nước tham gia, xu thế này đang bị
Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị Quốc gia, H
2001, tr. 61 - 62
1


1


11
với chủ nghĩa đế quốc; mâu thuẫn giữa đế quốc với đế quốc. Đảng Cộng sản
Việt Nam cũng hoàn toàn nhất trí với khẳng định về 4 mâu thuẫn cơ bản đó.
Đại hội IX của Đảng Cộng sản Việt Nam (2011) khẳng định “các mâu
thuẫn cơ bản trên thế giới biểu hiện dưới những hình thức và mức độ khác
nhau vẫn tồn tại và phát triển, có mặt sâu sắc hơn”. Đại hội X (năm 2006)
Đảng ta chỉ rõ “Các mâu thuẫn lớn của thời đại vẫn rất gay gắt”1
Đại hội XI (2011) Đảng ta một lần nữa tiếp tục khẳng định: “Các mâu
thuẫn cơ bản trên thế giới biểu hiện dưới những hình thức và mức độ khác
nhau vẫn tồn tại và phát triển”2
Căn cứ để Đảng Cộng sản Việt Nam có sự khẳng định đó dựa trên cơ
sở khoa học và được thực tế lịch sử thế giới chứng minh. Đó là, dù Chủ nghĩa
xã hộiở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, song mâu thuẫn giữa Chủ nghĩa xã
hộivà chủ nghĩa tư bản vẫn tồn tại và có sợ phát triển mới trên mọi lĩnh vực.
Về nội dung đó là: mâu thuẫn giữa các nước xã hội chủ nghĩa với các nước tư
bản chủ nghĩa, giữa hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa và hệ tư tưởng tư bản chủ
nghĩa; giữa con đường xã hội chủ nghĩa và con đường tư bản chủ nghĩa; giữa
các giá trị xã hội xã hội chủ nghĩa và các giá trị xã hội tư bản chủ nghĩa… Về
hình thức, các mâu thuẫn giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản tồn tại đan
xen, tác động chuyển hóa lẫn nhau, không có sự phân tuyến rạch ròi, vừa hợp
tác, vừa đấu tranh, vừa liên kết vừa cạnh tranh, vừa là đối tác, vừa là đối tượng,
cả vũ trang và phi vũ trang, “diễn biến hòa bình” và phòng chống “diễn biến hòa
bình”, diễn ra trên phạm vi toàn thế giới và trong lòng các quốc gia, cả về kinh
tế, chính trị, văn hóa xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại…
Mâu thuẫn giữa các nước thuộc địa, phụ thuộc với chủ nghĩa đế quốc,
hiện nay được biểu hiện ra là, mâu thuẫn giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa đế
Đảng Cộng sản Việt nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị Quốc gia, H 2006,

Trung ương lần thứ 6 (Khóa X) đã nêu rõ: “Giai cấp công nhân Việt Nam là
lực lượng xã hội to lớn, đang phát triển, bao gồm những người lao động chân
tay và trí óc, làm công hưởng lương trong các loại hình sản xuất, kinh doanh


13
và dịch vụ công nghiệp, hoặc sản xuất, kinh doanh và dịch vụ có tính chất
công nghiệp”1
Về vai trò của giai cấp công nhân Việt Nam, Nghị quyết Trung ương 6
(Khóa X) chỉ rõ: “Giai cấp công nhân nước ta có sứ mệnh lịch sưt to lớn; là giai
cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản Việt Nam;
giai cấp đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến; giai cấp tiên phong trong sự
nghiệp xây dựng Chủ nghĩa xã hội, lực lượng đi đầu của sự nghiệp công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng,
văn minh; là lực lượng nòng cốt trong liên minh giữa giai cấp công nhân với giai
cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng”2
Về xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam trong thời kỳ quá độ lên
Chủ nghĩa xã hội, Cương lĩnh xây dựng đất nước (bổ sung và phát triển năm
2011) nhấn mạnh: “Xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh cả về số lượng và
chất lượng; là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiền phong là Đảng
Cộng sản Việt Nam, giai cấp tiên phong trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa
xã hội”3
Về xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Đại hội VIII (1996) Đại hội khẳng định
nước ta bước vào thời kỳ mới “đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước” đã xác định “Xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh về mọi mặt, phát
triển về số lượng, giác ngộ về giai cấp, nâng cao trình độ học vấn và tay nghề
có năng lực ứng dụng và sáng tạo công nghệ mới, có tác phong công nghiệp
và ý thức tổ chức, kỷ luật lao động đạt năng xuất, chất lượng và hiệu quả ngày


mà các Nghị quyết Đại hội các khóa trước đã nêu, có bổ sung thêm những nội
dung mới như: Vấn đề xây dựng các tổ chức chính trị - xã hội trong các doanh
nghiệp tư nhân, có vốn đầu tư nước ngoài; vấn đề việc làm, thất nghiệp, các
chính sách và pháp luật về lao động, tiền lương, bảo hiểm, chăm sóc sức

Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị Quốc gia, H
1996, tr. 123
2
Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị Quốc gia, H
2001, tr. 125
1


15
khỏe, nhà ở, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần, bảo vệ quyền lợi chính
đáng, hợp pháp của công nhân.
Đặc biệt, Hội nghị Trung ương 6 (Khóa X), đã ban hành Nghị quyết
chuyên đề về “Xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”. Trong đó đã đưa ra khái niệm giai cấp
công nhân Việt Nam hiện nay, khẳng định vai trò của giai cấp công nhân Việt
Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ; đánh giá tình hình giai
cấp công nhân, chỉ rõ quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp xây dựng
GCCN Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Có thể nói, Nghị quyết Trung ương 6 (Khóa X), về xây dựng giai cấp công
nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã
đánh dấu sự phát triển lý luận về giai cấp công nhân Việt Nam khá toàn diện,
hệ thống của Đảng Cộng Việt Nam trong thời kỳ đổi mới.
Nghị quyết Đại hội XI tiếp tục khẳng định tinh thần đó và chỉ rõ:
“Quan tâm giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng, phát triển giai cấp công nhân cả về
số lượng và chất lượng; nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ học vấn, chuyên

chứng tỏ: Đảng ta tiếp tục giữ vững và phát huy được bản lĩnh và kinh
nghiệm của các thời kỳ trước, lãnh đạo có kết quả công cuộc xây dựng và bảo
vệ đất nước trong những tình huống mới hết sức phức tạp”3.
Đánh giá 15 năm đổi mới, về vai trò lãnh đạo của Đảng, Đại hội IX
khẳng định: “đường lối đúng đắn của Đảng là nhân tố quyết định thành công
của sự nghiệp đổi mới”. Cương lĩnh xây dựng đất nước (bổ sung và phát triển
năm 2011) đã nhấn mạnh: “Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng
đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam”4
Đại hội X đã có sự bổ sung, phát triển về bản chất, vai trò cuả Đảng
Cộng sản Việt Nam: “Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp
Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị Quốc gia, H
1996, tr. 74
2
Sđd, tr. 135
3
Sđd, tr. 136
4
Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị Quốc gia, H
2011, tr. 66
1


17
công nhân, đồng thời là đội tiền phong của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung
thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc”1.
Cương lĩnh (bổ sung và phát triển năm 2011) tiếp tục khẳng định quan
điểm trên. Diễn đạt như vậy vừa nêu bật được bản chất giai cấp công nhân
của Đảng theo quan điểm chủ nghĩa C.Mác – Lênin, vừa nêu lên đặc thù của
Đảng ta theo sự phát triển sáng tạo của tư tưởng Hồ Chí Minh, phù hợp với
thực tế Việt Nam và đáp ứng được nguyện vọng, tình cảm của nhân dân.

hiệu lực quản lý, điều hành của Nhà nước, hiệu quả hoạt động của các định
chế chính trị, hiệu quả hoạt, xã hội chưa nâng lên kịp với đòi hỏi của tình
hình”1. Trong công tác xây dựng Đảng Đại hội VIII nhấn mạnh: phải thường
xuyên nắm vững và tập trung làm tốt những điểm cơ bản gồm:
Thứ nhất, giữ vững và tăng cường bản chất giai cấp công nhân của
Đảng và coi đó là “nhiệm vụ có ý nghĩa quan trọng hàng đầu” 2, đồng thời chỉ
ra nội dung giữ vững và tăng cường bản chất giai cấp công nhân: kiên định
mục tiêu độc lập dân tộc và Chủ nghĩa xã hội; kiên định vận dụng sáng tạo,
góp phần phát triển chủ nghĩa C.Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, xuất
phát từ thực tiễn Việt Nam để xây dựng đường lối, chủ trương, chính sách;
giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ; thường xuyên tự phê bình và phê
bình, đoàn kết, thống nhất trong Đảng, giữ vững nguyên tắc lãnh đạo; thường
xuyên giáo dục, bồi dưỡng lập trường, quan điểm, ý thức tổ chức của giai cấp
công nhân; củng cố mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhân dân, tăng cường
khối đại đoàn kết toàn dân; chăm lo đời sống, thật sự phát huy quyền làm chủ
của nhân dân;
Hai là, nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất, năng lực cán bộ, đảng viên;
Ba là, củng cố Đảng về tổ chức, thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung,
dân chủ;
Bốn là, chăm lo xây dựng đuội ngũ cán bộ;
Năm là, nâng cao sức chiến đấu của tổ chức cơ sở Đảng;
Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị Quốc gia, H
1996, tr. 66
2
Sđd, tr. 139
1


19
Sáu là, tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng;

20
nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp
thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Đó là tư tưởng về giải phóng dân tộc, giải
phóng giai cấp, giải phóng con người; về độc lập dân tộc gắn liền với chủ
nghĩa xã hội, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; về sức mạnh
của nhân dân, của khối đại đoàn kết dân tộc; về quyền làm chủ của nhân dân,
xây dựng Nhà nước thật sự của dân, do dân, vì dân; về quốc phòng toàn dân,
xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân; về phát triển kinh tế và văn hóa,
không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; về đạo
đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; về chăm lo bồi dưỡng
thế hệ cách mạng cho đời sau; về xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, cán
bộ, đảng viên vừa là người lãnh đạo vừa là người đầy tớ thật trung thành của
nhân dân”1
Đại hội X (2006), tổng kết 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội IX và
20 năm đổi mới về xây dựng Đảng, đã nêu lên những thành tựu và hạn chế:
Về chính trị: Đảng đã giữ vững bản chất cách mạng của giai cấp công
nhân, kiên định chủ nghĩa C.Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu
độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên trì đường lối đổi mới; có sự phát
triển về tư duy lý luận đề ra và lãnh đạo thực hiện đường lối đổi mới đúng
đắn; xác định phát triển kinh tế là nhiệm vụ trọng tâm, xây dựng Đảng là then
chốt, phát triển văn hóa – nền tảng tinh thần của xã hội.
Về hạn chế: Cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng tự phê bình và
phê bình… chưa đạt yêu cầu đề ra. Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng;
công tác tổ chức, cán bộ, công tác bảo vệ chính trị nội bộ, công tác kiểm tra
còn yếu; đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng còn chậm và lúng túng.
Đại hội X cũng tổng kết 6 bài học về xây dựng Đảng:

Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị Quốc gia, H
2001, tr. 84-85
1

2

Sđd, tr. 279
Sđd, tr. 133


22
có qui định và chỉ đạo thực hiện, bảo đảm vừa phát huy được khả năng làm
kinh tế của đảng viên, vừa giữ được tư cách đảng viên và bản chất của
Đảng”1Đại hội X cũng đã xác định: để tăng cường công tác tư tưởng; rèn
luyện phẩm chất, đạo đức cách mạng, cần đẩy mạnh việc “học tập, quán triệt ,
làm theo tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” 2 trong toàn Đảng,
toàn dân và toàn quân.
Cương lĩnh xây dựng đất nước (bổ sung và phát triển 2011) khẳng định
“Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã
hội”, “Để đảm đương được vai trò lãnh đạo, Đảng phải vững mạnh về chính
trị, tư tưởng và tổ chức, thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, ra sức nâng
cao trình độ trí tuệ, bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực lãnh
đạo. Giữ vững truyền thống đoàn kết thống nhất trong Đảng, tăng cường dân
chủ và kỷ luật trong sinh hoạt của Đảng. Thường xuyên tự phê bình và phê
bình, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa cơ hội, tệ quan liêu, tham
nhũng, lãng phí và mọi hành động chia rẽ, bè phái. Đảng chăm lo xây dựng
đội ngũ cán bộ, đảng viên trong sạch, có phẩm chất, năng lực, có sức chiến
đấu cao theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; quan tâm bồi dưỡng, đào tạo
lớp người kế tục sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc”3
Hội nghị Trung ương lần thứ 4 (Khóa XI) tháng 12/2011, đã ban hành
Nghị quyết một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay. Trong đó tập
trung vào 3 vấn đề cấp bách: một là, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng, chính
trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên; Hai là,
xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo các cấp, nhất là cấp Trung ương đủ phẩm

mạng xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ quá độ”1.
Đại hội VII của Đảng ta đã đề ra Cương lĩnh xây dựng đất nước trong
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Trên nền tảng chủ nghĩa
C.Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, từ thực tiễn đất nước và bối cảnh
quốc tế, từ những kinh nghiệm lãnh đạo của Đảng về xây dựng chủ nghĩa xã
hội, Cương lĩnh 1991 đã xác định 6 đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa mà
nhân dân ta xây dựng là:
- Xã hội do nhân dân lao động làm chủ.
1

Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, T47, Nxb Chính trị Quốc gia, H 2006, tr. 374-375


24
- Có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất tiên tiến,
hiện đại và chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu.
- Có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
- Con người được giải phóng khỏi mọi áp bức, bóc lột, bất công, làm
theo năng lực, hưởng theo lao động, có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân.
- Các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tương trợ
và giúp đỡ nhau cùng phát triển.
- Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân tất cả các nước trên thế giới.
Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương khóa VII (1994) đã nêu mục
tiêu xây dựng đất nước là “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh”1
Đại hội IX (2001) bổ sung thêm từ “dân chủ” thành “dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.
Đại hội X (2006) tiếp tục bổ sung, phát triển nhận thức của Đảng ta về
các đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa, trong đó chỉ rõ: “ Xã hội xã hội chủ
nghĩa mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta xây dựng là một xã hội dân giàu,
nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh; do nhân dân làm chủ, có nền kinh

* Về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Đại hội VI của Đảng khẳng định tiếp tục thực hiện đường lối chung của
cách mạng xã hội chủ nghĩa và đường lối xây dựng nền kinh tế xã hội chủ
nghĩa do các Đại hội IV và V của Đảng đã xác định. Đổng thời chỉ rõ: “Ngày
nay đã có những điều kiện để hiểu đầy đủ hơn về con đường tiến lên chủ
nghĩa xã hội ở nước ta”2.
Đại hội VI khẳng định: “Từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội phải
trải qua thời kỳ quá độ là một tất yếu khách quan và độ dài của thời kỳ đó phụ
thuộc vào điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội của mỗi nước”3
Đối với Việt Nam, thời kỳ quá độ do tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội từ
một nền sản xuất nhỏ “bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, đương
nhiên phải rất lâu dài và rất khó khăn”4
Sđd, tr. 70
Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng, TT, T 47, tr. 374
3
Sđd, tr. 374
4
Sđd, tr. 374
1
2



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status