Tác phẩm Hàn Phi Tử là một tác phẩm độc đáo, về mặt chính trị và
là công trình quan trọng nhất của chính trị học Trung Hoa là một trong
những tác phẩm đầu tiên của chính trị học thế giới. Về tư tưởng nó xác lập
trường phái Pháp Gia, một trong bốn trường phái lớn nhất của Trung Quốc
(Nho, Mặc, Lão, Phóng). Nó là một trong những công trình cực kỳ hấp dẫn,
trình bày khách quan. Trong công trình viết cách đây 2300 năm nhưng ai
cũng giật mình về tính thời sự của nó, ta có cảm tưởng rằng tác giả là
người hiện nay, nói bằng ngôn ngữ và cách lý luận hôm nay về cách quan
hệ giữa người với người, không chỉ ở Trung Hoa mà cả thế giới, trong đó
có Việt Nam. Đó là một con người có đầu óc lỗi lạc nhất của Trung Hoa và
của xã hội loài người. Ngày nay chúng ta nghiên cứu tư tưởng Hàn Phi vẫn
thấy những tác nhân hợp lý của nó, vẫn đầy tính thực tiễn trong đời sống xã
hội, trong ứng xử giữa người với người, trong quản lý và thuật trị nước. Tư
tưởng của ông tồn tại lâu như vậy đó là vì nó có tính giáo dục sâu sắc, dạy
đời, dạy người sống tốt đời đẹp đạo, có lý có tình, trên cơ sở vận dụng một
cách linh hoạt vào thực tiễn cuộc sống. Lời văn ông dùng ít có tính chất bác
học, dân sẽ xem nó trường tồn mãi với thời gian.
II. HÀN PHI TƯ TƯỞNG PHÁP TRỊ TRONG XÃ HỘI
TRUNG QUỐC THỜI CỔ ĐẠI
1.Sự hình thành tư tưởng pháp trị của pháp gia.
Vào thời Xuân Thu,Trung Quốc chia ra hàng trăm tiểu nhỏ. Quan
hệ giữa quý tộc và nhân dân lao động là trực tiếp. xã hội chia ra đẳng cấp,
tôn ty rõ ràng. Sự cai trị dựa trên thứ bậc. Luật pháp chỉ áp dụng cho dân
thường còn đối với đại phu trở lên nếu có phạm sai lầm chỉ khiển trách mà
không trừng phạt. Việc nắm lấy hình phạt và vận dụng nó là quyền của quý
tộc, dân chỉ biết vâng theo. Cái đó gọi là sự cai trị theo nhân –nhân trị .
Nhưng nó tất yếu dẫn tới sự hủ bại của tầng lớp thống trị, dân oán và nước
mất. Trước tình hình ấy xuất hiện yêu cầu nước giàu dân mạnh để thôn tính
1
họ đều được trọng. Các bầy tôi và trăm viên quan lại đều dựa vào họ. Quan
2
lại không giết họ đi thì họ sẽ làm pháp luật rối loạn, nhưng giết họ thì nhà
vua không yên, nên che trở và giữ họ lại. Họ cũng là lũ chuột nhà thờ xã
của nước đấy .
Đến thời Chiến Quốc,Thương Ưởng ở nước Tần triều đại Tần Hiếu
Công đề cao pháp luật. Luật pháp có từ trước đó nhưng chỉ có tầng lớp
quan lại biết đến nhưng đến thời Thương Ưởng thì nhà nước cho công bố
rộng rãi và công khai cho mọi người biết trên thân của đỉnh đồng. Pháp luật
là mệnh lệnh ban bố rõ ràng ở nơi cửa công, hình phạt chắc chắn đối với
lòng dân, thưởng cho những kẻ cẩn thận giữ pháp luật, phạt những kẻ làm
trái lệnh - Ông đã đặt ra quy chế tố cáo lẫn nhau để xét thực sự, cho các nhà
kết thành từng nhóm năm nhà, mười nhà cùng nhau chịu tội, thưởng hậu
mà chắc chắn, hình phạt nặng mà dứt khoát. Sử Ký Tư Mã Thiên chép: “
Ưởng sai chia dân thành từng nhóm, năm hộ, mười hộ, phải củ soát nhau vì
bị ràng buộc vào nhau. Ai không tố cáo kẻ gian thì bị chém ngang lưng; ai
tố cáo kẻ gian thì cũng được thưởng ngang với chém đầu quân địch ; người
che giấu quân gian bị phạt ngang với người đầu hàng quân địch. Gia đình
có hai người con trai trở nên mà không chia của ở riêng thì bắt đánh thuế
gấp đôi. Ai có quân công thì cứ theo thứ bậc mà được thưởng, ai đánh nhau
về việc riêng thì đều bị hình phạt lớn hay nhỏ, tuỳ theo nặng hay nhẹ mà
trị. Ai ra sức vào nghề nghiệp gốc, cày cấy, dệt vải, cung cấp nhiều lúa thì
được tha khỏi sưu dịch; trái lại, ai theo cái lợi trên ngọn (ý nói buôn bán )
cùng những người lười và nghèo thì đều bắt cùng với vợ con làm nô; người
tôn thất mà không quân côngthì không được ghi vào sổ sách họ nhà vua.
Định cấp bậc tước trật cao thấp rõ ràng; ghi tên các ruộng vườn, thần thiếp
áo quần theo số hiệu từng nhà. Ai có công thì hiển vinh, ai không có công
thì tuy giàu có cũng không được vinh hoa “.Như vậy, nguyên lý cơ bản của
Khổng Tử nhưng lại làm vua. Như vậy, thế là rất quan trọng, muốn cai trị
nước phải có quyền thế, có thực lực. Thân Tử nói Nghiêu mà là kẻ thất phu
thì không cai quản được ba người, còn Kiệt làm thiên tử thì có thể làm loạn
cả thiên hạ. Ta căn cứ vào đó thì biết cái thế và địa vị là đủ để cậy nhờ, còn
sự khôn ngoan sáng suất không đủ cho ta hâm mộ”. Hàn Phi Tử là người
kết hợp cả 3 phái: Pháp – Thuật – Thế, tìm cho nó một học thuyết triết học
(đạo đức kinh ) làm xương sống cho lý thuyết pháp trị .
4
2 Tư tưởng pháp trị của Hàn Phi Tử
Tóm tắt tiểu sử Hàn Phi Tử
Hàn Phi chết vào năm 232 TCN. Tiểu sử của Ông đã được Tư Mã
Thiên để lại chính xác trong bộ sử ký. Phi là công tử nước Hàn, là người
con (tử) của vua (công), nước Hàn nhưng không phải là người kế vị ngôi
vua. Hoàn cảnh ấy giúp Phi ngay từ bé đã nhìn thấy rõ quan hệ giữa vua tôi
và cách cai trị nước. Sau đó Phi đến học với Tuân Khanh, tức Tuân tử, nhà
học giả lớn nhất thời bấy giờ. Phi tiếp thu Nho giáo, do đó rất thông thạo về
lịch sử, văn học. Phi thừa kế của thầy quan niệm về bản tính con người là
ác, căm ghét mê tín, coi trọng giáo dục đề cao các tiên vương đời Hạ,
Thương, Chu mà xem nhẹ Nghiêu, Thuấn là mẫu mực của Khổng Tử. Cùng
học với Phi có Lí Tư sau này là thừa tướng nước Tần. Lí Tư thừa nhận Phi
giỏi hơn mình. Chủ chương của Tuân Tử là dùng lễ để trị nước, khác chủ
chương dùng Nhân để trị nước của Khổng Tử. Lễ và Pháp là rất gần nhau
nên cả Hàn Phi lẫn Lí Tư đều chuyển sang Pháp trị. Về nước, Phi thấy
nước Hàn yếu đuối, mấy lần dâng thư cho vua Hàn nhưng nhà vua không
nghe. Phi nghĩ cách xây dựng một học thuyết để lại đời sau về việc trị
nước. Phi tiếp thu lí thuyết pháp gia đã có từ trước. Nhưng lý thuyết này
nước Hàn sang nước Tần.
Nhưng Hàn Phi sang Tần không phải để sống mà để chết. Phi được
giao nhiệm vụ cứu nước Hàn khỏi bị nước Tần tiêu diệt. Mà tình hình nước
Hàn lúc này thực tế đã tuyệt vọng. Không ai nghe Hàn Phi dâng những bài
nghị luận của mình. Bây giờ Tần sắp cất quân sang đánh, nước Hàn, sắp bị
tiêu diệt thì làm cách nào mà cứu được? Phi dâng bài Bảo tồn nước Hàn ra
sức thuyết phục vua Tần đừng đánh nước Hàn. Với bài ấy, Phi bị Lí Tư cho
là kẻ chỉ biết mưu lợi cho nước Hàn và làm hại nước Tần. Phi bị giam vào
ngục. Biết tình thế không thể nào cứu vãn nước Hàn được, Phi gửi bài lần
đầu yết kiến vua Tần, vua Tần xem xong rất khâm phục, ra lệnh thả ngay
Hàn Phi , nhưng Lý Tư vốn dĩ ghen với tài năng của người bạn và Tư hiểu
đó là con người giỏi nhất về chính trị của thời đại, nên đã bắt Phi uống
thuốc độc chết trong ngục rồi.
Phi đón nhận cái chết thế nào cũng đến với kẻ sỹ biết đề cao pháp
luật và thuật trị nước. Ông gửi tất cả tâm hồn và tinh lực vào tác phẩm Hàn
6
Phi Tử mà Ông tin là sẽ sống mãi với đời. Trong sử ký, Tư Mã Thiên đã
nói gốc của học thuyết “Hình danh’’ “Pháp thuật’’ của Hàn Phi có cơ sở
triết học ở Hoàng Đế, Lão Tử . Phi muốn làm cho nước Hàn cường thịnh
nhưng không được : “Phi thấy nước Hàn bị suy yếu, mấy lần viết thư nên
can vua Hàn, nhưng vua Hàn không dùng. Hàn Phi ghét những người trị
nước không trau rồi làm cho pháp chế sáng rõ, mà muốn dùng cái thế của
mình để chế ngự bầy tôi, không lo làm cho nước giầu , binh mạnh bằng
cách tìm người xứng đáng, dùng người hiền; trái lại dùng những bọn tham
nhũng, dâm loạn, sâu mọt, đặt chúng ở địa vị cao hơn những người có công
lao và có thực tài …”
Tư tưởng coi trọng pháp luật là nguyên tắc cao nhất trong đường
lối trị nước
riêng tư cong queo, và theo phép công thì dân sẽ được yên mà nước sẽ
được trị. Nếu có ông vua bỏ được điều riêng tư, thi hành phép công thì
quân đội mạnh mà kẻ địch yếu. Nhờ vậy ông vua rõ được việc nên việc
không nên, có sự quy định theo phép tắc. Lấy phép tắc để thi hành với bầy
tôi, thì người ta không thể dùng lối dối trá dể lừa nhà vua, nhà vua xét kỹ
việc nên chăng, cầm cân nảy mực đẻ cân nhắc, để nghe những việc ở xa thì
người ta không thể lừa nhà vua”.
Không chỉ chúng ta hiện nay mới coi trọng công tác cán bộ, Bác Hồ
kính yeu của chúng ta đã nói: “cán bộ là cái gốc của mọi công việc, muôn
việc thành công hay thất bại là do cán bộ tốt hay xấu”, ngày nay chúng ta
coi đó là nguồn lực quan trọng nhất. Từ ngày ấy Hàn Phi đã nhấn mạnh
việc bổ nhiệm quan lại phải khoa học và công tâm thì Pháp luật mới được
thi hành tốt. “Nay nếu căn cứ vào danh tiếng để tiến cử người có tài thì bầy
tôi thế nào cũng rời bỏ bề trên và người ở dưới lập bè phái. Nếu dựa vào
phe đảng mà được làm quan thì dân lo chơi bời với nhau mà không mong
được dùng theo phép tắc.
Cho nên các quan làm việc không có năng lực thì nước loạn. Nếu
nhờ được khen mà được thưởng, bị chê bai mà bị phạt thì những người ham
thưởng sợ phạt sẽ bỏ phép công, thi hành cái thuật riêng tư, kết bè với nhau
8
để làm bậy. Người dưới quên chủ, giao du với nước ngoài để tiến cử người
cùng bè với mình, như thế là họ ít lo cho bề trên vậy. Khi họ đã giao du với
nhiều người, bè đảng đông, trong ngoài bè đảng với họ thì dù họ có phạm
tội nặng cũng có nhiều người che đậy cho họ.
Kết quả, bậc trung thần có cái nguy là không có tội mà chết. Kẻ
gian thần có cái yên là không có công mà hưởng lợi. Khi bậc tôi trung có
cái nguy không có tội mà chết thì những bầy tôi khỏi rút lui. Kẻ tôi gian tà
cong pháp luật, hãm hại người hiền tài, trong thiên Ngoại trữ thuyết tả hạ,
ông trích dẫn ví dụ sinh động trong lịch sử “Tây Môn Báo làm quan huyện
lệnh đất Nghiệp. Trong sạch, chăm chỉ, trung thực, không mảy may lo lợi
riêng, nhưng lại rất coi nhẹ những người chung quanh nhà vua. những
người chung quanh nhà vua vào hùa chê bai Ông. làm được một năm, nộp
thuế lên, nhà vua thu ấn của ông ta. Báo xin” Thần trước đây không biết
cách cai trị đất Nghiệp nay thần đã biết. Xin được nhân ấn để cai trị đất
Nghiệp một lần nữa. Nếu không được xin chịu tội búa rìu “.Nguỵ Văn Hầu
không nỡ, lại để cho ông ta làm. Báo thu vét nhiều của cải của trăm họ, gia
sức phục vụ những người chung quanh nhà vua. được một năm, nộp thuế
nên nhà vua. Nguỵ Văn Hầu đón và vái chào, Báo nói:” Năm ngoái thần vì
nhà vua mà cai trị đất Nghiệp, nhưng nhà vua lại đoạt lại ấn của thần. Năm
nay, thần vì những người chung quanh nhà vua mà cai trị đất Nghiệp , vua
lại vái chào thần. Thần không thể cai trị nữa “.Bèn nộp ấn mà xin đi. Nguỵ
Văn Hầu không nhận ấn nói: ”Trước đây quả nhân không biết ông, nhưng
đến nay thì đã biết. Xin ông cố gắng vì quả nhân và cai trị đất ấy “,nên
không cho Báo từ chức”. Đoạn này ta liên tưởng đến xã hội của chúng ta
hiện nay có cái gì đó cần xem xét.
Thực tế từ cổ chí kim những người có đủ bản lĩnh như Tây Môn
Báo để vạch mặt bọn bậu xậu quanh vua rất ít. Nên nếu tồn tại bọn chúng
thì tiêu cực xã hội tất yếu xảy ra. Thông qua câu chuyện Tề Hoàn Công bổ
nhiệm Quản Trọng và Thắp Bằng, Hàn Phi khuyên nên lập các cơ quan
giám sát công việc của nhau để hạn chế sự lộng quyền: “Tề Hoàn Công sắp
lập Quản Trọng gia lệnh cho các quan :”Quả nhân sắp lập Quản Trọng
thành Trọng Phụ .. Người nào tán thành thì bước vào cửa rồi rẽ qua bên
trái; Người nào không tán thành thì bước qua cửa rồi rẽ bên phải”. Đông
10
trạng nhà vua bỏ mất hình phạt là thế.
11
Nói chung, sở dĩ con hổ có thể khiến cho con chó phục tùng là nhờ
có nanh, có vuốt. Nếu con hổ bỏ nanh vuốt của nó đi mà trao cho con chó
dùng thì con hổ ngược lại phải phục tùng con chó. Ông đã dùng hình ảnh
rất cụ thể, dễ hiểu để nói lên triết lý cuộc sống. Ông vua dùng hình phạt và
ân đức để khống chế bầy tôi, nay ông vua bỏ hình phạt và ân đức của mình
để trao cho bầy tôi sử dụng thì ông vua sẽ bị bầy tôi khống chế. Ông đưa ra
hai ví dụ trong lịch sử để khẳng định hình và đức phải đi đôi với nhau,
người cầm quyền phải giữ được tôn hai quyền ấy, nếu không thì sẽ bị mất
quyền lực .
Ví dụ thứ nhất là vua để cho người khác lấn mình việc khen thưởng
dẫn đến thân bại danh liệt. “Điền Thường ở trên thì xin tước lộc để ban cho
quân thần , ở dưới làm những đấu hộc lớn hơn đấu hộc thường để làm ơn
với trăm họ (Điền Thường cho vay thì dùng thứ đấu lớn , người ta trả thì
đong bằng thứ đấu nhỏ nên người Tề quý ông ta). Thế là Tề Giản Công đã
bỏ mất ân đức mà Điền Thường lậi dùng cái ân đức ấy . Cho nên Tề Gỉan
Công bị giết.
Ví dụ thứ hai là một ông vua buông lơi việc kỷ luật, trao vào tay
người khác quyền này mà bị cướp mất ngôi báu : “Tử Hãn nói với vua
Tống : “Việc khen thưởng và tăng cấp là điều dân chúng thích xin bệ hạ tự
làm lấy. Việc giết chóc và dùng hình phạt là điều dân chúng vẫn ghét , thần
xin nhận làm “. Do đó , vua nước Tống bỏ mất hình phạt để trao cho Tử
Hán sử dụng . Kết quả vua Tống bị cướp ngôi. Điền Thường chỉ dùng ân
đức mà Gỉan Công bị giết. Tử Hãn chỉ dùng hình phạt mà vua Tống bị
cướp ngôi”.
Cách thức xác định công tội của quân thần ; Hàn Phi khuyên: “Bầy
tôi trình bày lời nói của mình , nhà vua căn cứ vào lời nói mà giao công
kiểm tra xem xết xem họ thì thế nào cũng sẽ căn cứ vào chỗ trước đây lời
của họ hợp với mình cho nên tin những lời của họ hiện nay. Đó là lý do
khiến cho bọn bầy tôi được nuông chiều có thể lừa dồi nhà vua mà thực
hiên những điêù riêng tư của họ”.
Khi bọn gian thần lũng đoạn thiên hạ thì các viên quan trung thành
không thể bày tỏ lòng trung thành với nhà vua. “cho nên nhà vua thế nào
13
cũng bị lừa và bọn bầy tôi ở dưới thế nào cũng được trọng vọng. Đó là bọn
bầy tôi khống chế nhà vua thì các quan ở dưới không thể bày tỏ hết khôn
ngoan, sức lực để tỏ rõ lòng trung, các viên lại kông thể thi hành pháp luật
để thực hiện cái công của mình.
Nói chung, thích điều lợi và tìm nó, gét cái hại mà tránh nó, đó là
tình cảm của con người. Nay bọn bầy tôi nếu dốc sức để làm được công
lao, nếu đem hết sự khôn ngoan đẻ trình bày lòng trung thành của mình thì
thân mình bị khốn khổ, nhà mình nghèo, cha và con đều mấc phải cái hại.
Trái lại những bọn làm điều gian dối kiếm lợi để che giấu nhà vua, dùng
của cải để phụng sự bọn bầy tôi được quý trọng thì thân họ lại ở địa vị cao.
Nhà lại giàu, cha và con lại được ân huệ. Như thế ai lại có thể bỏ con
đường yên ổn và có lợi để đi theo con đường nguy hiểm và có hại .Việc trị
nước đã sai lầm như thế mà nhà vua lại muốn người dưới không gian dối,
các quan lại thi hành pháp luật thì rõ ràng không thể làm được’’.
Thiên ngũ đồ (năm bọn sâu mọt ):
Hàn Phi tuy có cái nhìn cực đoan với thương nhân, thợ thủ công và
học sinh nhưng phê phán những người vi phạm pháp luật và cái mâu thuẫn
của xã hôị nước Hàn thủa ấy: “…Người có công thì ban tước nhưng lại cho
chức quan là thấp hèn ; người ta cày cấy giỏi thì thưởng nhưng lại coi
người quan dưới trừng phạt, bốn cái này trái ngược nhau và không có cái gì
xác định cả”.
Bằng ví dụ cực đoan, Phi phê phán Quan lệnh doãn nước Sở và phê
phán luôn cả Khổng Tử “nước Sở có con người chính trực, cha anh ta ăn
trộm con dê, anh ta đi tố giác với quan lại. Quan lẹnh doãn nói “Giết hăn
đi!”. Ông ta cho rằng anh ta thẳng thắn đối với vua nhưng lại gian tà đối
với cha nên anh ta có tội. Có người nước Lỗ theo vua đánh giặc, ba lần giao
chiến, ba lần anh ta bỏ chạy. Trọng Ni hỏi tại sao, anh ta đáp: Tôi có cha
già, tôi chết không ai nuôi cha”. Trọng Ni coi là có hiếu tiến cử anh ta chức
cao, theo đó mà xét thì đừa con hiếu với cha là bầy tôi phản lại nhà vua.
Cho nên quan lệnh doãn giết mà nhà vua không nghe nối đến bọn gian ở
nước Sở. Trọng Ni thưởng mà những người nước Lỗ dễ bỏ chạy và đầu
hàng. Cái lợi của người trên và kẻ dưới khác nhau là như thế đấy. Nhà vua
15
vừa muốn khen hành động của kể thất phu lại vừa có hạnh phúc của nước
nhà, làm như thế nhất định không được”.
Phi phê phán xã hội nước Hàn thời ấy nói nhiều mà không chịu
làm, các mưu sĩ chỉ giỏi đánh giặc mồm mà quân đội yếu “ Nay nhân dân
đều nói đến chuyên trị nước, nhà nào cũng có sách pháp luật của Thương
Quân, Quản Trọng, nhưng nước ngày càng nghèo. Người nói chuyện cày
thì đông nhưng kể cầm cày thì ít. Trong nước ai cũng nói đến việc binh,
sách binh thư của Tôn Vũ Tử, Ngô Khởi nhà nào cũng có, nhưng quân đội
ngày một yếu đi, và người nói chuyên chiến đấu thì nhiều mà người mang
áo giáp thì ít. Cho nên bậc vua sáng dùng cái sức của người ta chứ không
nghe lời người ta nói. Thưởng công lao của người ta, nhưng nhất định cấm
điều vô dụng. Cho nên dân dốc hết sức mình để theo bề trên”.
Thực tế vua nước hàn lúc ấy không sáng suốt lại không biết dùng
trái phép để cho chúng thay đổi bụng vua.
Ba là, các công tử con các bà thiếp là những người được nhà vua
yêu quý. Các quan đại thần và các quan laị ở triều đình là những người nhà
vua cùng bàn bạc. Những người này ra sức bàn thì nhà vua thế nào cung
phải nghe theo. Bọn làm tôi lấy âm nhạc, gái đẹp thờ các công tử con các
bà vợ bé, dùng lời nói mua lòng các quan đaị thần và các quan lại triều
đình, giao ước với nhau chuyện này chuyện nọ nếu việc có kết quả thì các
quan đại thần sẽ thêm bổng lộc chức tước đẻ khuyến khích bụng họ, khiến
họ can thiệp với nhà vua.
Bốn là, bọn bầy tôi dốc hết sức lực của dân để làm cung thất, ao hồ,
đài tạ đẹp, đánh thuế nặng để cho con trai, con gái, chó, ngựa trang sức đẹp
đặng làm thoả lòng nhà vua và làm hỏng cái tâm của nhà vua, họ cứ làm
theo ham muốn của nhà vua để nhờ đó mưu lợi riêng của họ.
Năm là, kẻ làm tôi phân tán tài sản nhà nước đẻ lấy lòng dân chúng,
thi hành ân đức nhỏ để thu phục trăm họ. Khiến cho triều đình, chợ búa đều
khen ngợi họ, để che mắt nhà vua và thực hiện điều họ muốn.
Sáu là, kẻ làm vua vốn dĩ đã bị che đậy trong việc nói năng bàn
luận, ít khi nghe bàn luận nên dễ bị những lời du thuyết lôi cuốn. Những
bọn làm tôi tìm những biện sĩ ở các nước chư hầu, nuôi dưỡng người giỏi ở
trong nước, khiến bọn này nói chuyện riêng của mình, dùng lời khéo tô vẽ,
17
nói năng lưu loát làm cho nhà vua thấy cái thế có lợi, nới lời lo lắng tai hoạ
để đe doạ nhà vua, dùng lời nói suông để đe doạ nhà vua.
Bảy là, nhà vua lấy trăm họ và cac quan làm uy lực của mình…Bọn
là tội, tụ tập những kẻ đeo gươm, nuôi dưỡng những kẻ liều chết để nêu cái
uy của họ, nêu rõ ai theo họ thì có lợi, ai không theo họ thì thế nào cũng
chết để đe doạ các quan, trăm họ để thi hành điều riêng tư của họ.
cự tuyệt.
Gọi là ông vua mất nước không phải ông ta không có nước, mà đó
là tuy có nước nhưng không phải nước của ông ta. Khi bầy tôi lấy áp lực
bên ngoài để chi phối bên trong thì lúc đó ông vua đã là ông vua mất nước
rồi. Nếu rằng nước lớn là chỗ dựa để cứu cảnh mất nước thì cảnh mất nước
còn đến nhanh hơn là không nghe lời nước lớn.”
Đây đúng là quan điểm phát huy nội lực để xây dựng và bảo vệ đất
nước. Nếu Liên Xô và các nước XHCN Đông Au vẫn không buông lơi luật
pháp, không dựa vào tư bản Phương Tây để xây dựng đất nước thì đâu đến
nỗi đấnh mất chế độ XHCN một cách nhẹ nhàng như vậy.
Phi yêu cầu thuật trị nước phải đạt đến kết quả toàn xã hội từ dân
đến quan chỉ có thể vui vẻ mà thực hiên theo pháp luật. “Phàm kẻ có thuật
trị nước đã làm bầy tôi sẽ dựa theo pháp luật giải quyết. Trên soi sáng pháp
luật nhà vua, dưới làm cho bọn gian thần nguy khốn để cho nhà vua được
tôn quý, nước được yên. Do đó, những lời hợp phép tắc được đưa ra ở
trước thì việc khen thưởng và trừng phạt sẽ được thi hành ngay sau đó.
Nếu ông vua quả thực hiếu rõ cái thuật trị nước của bậc thánh nhân
và không bị câu nệ vào những lơì nói của thế tục, cứ căn cứ vào cái danh và
cái thực để quyết định việc đúng và việc sai, dựa vào điều tra, xem xét và
thẩm định những lời nói năng thì các quan chung quanh, những bầy tôi gần
gũi biết là không thể dùng dối trá để được yên thân. Thế nào họ cũng nói:
“Nếu không vứt bỏ những hành vi gian trá riêng tư để dốc sức đem trí khôn
ra thờ vua, mà lại cứ lo kéo bè kéo đảng, dùng lời khen chê bừa bãi để
được yên thân thì cũng chẳng khác gì mang vật nặng ngàn cân, mà đứng ở
nơi vực thẳm khôn lường mà muốn sống vậy. Nhất định là không thể
được”.
19
20
nắm lấy cái quyền cai trị thiên hạ, dùng pháp trị để cai trị dân là điều không
phải dễ. Nhưng sở dĩ tôi gạt bỏ lời dạy của Tiên Sinh làm theo những điều
riêng tôi cho là phải vì tôi nghĩ rằng: lập ra phép tắc và thuật cai trị, lập ra
quy củ đó là cái làm lợi cho dân và tiện cho thứ dân. Cho nên tôi không sợ
cái hoạ và bị chúa hôn ám, vua loạn, mà nhất định nghĩ đến cái lợi của việc
trị dân, cái hành động của kẻ có nhân và có trí. Sợ cái lo và mối hoạ do bị
chúa hôn ám, vua loạn gây nên mà tránh cái hoạ bị giết, bị chết, hiểu rõ cái
lợi của mình mà không biết cái lợi của dân hèn, là hành vi của kẻ tham lam
bỉ ổi. Không dám làm cái hành vi có hại đến chữ nhân và chữ trị. Tiên Sinh
có bụng thương tôi. Nhưng thực ra làm thương tổn đến tôi rất nhiều”.
Một số hạn chế trong tư tưởng Pháp trị của Hàn Phi.
Theo giáo sư Phan Ngọc, học thuyết Hàn Phi có những sai lầm căn
bản:
“Một là ông chỉ thấy những con người ở góc độ vụ lợi. Điều đó không
đúng, con người có những lý tưởng cao đẹp và sẵn sàng quên mình cho
những lý tưởng ấy dù cho các quyền lợi cá nhân bị vi phạm đến mức độ
nào đó. Không cần một dẫn chứng xa xôi, chính Hàn phi là một người như
thế.
Hai là, không thể xây dựng một lý thuyết pháp trị vững chắc dựa
trên quyền lợi của một ông vua. Lịch sử cho thấy rằng không một ông vua
nào không bị chế độ quan liêu tha hoá. Trong những hoàn cảnh nhất định
để đạt được mục đích trả thù, bá chủ thiên hạ…Ông vua có thể tạm thời
làm theo, nhưng sau khi đạt được mục đích ông vua nào cũng hư hỏng. Do
đó, trong thời đại quân chủ, cái mơ ước của Hàn Phi là không bao giờ đạt
được.
Ba là, do chỗ bị hạn chế vào chế độ quân chủ, Hàn Phi không tìm
áp dụng thành công tư tưởng Pháp trị.
3.1. Ở Trung Quốc.
Nước Tần là nước điển hình áp dụng thành công tư tởng pháp trị
trong viẹc thông nhất đất nước.
Thời chiến quốc còn 7 nước là: Tần, Tề, Sở, Yên, Hàn, Triệu,
Nguỵ. Chỉ có tập đoàn chính trị đủ mạnh thì mới khuất phục được các nước
22
khac thống nhất Trung Quốc. Nước Tần không phải là vùng đất trù phú,
không phải ở vị trí trung tâm, không phải là nơi có văn hoá phát triển.
Nhưng liền trong mấy thế kỷ từ thời Tần Hiếu Công cho tới cuối thời chiến
quốc. Nhà Tần lại hội đủ các điều kiện để chuyển lên chế độ phong kiến
trung ương tập quyền. Về kinh tế nhà Tần phát triển chế độ tư hữu về sản
suất, thống nhất đo lường, đặt ra nghạch thuế khoá thích hợp, do đó kích
thích được sản suất. Về chính trị thực hiện hai lần biến pháp, tổ chức hành
chính theo chế độ quận huyện, chủ trương mọi quyền tạp trung vào ông
vua, thực hành chế độ pháp trị nghiêm ngặt, làm cho trong nước có kỷ
cương, trật tự hiệu lực của chính quyền có hiệu lực. Về văn hoá tư tưởng,
chủ trương quán triệt văn hoá tư tưởng thực dụng và bá quyền của phái
Pháp Gia làm cho ai đó cũng thấy chỉ có nỗ lực thì mới có quyền lợi và địa
vị. Chính điều đó đã khiến cho nhà Tần có sức mạnh và chuyển lên chế độ
phong kiến trung ương tập quyền sớm nhất và thôn tính được 6 nước còn
lại, thống nhất Trung Quốc về một mối. Nhà Tần độc tôn tư tưởng của phái
Pháp Gia. Nhưng quốc gia Tần thóng nhất chỉ tồn tại được 15 năm (221206 TCN).
3.2 Ở Việt Nam.
Sau khi đuổi giặc Minh, lấy lại được nền độc lập dân tộc, triều Lê
trọng đãi công thần. Các công thần này đại đa số là những người thiếu học,
hay ít học, họ nấm giữ trọng trách, mâu thuẫn gay gắt giữa phái dân sự và
lớn nhỏ cùng giàng buộc với nhau, kính trọng cùng kiềm chế nhau, uy
quyền không bị lợi dụng, thế nước vậy là khó lay. Thành thói quen theo
đạo giữ phép, không có lỗi trái nghĩa phạm hình”.
Năm 1474 Vua lại khẳng định “ Đặt luật là để trừ gian, sao dung
được bọn coi thường pháp luật”.
Trong 38 năm cầm quyền của Ông là 38 năm “Triệu dân vỗ yên,
trăm việc chấn chỉnh, văn háo rộmg ban, vũ công đại định” “mở mamg đất
đai” “sáng lập chế độ” như các sử gia phong kiến đã đánh giá trong Đại
Việt sử ký toàn thư. Lê Thánh tông đã ban hành 83 sắc chỉ, chỉ dụ liên quan
đến việc hành chính và thể chế quan chức, mười sắc chỉ về quy định khiếu
kiện, tám sắc chỉ liên quan đến quyền, nghĩa vụ của quan lại chông coi
pháp luật, 11 sắc chỉ về chống tham nhũng, buôn lậu, hối lộ và móc ngoặc.
24
Năm 1942 đúng vào dịp 500 năm sinh Lê Thánh Tông Bác Hồ viết cuốn
lịch sử nước ta đã ca ngợi Ông:
“Vua hiền có Lê Thánh Tông.
Mở mang bờ cõi đã khôn lại lành”
Đỉnh cao nhất là năm 1483, bộ Quốc triều hinh luật mà ta quen gọi
là bộ luật Hồng Đức được chính thức ban hành. Đây là bộ luật tổng hợp
nhiều loại luật (hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, tố tụng), nhưng hầu
hết các quy phạm trong bộ luật dù có thuộc lĩnh vực nào cũng được xây
dựng dưới dạng các quy phạm pháp luật hình sự và áp dụng chế tài hình sự.
Bộ luật này có giá trị điều chỉnh các quan hệ xã hội căn bản nhất, trụ cột
nhất tạo nên cơ sở chính trị -xã hội , kinh tế và văn hoá của chế độ nhà Lê
trong một thời gian dài suốt 3 thế kỷ sau đó. đôi với thời Lê Thánh Tông bộ
luật tạo ra sự ổn định trật tự xã hội, tăng cường lỷ cương phép nước, bảo
đảm an dân, tạo điều kiện cho sự phát triển đất nước.