PHẦN MỞ ĐẦU
Chủ tịch Hồ Chí Minh, một danh nhân văn hóa Thế giới, người thầy lãnh đạo vĩ
đại của Đảng, vị lãnh tụ thiên tài và anh hùng giải phóng dân tộc của nhân dân Việt
Nam, người chiến sĩ lỗi lạc của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Người đã
cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp cách mạng Việt Nam và nhân dân thế giới.
Trong điếu văn của Ban chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam khóa III lúc
Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời có viết: “Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước
ta đã sinh ra HỒ CHỦ TỊCH, người anh hùng dân tộc vĩ đại, và chính Người đã làm
rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta và non sông đất nước ta.” Trước lúc đi xa, Người đã
để lại một bản di chúc thiêng liêng quý báu đầy tâm huyết, là một văn kiện lịch sử vô
giá, kết tinh trong đó tinh hoa tư tưởng, tâm hồn cao đẹp,… là những lời căn dặn và tình
cảm thiết tha, là niềm tin sâu sắc của người gửi lại toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta và
các thế hệ mai sau. Ngay trong đoạn mở đầu của di chúc, tuy nội dung những lời dặn dò
không dài, song với tầm quan trọng của vấn đề đoàn kết, Người đã bốn lần đề cập đến
vấn đề đoàn kết đó là: đoàn kết trong Đảng, đoàn kết toàn dân, đoàn kết quốc tế, và điều
mong muốn cuối cùng được đề cập trong đoạn kết thúc của bản di chúc Người lại nhấn
mạnh vấn đề đoàn kết. Bác cũng đã từng nói : “Đoàn kết đoàn kết đại đoàn kết. Thành
công thành công đại thành công”. Ở Bác, tinh thần đại đoàn kết không chỉ bó hẹp trong
phạm vi quốc gia mà đã được thể hiện trên bình diện rộng hơn, đoàn kết quốc tế. Thực tiễn đã
chứng minh vai trò của đoàn kết, “Đại đoàn kết là tư tưởng lớn của Chủ tịch Hồ Chí
Minh, là vấn đề chiến lược, được nhìn nhận là nguồn sức mạnh và thắng lợi của cách mạng
Việt Nam. Dân tộc Việt Nam đã chiến thắng được những kẻ thù hùng mạnh nhờ đoàn kết
một lòng. Đồng thời đã nhận được sự hỗ trợ to lớn của các nước anh em, của bạn bè khắp
thế giới”.
Ngày nay, khi mà toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế trở thành xu thế phát triển
khách quan, tất yếu của thời đại, không kể các nước đang phát triển hay phát triển, các
nước giàu hay nghèo. Nó diễn ra mạnh mẽ khắp các châu lục, chi phối đời sống kinh tế
của hầu hết các nền quốc gia trên thế giới. Để có thể tranh thủ các nguồn lực từ bên
hộ và giúp đỡ của bạn bè quốc tế, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh của các trào
lưu cách mạng thời đại, tạo thành sức mạnh tổng hợp cho cách mạng chiến thắng kẻ thù
là một trong những nội dung chủ yếu của tư tưởng Hồ Chí Minh và cũng là một trong
những bài học kinh nghiệm quan trọng nhất, mang tính thời sự sâu sắc nhất của cách
mạng Việt Nam.
Sức mạnh của dân tộc Việt Nam là sự tổng hợp của các yếu tố vật chất và tinh thần,
song trước hết là sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước và ý thức tự lực, tự cường dân tộc,
sức mạnh của tinh thần đoàn kết, của ý chí đấu tranh anh dũng, bất khuất cho độc lập tự
do… sức mạnh đó đã giúp cho dân tộc ta vượt qua mọi thử thách, khó khăn trong dựng
nước và giữ nước. Thực tiễn lịch sử cho thấy, dân tộc Việt Nam chiến thắng được
những kẻ thù hùng mạnh cũng bởi nhờ toàn dân luôn đoàn kết một lòng; đồng thời, đã
3
TiÓu luËn
nhận được sự đoàn kết, ủng hộ, giúp đỡ quý báu cả về tinh thần và vật chất của các nước
anh em, của bạn bè khắp thế giới.
Đối tượng đoàn kết quốc tế là đoàn kết với phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc,
phong trào cách mạng của giai cấp công nhân ở chính quốc và các nước tư bản chủ
nghĩa nói chung. Là một nhà yêu nước chân chính, Hồ Chí Minh luôn có niềm tin bất
diệt vào sức mạnh dân tộc. Ngay trong những năm tháng đen tối nhất của cách mạng,
Người vẫn bộc lộ một niềm lạc quan tin tưởng rất mạnh mẽ và sâu sắc vào sức mạnh
của dân tộc.
Trong quá trình hoạt động cách mạng, nhờ chú ý tổng kết thực tiễn dưới ánh sáng chủ
nghĩa Mac – Lênin, Hồ Chí Minh đã từng bước phát hiện ra sức mạnh vĩ đại tiềm ẩn
trong các trào lưu cách mạng thế giới mà Việt Nam cần tranh thủ. Các trào lưu đó nếu
được liên kết, tập hợp trong khối đoàn kết quốc tế sẽ tạo nên sức mạnh to lớn. Sức mạnh
đó luôn được bổ sung những nhân tố mơi, phản ánh sự vận động, phát triển không
ngừng của lịch sử toàn thế giới và tiến trình chính trị quốc tế sau thắng lợi của cách
quốc tế cũng là một nhân tố thường xuyên và hết sức quan trọng giúp cho cách mạng
Việt Nam đi đến thắng lợi hoàn toàn trong sự gnhiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất
nước và quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
1.1.2. Thực hiện đoàn kết quốc tế nhằm góp phần cùng nhân dân thế giới thực hiện thắng
lợi các mục tiêu cách mạng.
Hồ Chí Minh chỉ ra rằng, chủ nghĩa yêu nước chân chính phải được gắn liền với nghĩa
quốc tế vô sản, đại đoàn kết dân tộc phải gắn liền với đoàn kết quốc tế, thực hiện đoàn
kết quốc tế không phải chỉ vì thắng lợi của cách mạng của nước mà còn vì sự nghiệp
chung của nhân loại tiến bộ trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc và thế lực
phản động quốc tế vì mục tiêu cách mạng thời đại. Hồ Chí Minh nói “Đảng lấy toàn bộ
thực tiễn của mình để chứng minh rằng chủ nghĩa yêu nước triệt để không thể nào
tách rời với chủ nghĩa quốc tế vô sản”.
Thời đại mà Hồ Chí Minh sống và hoạt động chính trị là thời đại đã chấm dứt thời kỳ
tồn tại biệt lập giữa các quốc gia, mở ra các quan hệ quốc tế ngày càng sâu rộng cho các
dân tộc, làm cho vận mệnh của mỗi dân tộc không thể tách rời vận mệnh chung của cả
loài người.
Ngay sau khi nắm được đặc điểm của thời đại mới, Hồ Chí Minh đã hoạt động không
mệt mỏi để phá thế đơn độc của cách mạng Việt Nam, gắn cách mạng Việt Nam với
cách mạng thế giới. Trong suốt quá trình đó, Người không chỉ phát huy triệt để sức
mạnh củ chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc trong đấu trah giành độc lập, tự do cho
5
TiÓu luËn
dân tộc mình mà còn kiên trì đấu tranh không mệt mỏi để củng cố và tăng cường đoàn
kết giữa các lực lựng cách mạng thế giới đấu tranh cho mục tiêu chung hoà bình, độc lập
dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội.
Người cho rằng, Đảng phải lấy toàn bộ thực tiễn của mình để chứng minh: Chủ nghĩa
yêu nước triệt để không thể nào tách rời vì chủ nghĩa quốc tế vô sản trong sáng. Trong
khác, không chỉ bảo vệ những lợi ích sống còn dân tộc mình mà còn vì những mục tiêu
cao cả của thời đại là hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội.
1.2. Nội dung và hình thức đoàn kết quốc tế.
1.2.1 Các lực lượng cần đoàn kết.
Nội hàm khái niệm đoàn kết quốc tế trong tư tưởng Hồ Chí Minh rất phong phú, song
tập chung chủ yếu vào ba lực lượng: Phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, phong
trào giải phóng dân tộc và phong trào hoà bình, dân chủ thế giới, trước hết là phong trào
chống chiến tranh của nhân dân các nước đang xâm lược Việt Nam. Hồ Chí Minh đã
dày công vun đắp sự đoàn kết quốc tế bằng các hoạt động cách mạng thực tiễn của bản
thân mình và bằng sự nghiệp cách mạng của cả dân tộc.
Đối với phong trào cộng sản và công nhân thế giới – lực lượng nòng cốt của đoàn kết
quốc tế, Hồ Chí Minh cho rằng, sự đoàn kế của giai cấp vô sản quốc tế là một bảo đảm
vững chắc cho thắng lợi của chủ nghĩa cộng sản.
Trong quá trình tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã đến nhiều nước trên thế giới, các
nước tư bản cũng như thuộc địa. Người đã chứng kiến cảnh cùng cực của giai cấp công
nhân và nhân dân lao động, đồng thời cũng thấy rõ cảnh sống xa hoa của bọn tư sản.
Thực tế sinh động đã giúp Người đồng cảm và nhận thức rõ: Nơi đâu cũng có người
nghèo như ở xứ mình, dù ở các nước thuộc địa hay chính quốc, họ đều bị áp bức, bóc lột
tàn nhẫn bởi chủ nghĩa thực dân tàn ác. Người đi tới kết luận: "Dù màu da có khác
nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và giống người bị bóc
lột. Mà cũng chỉ có một mối tính hữu ái là thật mà thôi: tình hữu ái vô sản" (Bài
Đoàn kết giai cấp của Nguyễn Ái Quốc đăng trên báo Le Paria số 25 tháng 5-1924). Kết
luận này cho thấy nhận thức của Hồ Chí Minh về ý thức dân tộc và ý thức giai cấp đã từ
tầm nhìn quốc gia tới tầm nhìn quốc tế. Kết luận trên cũng là sự khởi đầu của tư tưởng
đoàn kết quốc tế Hồ Chí Minh - đoàn kết với những người lao khổ, cần lao trên thế
giới, luôn gắn liền lợi ích dân tộc với lợi ích giai cấp, lợi ích quốc gia với lợi ích quốc
tế.
7
Gắn cuộc đấu tranh vì độc lập của dân tộc với mục tiêu hoà bình, tự do, và công lý, Hồ
Chí Minh đã khơi gợi lương tri của loài người tiến bộ tạo nên những tiếng nói ủng hộ
mạnh mẽ từ các tổ chức quần chúng, các nhân sử trí thức và từng con người trên hành
tinh. Thật hiếm có những cuộc đấu tranh giành được sự đồng tình, ủng hộ rộng rãi và
lớn lao như vậy. Đã nhiều lần, Hồ Chí Minh khẳng định: chính vì đã biết kết hợp phong
trào cách mạng nước ta với phong trào cách mạng của giai cấp công nhân và các dâmn
tộc bị áp bức, mà đảng ta đã vượt qua được mọi khó khăn, đưa giai cấp công nhân và
nhân dân ta đến những thắng lợi vẻ vang như ngày nay.
1.2.2. Hình thức đoàn kết:
Đoàn kết quốc tế trong tư tưởng Hồ Chí Minh không phải là vấn đề sách lược, một thủ
đoạn chính trị nhất thời mà là vấn đề có tính nguyên tắc, một đòi hỏi khách quan của
cách mạng Việt Nam trong thời đại mới. Ngay từ năm 1924 Hồ Chí Minh đã đưa ra
quan điểm về thành lập “Mặt trận thống nhất của nhân dân chính quốc và thuộc địa”
10
TiÓu luËn
chống chủ nghĩa đế quốc, đồng thời kiến nghị quốc tế cộng sản cần có giải pháp cụ thể
đến đại hội VI (1928) quan điểm này trở thành sự thật dựa trên cơ sở các quan hệ về địa
lý – chính trị và tính chất chính trị – xã hội trong khu vực và trên thế giới, cũng như tình
hình và nhiệm vụ cách mạng trong mỗi thời kỳ, Hồ Chí Minh đã từng bước xây dựng và
củng cố khối đoàn kết quốc tế, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ các trào lưu cách mạng
thời đại, góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam.
Đối với các dân tộc trên bán đảo Đông Dương, Hồ Chí Minh giành sự quan tâm đặc
biệt. Cả ba dân tộc đều là láng giềng gần gũi của nhau, có nhiều điểm tương đồng về
lịch sử, văn hoá, và cùng chung một kẻ thù là thực dân Pháp năm 1941, để khơi dậy sức
mạnh và quyền tự quyết của mỗi dân tộc, Người quyết định thành lập riêng biệt mặt trận
độc lập đồng minh cho từng nước Việt Nam, Lào, Cao Miên, tiến tới thành lập Đông
Dương độc lập đồng minh. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, Hồ
Chí Minh đã chỉ đạo việc hình thành mặt trận đoàn kết Việt – Miên – Lào (Mặt trận
mạng Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh hết sức quan tâm chăm lo phát triển tình hữu
nghị giữa Việt Nam với các nước ở châu Á, châu Phi, châu Mỹ Latinh để mở rộng quan
hệ quốc tế của Việt Nam và tranh thủ, khẳng định sự ủng hộ cuộc đấu tranh của nhân
dân các nước vì độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội. Trong kháng chiến chống Pháp và
chống Mỹ, bằng hoạt động ngoại giao không mệt mỏi, Hồ Chí Minh đã nâng cao vị thế
của Việt Nam trên trường quốc tế, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của các bước xã hội
chủ nghĩa anh em, của bạn bè quốc tế và nhân loại tiến bộ trong đó có cả nhân dân Pháp
trong kháng chiến chống Pháp và cả nhân dân Mỹ trong kháng chiến chống Mỹ, hình
thành mặt trận nhân dân thế giới đoàn kết với Việt Nam chống đế quốc xâm lược.
29-8-2007, ông Raymond Aubrac cùng con gái Elizabeth - người được Chủ tịch Hồ Chí
Minh nhận làm con đỡ đầu, thăm Việt Nam. Ông Raymond Aubrac là một người bạn
Pháp thân thiết với Chủ tịch Hồ Chí Minh, luôn sát cánh cùng nhân dân VN trong hai
cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ; có nhiều đóng góp tích cực vào sự nghiệp đổi mới
của VN và việc vun đắp tình hữu nghị và hợp tác Việt-Pháp.
Ông Raymond Aubrac còn là người đã giúp đỡ ký kết Bản Thoả thuận thương mại đầu
tiên giữa VN và Pháp (năm 1955); trao đổi thông điệp giữa Hà Nội và Washington để
xác định chấm dứt vô điều kiện việc Mỹ ném bom xuống VN (1967); kêu gọi chấm dứt
việc ném bom xuống các đê sông Hồng (1972); đại diện Tổng Thư ký Liên hiệp quốc
thực hiện chương trình trợ giúp của LHQ cho VN thống nhất (1976); yêu cầu Mc
Namara chấp thuận chuyển giao cho VN sơ đồ các bãi mìn ở vĩ tuyến 17 (1979) và thực
hiện nhiều chương trình hợp tác kỹ thuật giúp VN của LHQ, FAO và Pháp từ 1976…
12
TiÓu luËn
23-8-2004, ông Henri Martin và bà Raymonde Dien, hai đảng viên Đảng Cộng sản Pháp
đã từng đứng lên đấu tranh chống lại cuộc chiến phi nghĩa của thực dân Pháp tại VN, trở
lại thăm VN theo lời mời của Liên hiệp Các tổ chức hữu nghị VN để dự Quốc khánh
Việt Nam.
Sự đoàn kết ấy là nhằm những mục tiêu lớn của thời đại là hoà bình, độc lập dân tộc,
dân chủ và tiến bộ xã hội, là hợp tác hữu nghị với tất cả các nước, các dân tộc. Sự
đoàn kết ấy dựa trên cơ sở bình đẳng và kết hợp giữa lợi ích quốc gia với lợi ích quốc
tế.
Xác định chủ trương đoàn kết quốc tế, thêm bạn bớt thù, giúp bạn là tự giúp mình, Đảng
ta do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu đã tăng cường đoàn kết với Trung Quốc, Liên
Xô, các nước XHCN khác và các nước dân chủ. Đồng thời phát triển mối quan hệ đoàn
kết, liên minh chiến đấu với nhân dân và các lực lượng vũ trang của hai nước bạn Lào
và Campuchia trên tinh thần quốc tế cao cả, coi giúp bạn là tự giúp mình, thực hiện sự
giúp đỡ vô tư, chí tình, chí nghĩa đối với các dân tộc anh em. Từ đó, đã nhanh chóng
hình thành một thế trận vững chắc của ba nước Đông Dương nhằm đánh thắng kẻ thù
chung là thực dân Pháp xâm lược và can thiệp Mỹ.
Vun đắp tình hữu nghị với các nước láng giềng, sau Hiệp nghị Genève 1961-1962 về
Lào được ký kết, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ ta đã mời Nhà vua Lào Xri
Xavang Vatthana, Hoàng thân Thủ tướng Chính phủ Liên hiệp Lào Xuvana Phuma và
các vị trong Chính phủ Lào sang thăm hữu nghị nước ta (3-1963).
Bác đã yêu cầu các bộ phận tổ chức đón tiếp rất chu đáo, trọng thị. Trong các văn kiện,
Bác nhấn mạnh tình cảm “tình nghĩa láng giềng anh em Việt – Lào thắm thiết không
bao giờ phai nhạt”. Cùng các đồng chí Lào đi thăm tại Trường Đại học Bách khoa Hà
Nội, Bác nhắc nhở sinh viên “cố gắng học tập, trau dồi đạo đức cách mạng để góp
phần vào việc giúp đỡ lẫn nhau giữa hai dân tộc Việt – Lào”, tại Nhà máy Cơ khí Hà
Nội, Bác cũng căn dặn công nhân đoàn kết giúp đỡ công nhân và nhân dân Lào anh em.
Điều mọi người không quên là tại lễ tiễn đoàn Bác đã ứng khẩu đọc bài thơ:
Thương nhau mấy núi cũng trèo,
Mấy sông cũng lội, mấy đèo cũng qua.
Việt – Lào hai nước chúng ta,
Tình sâu hơn nước Hồng Hà, Cửu Long.
(Chủ tịch Hồ Chí Minh với các chính khách quốc tế – NXB Thông tấn, 2006).
14
tảng của chủ nghĩa Mac – Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản, có lý, có tình.
Là một chiến sĩ cách mạng quốc tế kiên định, Hồ Chí Minh đã suốt đời đấu tranh cho sự
nghiệp củng cố khối đoàn kết, thống nhất giữa các lực lượng cách mạng thế giới, trước
15
TiÓu luËn
hết là trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, lực lượng tiên phong của cách
mạng thế giới trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc vì hoà bình, độc lập dân
tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội.
Hồ Chí Minh đã chỉ ra rằng, để thực hiện đoàn kết thống nhất trong phong trào cộng sản
và công nhân quốc tế thì đoàn kết giữa các đảng “Là điều kiện quan trọng nhất để bảo
đảm phong trào cộng sản và công nhân toàn thắng trong cuộc đấu tranh vĩ đại cho
tương lai tươi sáng của toàn thể loài người”. Người cho rằng, thực hiện sự đoàn kết
đó, phải đứng vững trên lập trường giai cấp công nhân, quán triệt sâu sắc những nguyên
tắc của chủ nghĩa quốc tế vô sản.
“Có lý” trước hết là phải tuân thủ những nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mac – Lênin,
phải xuất phát từ lợi ích chung của cách mạng thế giới. Tuy nhiên, việc trung thành với
chủ nghĩa Mac – Lênin đòi hỏi phải vận dụng sáng tạo, có hiệu quả vào hoạt động thực
tế của mỗi nước, mỗi dảng viên, tránh giáo điều. “Có tình” là sự thông cảm, tôn trọng
lẫn nhau trên tinh thần, tình cảm của những người cùng chung lý tưởng, cùng chung
mục tiêu đấu tranh; phải khắc phục tư tưởng sô vanh, “Nước lớn”, “Đảng lớn”, không
“áp đặt”, “ức chế”, nói xấu, công khai công kích nhau, hoặc dùng các giải pháp về chính
trị, kinh tế… gây sức ép với nhau. “Có tình” đòi hỏi trong mọi vấn đề phải chờ đợi nhau
cùng nhận thức, cùng hành động vì lợi ích chung. Lợi ích của mỗi quốc gia, các dân tộc,
mỗi đảng phải được tôn trọng, song lợi ích đó không được phương hại đến lợi ích
chung, lợi ích của đảng khác, của dân tộc khác.
“Có lý”, “Có tình” vừa thể hiện tính nguyên tắc vừa là một nội dung của chủ nghĩa nhân
văn Hồ Chí Minh – chủ nghĩa nhân văn cộng sản. Nó có tác dụng rất lớn không chỉ
trong việc củng cố khối đoàn kết quốc tế của giai cấp công nhân mà còn củng cố tình
Giương cao ngọn cờ hoà bình, chống chiến tranh xâm lược là một trong những nội dung
quan trọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Tư tưởng đó bắt nguồn từ truyền thống hoà
hiếu của dân tộc Việt Nam kết hợp với chủ nghĩa nhân đạo cuộc sống với những trị
nhân văn nhân loại. Trong suốt cuộc đời mình, Hồ Chí Minh luôn giương cao ngọn cờ
hoà bình, đấu tranh cho hoà bình, một nền hoà bình thật sự cho tất cả các dân tộc – “hoà
bình trong độc lập tự do”.
Giương cao ngọn cờ hoà bình và đấu tranh bảo vệ hoà bình là tư tưởng bất di bất dịch
của Hồ Chí Minh. Nhưng đó không phải là một nền hoà bình trừu tượng, mà là “một
nền hoà bình chân chính xây trên công bằng và lý tưởng dân chủ”, chống chiến tranh
xâm lược vì các quyền dân tộc cơ bản của mỗi quốc gia. Trong suốt hai cuộc kháng
chiến, quan điểm hoà bình trong công lý, lòng thiết tha hoà bình trong sự tôn trọng độc
17
TiÓu luËn
lập và thống nhất đất nước của Hồ Chí Minh và nhân dân Việt Nam là đã làm rung động
trái tim nhân loại. Nó có tác dụng cảm hoá, lôi kéo các lực lượng tiến bộ thế giới đứng
về phía nhân dân Việt Nam đòi chấm dứt chiến tranh, vãn hồi hoà bình. Trên thực tế, đã
hình thành một Mặt trận nhân dân thế giới, có cả nhân dân Pháp và nhân dân Mỹ đoàn
kết với Việt Nam chống đế quốc xâm lược, góp phần kết thúc thắng lợi hai cuộc kháng
chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ.
Đánh giá vai trò và những cống hiến của Hồ Chí Minh trong công tác tập hợp lực lượng
cách mạng xây dựng khối đại đoàn kết, Rômét, Chanđra, nguyên Chủ tịch Hội đồng
Hoà bình thế giới cho rằng: “Bắt cứ nơi nào chiến đấu cho độc lập, tự do, ở đó có Hồ
Chí Minh và ngọn cờ Hồ Chí Minh bay cao. Bất cứ ở đâu, nhân dân chiến đấu cho
một thế giới mới, chống lại đói nghèo, ở đó có ngọn cờ Hồ Chí Minh bay cao”.
1.3.2. Đoàn kết trên cơ sở độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường.
Đoàn kết quốc tế là để tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ, giúp đỡ của các lực lượng quốc
tế, nhằm tăng thêm nội lực, tạo sức mạnh thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ cách mạng
đặt ra. Để đoàn kết tốt, phải có nội lực tốt. Nội lực là nhân tố quyết định, còn nguồn lực
II. LIÊN HỆ VỚI TÌNH HÌNH VIỆT NAM TRONG
THỜI KỲ HỘI NHẬP HIỆN NAY.
Thành tựu của Việt Nam trong thời hội nhập ngày nay.
Trong điều kiện quốc tế ngày nay khi quá trình hội nhập ngày càng được xúc tiến
nhanh, ngoại giao đa phương ngày càng giữ một vị trí quan trọng, góp phần nâng cao vị
thế quốc tế của đất nước trên thế giới.
Việt Nam đã, đang và sẽ tích cực trên con đường hội nhập toàn diện với khu vực và trên
thế giới. Quá trình hội nhập có thể được đánh dấu bằng những sự kiện quan trọng như
gia nhập ASEAN, đăng cai Hội nghị thượng đỉnh APEC hay trở thành thành viên của
Tổ chức Thương mại Thế giới WTO,...
Cho đến nay, Việt Nam là thành viên của 63 tổ chức quốc tế và có quan hệ với hơn 650
tổ chức phi chính phủ trên thế giới. Việt Nam đã hoạt động tích cực với vai trò ngày
càng tăng tại Liên hợp quốc (ủy viên ECOSOC, ủy viên Hội đồng chấp hành UNDP,
UNFPA và UPU...), phát huy vai trò thành viên tích cực của phong trào Không liên kết,
Cộng đồng các nước có sử dụng tiếng Pháp, ASEAN, UNESCO ... Có thể nói ngoại
giao đa phương là một điểm sáng trong hoạt động ngoại giao thời đổi mới. Những
kết quả đạt được trong mối quan hệ đan xen này đã củng cố và nâng cao vị thế
quốc tế của đất nước, tạo ra thế cơ động linh hoạt trong quan hệ quốc tế, có lợi cho
việc bảo vệ độc lập tự chủ và an ninh cũng như công cuộc xây dựng đất nước.
19
TiÓu luËn
Tổng quan đường lối đối ngoại của Đại hội Đảng khóa XI
Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X tại Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ XI của Đảng chủ trương: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại
độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan
hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có
trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế; vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì một nước Việt
lãnh thổ, ranh giới biển và thềm lục địa với các nước liên quan, trên cơ sở các nguyên
tắc cơ bản của luật pháp quốc tế và nguyên tắc ứng xử của khu vực; làm tốt công tác
quản lý biên giới, xây dựng đường biên giới hoà bình, hữu nghị, hợp tác cùng phát triển.
(v) Về các lĩnh vực khác: Việt Nam chủ trương phát triển quan hệ đối ngoại đảng với
các đảng cộng sản, công nhân, đảng cánh tả, các đảng cầm quyền và các đảng khác, tiếp
tục coi trọng và nâng cao hiệu quả công tác ngoại giao nhân dân.
Những phát triển mới quan trọng :
Trong bối cảnh Việt Nam chuẩn bị hội nhập sâu rộng, đường lối đối ngoại của Đại hội
XI đã có một số phát triển mới, quan trọng để phù hợp với nhiệm vụ mới và tình hình
mới, cụ thể là:
Lợi ích quốc gia - dân tộc vừa là mục tiêu vừa là nguyên tắc cao nhất của các hoạt động
đối ngoại. Lợi ích quốc gia - dân tộc là lợi ích tối cao của gần 90 triệu nhân dân Việt
Nam và hơn 4 triệu người Việt Nam ở nước ngoài.
Hội nhập quốc tế trở thành định hướng đối ngoại lớn, lấy hội nhập kinh tế là trọng
tâm và mở rộng sang các lĩnh vực khác: chính trị, quốc phòng, an ninh, văn hóa-xã hội
và ở mọi cấp độ song phương, khu vực, đa phương và toàn cầu.
Từ chủ trương “Việt Nam muốn là bạn”, “Việt Nam sẵn sàng là bạn và đối tác tin
cậy” của tất cả các nước trong cộng đồng thế giới phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát
triển được nêu trong Đại hội VII và IX, Đại hội XI Đảng đã bổ sung thêm “Việt Nam là
thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”.
Xây dựng cộng đồng ASEAN trở thành một trọng tâm đối ngoại. Đại hội XI khẳng
định Việt Nam là thành viên ASEAN, cam kết phấn đấu cùng các nước xây dựng thành
công Cộng đồng ASEAN.
21
TiÓu luËn
Các hoạt động đối ngoại sẽ được triển khai đồng bộ, toàn diện trên cơ sở phát huy
tiềm lực của mọi lực lượng và thực thi trên mọi kênh, nhằm tạo nên sức mạnh tổng hợp
22
TiÓu luËn
Thể chế kinh tế và môi trường kinh doanh trong nước được cải thiện về nhiều mặt theo
hướng mở rộng tự do hóa thương mại và đầu tư.
Một số thỏa thuận mới nhằm phát triển các mối quan hệ hợp tác kinh tế song phương và
đa phương quan trọng được khởi động.
Trong môi trường kinh tế toàn cầu bị chấn động lớn, thị trường thế giới đầy khó khăn,
thay đổi liên tục và tới nay vẫn chưa bình ổn sau khủng hoảng, những thành tựu trên là
rất đáng kể và minh chứng rõ cho tính đúng đắn của chủ trương cải cách và hội nhập
của chúng ta.
Việt Nam và Liên hiệp quốc ( 1997 – 2011 ).
Kể từ khi chính thức gia nhập Liên hợp quốc ngày 20/9/1977, Việt Nam đã tranh thủ
được sự đồng tình và ủng hộ của các nước thành viên Liên hợp quốc để Đại hội đồng
Liên hợp quốc khóa 32 (1977) thông qua Nghị quyết 32/2 kêu gọi các nước, các tổ chức
quốc tế viện trợ, giúp đỡ Việt Nam tái thiết sau chiến tranh. Chúng ta cũng tranh thủ
được sự giúp đỡ về nguồn vốn, chất xám, kỹ thuật của Liên hợp quốc phục vụ cho công
cuộc phát triển kinh tế–xã hội của đất nước. Liên hợp quốc trở thành một diễn đàn để
Việt Nam triển khai các yêu cầu của chính sách đối ngoại. Vị thế và vai trò của Việt
Nam tại Liên hợp quốc ngày càng được nâng cao.
Đặc biệt, với việc ta đã được bầu làm thành viên không thường trực Hội đồng Bảo an
Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2008-2009, có thể nói, vị thế và vai trò của ta tại Liên hợp
quốc được nâng cao nhất từ trước đến nay.
Việt Nam và ASEAN ( 1995 – 2011 ).
Tiến trình Việt Nam gia nhập ASEAN.
Ngày 28/7/1995, tại Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN lần thứ 28 (AMM-28) tại
“đoàn kết rộng rãi, đoàn kết chân thành mọi thành viên trong xã hội có thể đoàn kết
được, không phân biệt quá khứ, thành phần giai cấp, dân tộc, tôn giáo, ở trong nước hay
ở nước ngoài trên cơ sở mục tiêu chung là giữ vững độc lập thống nhất chủ quyền và
toàn vẹn lãnh thổ quốc gia vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân
chủ, văn minh”, đoàn kết giữa nhân dân với nhân dân các nước trên thế giới, phát huy
sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc để trở thành động lực chủ yếu để xây dựng và bảo
vệ vững chắc tổ quốc. Khơi dậy và phát huy cao độ sức mạnh nội lực, phải xuất phát từ
lợi ích dân tộc, từ phát huy nội lực dân tộc mà mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế, tranh
thủ mọi khả năng có thể tranh thủ được để xây dựng, phát triển đất nước. Đồng thời,
phải khắc phục được những tiêu cực của kinh tế thị trường, đặc biệt tâm lý chạy theo
đồng tiền, cạnh tranh không lành mạnh làm phai nhạt truyền thống đoàn kết, tình nghĩa
tương thân tương ái của dân tộc, giải quyết đói nghèo, thu hẹp khoảng cách, ranh giới
giữa nông thôn và thành thị, củng cố khối đại đoàn kết 54 dân tộc anh em, chăm lo đời
sống đồng bào dân tộc ít người, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa, tôn trọng tín ngưỡng tôn
giáo, các tập quán tốt đẹp của dân tộc, kiên quyết loại bỏ những âm mưu lợi dụng tôn
giáo, tà giáo để gây rối. Phải xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh và phải
chống các tệ nạn xã hội. Trong điều kiện thực hiện chính sách mở cửa, hội nhập quốc tế,
đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại trong xu thế khu vực hóa, toàn cầu hóa
kinh tế ngày càng phát triển, đòi hỏi phải củng cố sự đoàn kết với phong trào cách mạng
các nước, đồng thời phải nắm vững phương châm ngoại giao mềm dẻo, có nguyên tắc
nhằm thực hiện thắng lợi chính sách đối ngoại hiện nay của đảng và nhà nước ta là: việt
25