Phát huy vai trò giáo dục - đào tạo trong phát triển nhân cách học sinh trường cao đẳng Công nghiệp Hưng Yên hiện nay - Pdf 25


1 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

 Trang

Mở đầu

4
Chƣơng 1
Những vấn đề lý luận về phát huy vai trò giáo
dục - đào tạo trong phát triển nhân cách học sinh
Trƣờng Cao đẳng Công nghiệp Hƣng Yên

10
1.1
Tiếp cận vấn đề phát triển nhân cách học sinh
Trường Cao đẳng Công nghiệp Hưng Yên

10
1.2
Thực chất phát huy vai trò giáo dục - đào tạo trong
phát triển nhân cách học sinh ở Trường Cao đẳng
Công nghiệp Hưng Yên

27
Chƣơng 2
Tình hình và giải pháp cơ bản phát huy vai trò
giáo dục - đào tạo trong phát triển nhân cách học
sinh ở Trƣờng Cao đẳng Công nghiệp Hƣng Yên
hiện nay


đầu trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Phát triển giáo
dục - đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp
công nghiệp hoá, hiện đại hoá, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người -
yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững.
Mục tiêu sự nghiệp giáo dục - đào tạo của đất nước trong thời kỳ mới là
nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài và phát triển nhân
cách. Trong đó, mục tiêu của mọi quá trình giáo dục - đào tạo xét đến cùng
chính là hình thành và phát triển nhân cách con người , theo đó, các thế hệ trẻ
Việt Nam thực sự kế tục được sự nghiệp cách mạng khi được rèn giũa vừa
hồng, vừa chuyên như Chủ tịch Hồ Chí Minh hằng căn dặn.
Từ sự nỗ lực của hệ thống giáo dục quốc dân nói chung, hệ thống trường
đại học, cao đẳng nói riêng trong thực hiện quan điểm của Đảng và tư tưởng
Hồ Chí Minh về kết hợp giữa “dạy chữ” với “dạy người”, có thể thấy những
thành tựu đạt được là hết sức cơ bản. Các cơ sở đào tạo trong cả nước đều
không chỉ quan tâm đến việc nâng cao chất lượng đào tạo về kiến thức,
chuyên môn, mà còn quan tâm đến sự phát triển toàn diện cho học sinh, sinh
viên. Tuy nhiên, những hạn chế, bất cập trong việc giáo dục phát triển nhân
cách cho người học cũng không phải là hiện tượng cá biệt. Đó là một trong
những lực cản rất lớn đối với sự nghiệp đổi mới để đưa nước ta tiếp cận nền
kinh tế tiên tiến trước sự phát triển như bão táp của khoa học công nghệ và sự

4
tác động ngày càng mạnh mẽ, đa diện của cơ chế thị trường; những vận hội và
thách thức khi bước vào hội nhập WTO…
Đối với Trường Cao đẳng Công nghiệp Hưng Yên, những hạn chế, bất
cập ấy thể hiện ở chỗ: việc thực hiện mục tiêu, yêu cầu đào tạo đội ngũ cán
bộ, nhân viên kinh tế, kỹ thuật nghiệp vụ và công nhân có tay nghề cao, có
khả năng đáp ứng yêu cầu công việc ở các doanh nghiệp trong thời kỳ đẩy
mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước chưa thực sự gắn bó chặt chẽ
với quá trình giáo dục toàn diện; các môn học chuyên môn kỹ thuật và các

thực nâng cao chất lượng hoạt động giảng dạy, nghiên cứu, học tập ở các nhà
trường chuyên nghiệp. Vấn đề này đã được các nhà lý luận trong nước nghiên
cứu, trong đó có những công trình khoa học bàn đến như:
Chương trình KX.07 "Vấn đề con người trong sự nghiệp công nghiệp
hoá, hiện đại hoá" (NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1997) đã tập tung bàn
về vấn đề con người và vai trò của con người đối với sự nghiệp công nghiệp
hóa, hiện đại hóa, từ đó nhấn mạnh vai trò của giáo dục - đào tạo trong nâng
cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài.
"Phát triển giáo dục, đào tạo, khoa học và công nghệ tạo nguồn nhân lực
công nghiệp hoá" của Phạm Văn Khánh (Tạp chí Lịch sử Đảng) đề cập đến
nội dung, biện pháp cơ bản trong phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo và
khoa học - công nghệ theo hướng tập trung tạo nguồn nhân lực cho sự nghiệp
công nghiệp hoá đang được đẩy mạnh hiện nay.
“Xây dựng nhân cách học sinh, sinh viên Trường Cao đẳng Sư phạm
Nha Trang hiện nay - thực trạng và giải pháp” của Vũ Thị Kim Oanh (Luận
văn Thạc sĩ triết học, Hà Nội, 2006) đi sâu luận giải những đặc điểm nổi bật
của đối tượng sinh viên Trường Cao đẳng Sư phạm Nha Trang, thực trạng
công tác giáo dục nhân cách học sinh, sinh viên của nhà trường và đề xuât

6
một số giải pháp khả thi nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đó trong quá
trình đào tạo.
“Vấn đề xây dựng nhân cách cho học viên trong các trường sĩ quan Quân
đội nhân dân Việt Nam hiện nay” của Hoàng Đình Tỉnh (Luận văn Thạc sĩ
triết học, Hà Nội, 2002) đã dựa trên cơ sở phương pháp luận triết học để giải
quyết mối quan hệ giữa đào tạo và giáo dục nhân cách học viên ở các trường
sĩ quan quân đội, từ đó đề xuât một số giải pháp nhằm kết hợp công tác giáo
dục với quá trình đào tạo để xây dựng đội ngũ sĩ quan toàn diện.
Những công trình trên của các tác giả đã đề cập đến nhiều khía cạnh
khác nhau về nguồn lực con người, về phát triển nhân cách cùng những đề

của Đảng, hệ thống chính sách và pháp luật của Nhà nước về chiến lược phát
triển con người, về quốc sách giáo dục đào tạo và khoa học công nghệ. Luân
văn còn kế thừa những kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học gần
đây có liên quan mật thiết đến vấn đề nghiên cứu của đề tài.
Cơ sở thực tiễn của đề tài luận văn là thực trạng giáo dục và đào tạo của
Trường Cao đẳng Công nghiệp Hưng Yên hiện nay, đặc biệt là các báo cáo,
tài liệu tham khảo của Phòng Tổ chức cán bộ, Phòng Đào tạo, cũng như
những công trình tổng kết thực tiễn khác có liên quan. Đề tài còn dựa vào kết
quả trực tiếp khảo sát, điều tra xã hội học của tác giả về vấn đề nghiên cứu.
Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài luận văn được tập trung tiếp cận từ góc độ triết học, dựa chắc trên
cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.
Luận văn vận dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học
chung như lịch sử - lôgic, phân tích - tổng hợp, tiếp cận giá trị, loại suy

8
lôgic kết hợp chặt chẽ với khảo sát, điều tra thực tiễn và phương pháp
chuyên gia.
Các phương pháp nghiên cứu nói trên được sử dụng phù hợp với yêu cầu
của từng nội dung trong luận văn.
6. Đóng góp của luận văn
Về khoa học:
Góp phần làm rõ vấn đề phát huy vai trò giáo dục - đào tạo trong phát
triển nhân cách học sinh ở các trường cao đẳng và trung học chuyên nghiệp
trong điều kiện hiện nay.
Có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong giảng dạy và nghiên cứu khoa
học về những vấn đề liên quan.
Về thực tiễn:
Làm cơ sở khoa học cho hoạt động đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo
ở Trường Cao đẳng Công nghiệp Hưng Yên hiện nay.

phát triển của nhà trường kể từ khi còn là Trường trung học đến nay đã đào
tạo được trên 50.000 cán bộ, công nhân kỹ thuật và cán bộ quản lý.
Mục tiêu đào tạo của Trường là: Đào tạo người lao động có kiến thức, kỹ
năng nghề nghiệp ở trình độ cao đẳng và các trình độ thấp hơn, có đạo đức,
lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khoẻ,
tạo khả năng cho người lao động tìm việc làm.

10
Nhiệm vụ chủ yếu của Trường là: Đào tạo cán bộ cao đẳng kinh tế kỹ
thuật, trung cấp kinh tế kỹ thuật và công nhân kỹ thuật. Tổ chức đào tạo các
ngành học được giao, đảm bảo chất lượng đào tạo toàn diện (phẩm chất, năng
lực và thể chất). Tổ chức liên kết đào tạo với các trường Đại học trong hệ
thống giáo dục quốc dân nhằm đáp ứng nhu cầu cung cấp nguồn nhân lực cho
ngành công nghiệp và cho xã hội. Tổ chức hoạt động nghiên cứu khoa học
phục vụ đào tạo, phục vụ sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế xã hội, phát
triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo.
Ngành nghề đào tạo của Trường là:
- Đào tạo trung học, trình độ cao đẳng, gồm:
1. Hạch toán kế toán
2. Công nghệ kỹ thuật điện - điện tử
3. Công nghệ may thời trang
- Đào tạo trung học, trình độ trung cấp chuyên nghiệp, gồm:
1. Hạch toán kế toán
2. Công nghệ thông tin
3. Trung cấp điện công nghiệp và dân dụng
4. Trung cấp điện tử
- Đào tạo trung cấp nghề (Do Sở Lao động, Thương binh và Xã hội
quản lý theo lãnh thổ), gồm:
1. Kỹ thuật điện tử bậc 3/7
2. May công nghiệp bậc 3/6

hướng giá trị đúng đắn, khơi dậy tiềm năng sáng tao giúp cho học sinh, sinh
viên có thể tự nhận thức được bản thân mình, tự đánh giá khả năng của mình
về mọi mặt.

12
Về xu thế hướng nghiệp, tuy có nhiều ngành học, bậc học khác nhau, cả
sinh viên cao đẳng, học sinh trung học chuyên nghiệp và học sinh trung cấp
nghề, nhưng hầu hết học sinh, sinh viên đều xác định được xu hướng nghề
nghiệp của mình sau này chính là những cán bộ, nhân viên kinh tế, kỹ thuật
nghiệp vụ và công nhân kỹ thuật trong tương lai. Đó là thuận lợi cơ bản để
mỗi người xác định cần phấn đấu hết mình để có trình độ chuyên môn, tay
nghề cao đáp ứng yêu cầu công việc ở các doanh nghiệp, của xã hội trong thời
kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Mặt khác, đại đa số học
sinh, sinh viên đều xác định đúng mục tiêu và phương hướng phấn đấu toàn
diện để trở thành những con người có nhân cách tốt. Tuy nhiên, học sinh, sinh
viên của Trường, cũng như ở các trường cao đẳng và trung học chuyên nghiệp
khác trong hệ thống giáo dục quốc gia, có trình độ học vấn đầu vào còn thấp.
Hầu hết đều thuộc đối tượng học sinh thi vào các trường đại học không đủ
điểm và chính điều này đã tạo nên tâm lý thiếu yên tâm trong học tập của một
số học sinh, sinh viên, thậm chí có người nhập học chỉ với tính chất “học
tạm”, “ học cho bố, mẹ ”… và rất nhiều lý do thiếu lành mạnh khác. Điều này
đã gây không ít ảnh hưởng tiêu cực tới việc học tập cũng như quá trình phát
triển, hoàn thiện nhân cách học sinh, sinh viên của Trường.
Về điều kiện và môi trường học tập, đại bộ phận học sinh, sinh viên xuất
thân từ gia đình lao động. Tiềm lực kinh tế gia đình của một số học sinh, sinh
viên tuy chưa khá giả, nhưng các gia đình đều đáp ứng những nhu cầu cơ bản,
các chi phí cần thiết cho học tập và sinh hoạt, nên ý thức phấn đấu trong học
tập cơ bản là tốt. Hơn nữa, được học tập tại một nhà trường giàu truyền thống,
với hệ thống cơ sở vật chất khá khang trang phục vụ cho hoạt động dạy và
học, luôn nhận được sự quan tâm giúp đỡ và tạo điều kiện của Đảng ủy, Ban

học nhân cách. Theo A-G-Côvaliôp, nhân cách là con người với tư cách là kẻ
cung cấp toàn bộ thuộc tính và phẩm chất tâm lý, quy định các hình thức hoạt
động và hành vi có ý nghĩa xã hội. Nói cách khác, nhân cách chính là một bộ
mặt tâm lý của mỗi con người cụ thể. Trong xã hội, diện mạo tâm lý riêng của

14
một người nổi bật lên một nhân cách công dân, và xây dựng nhân cách chính
là tạo ra những con người vừa có đạo lý, vừa có nhân lý, vừa có công lý.
Theo quan điểm giáo dục học, nhân cách được định nghĩa như sau:
"Nhân cách là tổ hợp những đặc điểm, những thuộc tính tâm lý của cá nhân,
biểu hiện bản sắc và giá trị của con người"[51, tr.170]. Từ điển tiếng Việt
cũng nêu định nghĩa: "Nhân cách là tư cách và phẩm chất của con người"[52].
Ngày nay, một số nhà khoa học còn đưa ra quan niệm tương đối tổng hợp và
rộng rãi hơn về nhân cách: Nhân cách là toàn bộ những năng lực và phẩm
chất xã hội – sinh lý – tâm lý tạo thành một chỉnh thể mà nhờ đó mỗi cá nhân
có thể đóng vai trò chủ thể tự ý thức, tự đánh giá, tự khẳng định và tự điều
chỉnh mọi hoạt động của mình.
Tiếp cận khái quát các quan niệm trên đây dưới góc độ phương pháp
luận của chủ nghĩa duy vật biện chững và duy vật lịch sử cho thấy: Thứ nhất,
bàn đến nhân cách trước hết phải bàn đến toàn bộ các tố chất của con người
trong tính chỉnh thể của nó, bao gồm các tố chất bên trong gọi là phẩm chất,
và toàn bộ khả năng bộc lộ ra bên ngoài gọi là năng lực. Chủ tịch Hồ Chí
Minh từng nhiều lần khái quát trong quan niệm của Người về Đức và Tài
hoặc Hồng và Chuyên để chỉ hai mặt cơ bản của nhân cách. Thứ hai, nói
đến nhân cách dứt khoát phản bàn đến mối quan hệ của nó với các tiền đề sản
sinh ra nó, tức là hoàn cảnh nảy sinh nhân cách, cũng như quá trình giáo dục.
Như Chủ tịch Hồ Chí Minh khái quát: Ngọc càng mài càng sáng, vàng càng
luyện càng trong. Thứ ba, nói đến nhân cách không thể tách khỏi nói đến vai
trò xã hội của nó với tư cách chủ thể các quan hệ xã hội, chủ thể của mọi hoạt
động người, từ hoạt động nhận thức đến hoạt động thực tiễn. Chủ tịch Hồ Chí

khái quát những phẩm chất cơ bản như phẩm chất chính trị - đạo đức, phẩm
chất trí tuệ, phẩm chất tâm – sinh lý Theo tiêu chí đó, phẩm chất của học
sinh, sinh viên Trường Cao đẳng Công nghiệp Hưng Yên được cụ thể hóa
gồm: Về phẩm chất chính trị, đó là giàu lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội,
tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, vào sự thắng lợi của sự nghiệp đổi mới,
có lý tưởng sống cao đẹp, tinh thần tự cường dân tộc, ý thức đầy đủ về trách

16
nhiệm công dân, ý thức chấp hành kỷ cương pháp luật. Về đạo đức, đó là lòng
trung thực, lương thiện, tình thương yêu con người và lòng nhân hậu, lối sống
trong sạch và lành mạnh. Về trí tuệ, đó là có tri thức toàn diện và chuyên sâu,
tích cực học tập để trở thành những người lao động lành nghề có kỹ thuật cao.
Về bản lĩnh, đó là biết thường xuyên rèn luyện thể lực và trí lực, làm chủ bản
thân, biết vượt khó vươn lên, dám đấu tranh chống lại sự bất công, chống lại
những hành vi sai trái. Đặc biệt trong nhân cách học sinh, sinh viên thì phẩm
chất trí tuệ và phẩm chất chính trị - đạo đức là những yếu tố nổi trội, bởi đây
là tiền đề tối cần thiết trong quá trình học tập và rèn luyện tại trường.
Năng lực cũng là một mặt cơ bản cấu thành nhân cách. Về thực chất đó
là sự thể hiện, bộc lộ ra của các yếu tố tiềm năng bên trong. Phẩm chất con
người chỉ được bộc lộ ra bằng năng lực ứng xử, hoạt động tương ứng. Do vậy,
cấu trúc của năng lực tương dung với từng thành phần của cấu trúc phẩm
chất. Mặt khác, có thể xem xét các góc độ thể hiện gồm: năng lực nhận thức
và năng lực hành động, năng lực tư duy lý luận và năng lực hoạt động thực
tiễn, năng lực tái tạo và năng lực sáng tạo, năng lực lãnh đạo - quản lý và
năng lực chuyên môn nghiệp vụ Trong hệ thống năng lực của học sinh, sinh
viên Trường Cao đẳng Công nghiệp Hưng Yên, năng lực nhận thức, tư duy và
năng lực rèn luyện, ứng xử là những yếu tố nổi trội, liên quan trực tiếp đến
kết quả học tập và rèn luyện theo mục tiêu, yêu cầu đào tạo. Năng lực ấy được
biểu hiện tổng hợp ở các khả năng tiếp thu và tích lũy kiến thức, thông tin,
khả năng chọn lọc, xử lý thông tin, vận dụng vào thực tiễn, có khả năng thích

trong cuộc sống và đặc biệt là thông qua quá trình giáo dục có mục đích, có
tính tự giác cao. Như vậy, giáo dục - đào tạo là một phương thức cơ bản, là
con đường ngắn nhất, hiệu quả nhất nhằm phát triển nhân cách. Nghiên cứu
về quá trình phát triển nhân cách học sinh ở các nhà trường không thể tách rời
ba nhân tố quan trọng trên, cũng có nghĩa là nghiên cứu quan hệ hết sức
phong phú, phức tạp và đa dạng nhiều chiều của con người với hoàn cảnh và
con người với chính con người.

18
Trước hết, con người và nhân cách con người chủ yếu là sản phẩm của
hoàn cảnh, của môi trường, của xã hội, đồng thời chính con người lại là chủ
thể biến đổi và cải tạo hoàn cảnh đó. Song, tiền đề đầu tiên để hình thành
nhân cách phải dựa trên cơ sở sinh học, tức là phải coi nhân cách như một con
người có sự phát triển đầy đủ, không khiếm khuyết về cơ thể, giác quan và
khả năng tư duy. Đây chính là tiền đề vật chất, là yếu tố sinh học không thể
thiếu. Sự tăng trưởng về lượng và sự biến đổi về chất trong nhân cách con
người ở một chừng mực nhất định phụ thuộc vào những khả năng mầm mống,
những tố chất bẩm sinh được di truyền. Tuy nhiên, cho dù các yếu tố vật chất
ấy có đầy đủ, hoàn thiện đến đâu thì vẫn chỉ là điều kiện cần, bởi vì nhân cách
được hình thành cùng với sự phát triển của cá nhân cả về mặt thể chất và về
những kinh nghiệm xã hội được tích hợp trong quá trình giao tiếp xã hội, chịu
sự quy định của hoàn cảnh xã hội. Nếu chỉ có tiền đề sinh học không thôi thì
chưa đủ để con người trở thành nhân cách đúng với ý nghĩa: “Trong tính hiện
thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội” [43, tr.11].
Đa số các nhà nghiên cứu cho rằng, khi mới sinh ra con người chỉ là một
cá thể, chưa phải một nhân cách hoàn chỉnh: "Nhân cách cũng không có sẵn
bằng cách bộc lộ dần dần những xung động bản năng nguyên thủy mà một lúc
nào đó đã bị kiềm chế, chèn ép"[25]. Chỉ khi trải qua quá trình sống từ nhỏ
đến lúc trưởng thành, con người mới dần dần lĩnh hội được nội dung nhân
cách mang tính loài riêng có của con người, được chứa đựng trong các mối

rồi lớn lên dần về lượng trong thời gian và không gian. Nhân cách được hình
thành và phát triển trong hoạt động và giao lưu của con người. Chính trong
trong quá trình sống, tất yếu mỗi con người phải hoạt động, giao lưu thông
qua lao động, học tập, sinh hoạt, giải trí , từ đó dần dần lĩnh hội những kinh
nghiệm mà nhân loại đã tích lũy được trong các hoạt động. Nhưng kinh
nghiệm xã hội ấy được thấm vào vốn sống của cá nhân đến mức nào là tùy
theo cường độ, phạm vi tham gia của họ vào các hoạt động trong đời sống xã
hội. Mặt khác, sự phát triển nhân cách là một quá trình cải biến toàn bộ các tố

20
chất thể chất, tinh thần cả về lượng và chất, có tính đến đặc điểm của mỗi lứa
tuổi. Đó chính là quá trình hình thành và phát triển nhân cách của mỗi con
người, được biểu hiện qua hai nhóm dấu hiệu cơ bản: dấu hiệu phát triển về
mặt tâm – sinh lý và dấu hiệu phát triển về mặt kinh nghiệm xã hội.
Quan niệm về phát triển nhân cách còn phải vạch rõ phương thức và
khuynh hướng cơ bản của tiến trình phát triển. Tiến trình phát triển nhân cách
con người nói chung có thể được phân định thành các giai đoạn chủ yếu sau:
Giai doạn vị thành niên phát triển mạnh về thể chất và từng bước tiếp nhận
những kinh nghiệm xã hội. Giai đoạn thanh niên bắt đầu định hình và hoàn
thiện tâm – sinh lý, phát triển những yếu tố thể chất theo hướng chuyên hóa
nghề nghiệp xã hội, đồng thời tiếp thụ và phân tích các kinh nghiệm xã hội.
Giai đoạn trung niên ít có bước nhảy vọt về tâm – sinh lý, mà có sự định hình
lớn về mặt xã hội, có thể tự khái quát hóa kinh nghiệm xã hội. Giai đoạn
người cao tuổi bắt đầu có sự thoái hóa về mặt thể chất, song giàu kinh nghiệm
xã hội và biết tổng kết kinh nghiệm sống, tất nhiên dễ bảo thủ và trì trệ.
Từ cách tiếp cận trên, có thể lý giải quá trình phát triển nhân cách học
sinh, sinh viên Trường Cao đẳng Công nghiệp Hưng Yên ở cả ba bình diện cơ
bản: nội dung phát triển, phương thức phát triển và tiến trình phát triển.
Trong nội dung phát triển nhân cách học sinh, sinh viên Trường Cao
đẳng Công nghiệp Hưng Yên, sự phát triển tâm - sinh lý trong thời gian học

củng cố niềm tin, định hình về mặt chính trị – xã hội gắn với đấu tranh phê
phán các phản giá trị để mỗi người sau khi ra trường có đủ phẩm chất và năng
lực, vững vàng trong cuộc sống, hoà nhập được vào mọi quan hệ chính trị,
kinh tế, xã hội, văn hoá, đạo đức, giao tiếp cộng đồng…
Về mặt tư duy lý luận, quá trình phát triển nhân cách học sinh, sinh viên
Trường Cao đẳng Công nghiệp Hưng Yên trước hết là quá trình không ngừng
nâng cao tri thức khoa học và năng lực nhân thức để hình thành thế giới quan
và phương pháp luận khoa học. Trên cơ sở đó, mỗi học sinh, sinh viên không
ngừng tự đổi mới cách nhìn, tầm nhìn, cách tư duy, cách nhận thức cho phù
hợp, tăng khả năng lý giải, phân tích sự vận động phát triển của đời sống hiện

22
thực. Chính thông qua những bước phát triển mới về năng lực tư duy và năng
lực nhận thức khoa học mà mỗi sinh viên nâng cao được nhận thức chính trị,
tư tưởng, tự giác nâng cao trình độ tư duy lý luận của mình, trong đó sự định
hình về thế giới quan duy vật và phương pháp luận biện chứng là một nội
dung cực kỳ quan trọng. Bởi lẽ, thế giới quan là hệ thống tổng hợp những
quan điểm cơ bản nhất, khái quát nhất của con người về thế giới, bao gồm cả
thế giới bên ngoài (tự nhiên xã hội) và thế giới bên trong của con người (tư
tưởng, tình cảm, niềm tin và lý tưởng, phương châm xử thế và những nguyên
tắc hành động). Đó chính là sự phản ánh toàn cục của ngoại giới vào ý thức,
là quan niệm của bản thân, vị trí của bản thân trong thế giới, cũng là thái độ
của con người với chính mình, với thực tại khách quan. Phương pháp luận là
một hệ thống các quan điểm có tính chất nguyên tắc được chủ thể lấy làm tiền
đề xuất phát cho việc lựa chọn các phương pháp tác động vho phù hợp vào
đối tượng. Sự định hình thế giới quan khoa học và phương pháp luận biện
chứng đối với học sinh, sinh viên Trường Cao đẳng Công nghiệp Hưng Yên
không chỉ là một trong những kiến thức cơ bản cần được đào tạo, mà còn thực
sự là kim chỉ nam cho hành động, biến chuyển từ tri thức thành phương pháp,
biết sử dụng tri thức một cách tổng hợp và có hệ thống, dùng phương pháp đó

Trước hết, phương thức phát triển nhân cách học sinh, sinh viên Trường
Cao đẳng Công nghiệp Hưng Yên là sự cụ thể hoá các quy luật chung của quá
trình phát triển nhân cách. Đó là quy luật về sự phụ thuộc của quá trình phát
triển nhân cách vào các phương diện đời sống xã hội như kinh tế, chính trị,
văn hoá, xã hội…; quy luật về sự phụ thuộc của quá trình phát triển nhân cách
vào mặt bằng dân trí và trình độ phát triển giáo dục của quốc gia; đặc biệt là
những quy luật nội tại của sự hình thành và phát triển nhân cách, trực tiếp và
tập trung nhất ở quy luật nhập thân văn hoá. Có thể nói nhân cách con người
không bao giờ chỉ hình thành một lần là hoàn chỉnh, mà quá trình hình thành,
phát triển diễn ra liên tục trong suốt cuộc đời mỗi con người. Các nhà nghiên
cứu thường căn cứ theo các giai đoạn phát triển của đời người để phân chia
các giai đoạn phát triển nhân cách và tìm ra các phương thức phát triển phù

24
hợp với từng độ tuổi. Như Khổng Tử từng khái quát: tam thập nhi lập (ở độ
tuổi ba mươi thì lập thân), tứ thập nhi bất hoặc (ở độ tuổi bốn mươi thì có độ
khẳng định lớn đối với mỗi quyết định của bản thân), ngũ thập nhi tri thiên
mệnh (ở độ tuổi năm mươi có khả năng lớn trong tổng kết kinh nghiệm sống),
lục thập nhi nhĩ thuận (ở độ tuổi sáu mươi thường dồn tâm lực để bảo ban con
cháu)… Theo đó, có thể coi phương thức phát triển nhân cách học sinh, sinh
viên của Trường Cao đẳng Công nghiệp Hưng Yên tương ứng với độ tuổi
chuẩn bị lập thân, với cách thức từng bước định hình là chủ yếu.
Đặc biệt, phương thức phát triển nhân cách học sinh, sinh viên Trường
Cao đẳng Công nghiệp Hưng Yên tập trung thể hiện ở sự tác động trực tiếp
của các nhân tố sư phạm trong phạm vi nhà trường như: giáo dục - đào tạo;
sinh hoạt cộng đồng; hoạt động và rèn luyện của học sinh, sinh viên; giao tiếp
sư phạm và giao tiếp thông thường , trong đó giáo dục - đào tạo giữ vai trò
chủ đạo. Việc nhà trường luôn quan tâm đến công tác giáo dục tổng hợp luôn
tạo động lực quan trọng không chỉ góp phần nâng cao trình độ nhận thức của
học sinh, sinh viên, phát triển năng lực tưy duy và năng lực thực tiễn, mà còn

Năm thứ hai ứng với thời kỳ định hình nhân cách học sinh, sinh viên của
mỗi người. Học sinh, sinh viên bắt đầu vào học các môn chuyên ngành và ở
một mức độ nhất định đã có sự ổn định tương đối về mặt phát triển trí tuệ, cả
về nội dung tri thức khoa học và cả về phương pháp tư duy. Đây cũng là thời
kỳ học sinh, sinh viên khẳng định rõ hơn xu hướng nghề nghiệp, bắt đầu tích
luỹ những kinh nghiệm cần thiết cho việc từng bước làm quen và trau dồi tay
nghề chuyên môn kỹ thuật của mình. Các kinh nghiệm xã hội khác cũng đã có
bước tích luỹ lớn, bởi sau một năm tự phấn đấu, trèn luyện trong môi trường
tập thể, học sinh, sinh viên tỏ ra trưởng thành hơn. Quá trình học tập, rèn
luyện, giao tiếp trong nhà trường còn được mở thông với môi trường xã hội
qua các hoạt động bổ ích giúp học sinh, sinh viên từng bước tích luỹ vốn
sống, khẳng định vị thế công dân trong xã hội, tự tin hơn, dám nghĩ, dám làm,
dám chịu trách nhiệm về quá trình hoàn thiện nhân cách của mình.

Trích đoạn Tích cực hoá hoạt động của các chủ thể giáo dục đào tạo Xây dựng môi trường văn hoá sư phạm tốt đẹp, lành mạnh Phát huy vai trò giáo dục đào tạo trong phát triển nhân cách học sinh ở Trường Cao đẳng Công nghiệp Hưng Yên hiện nay đòi hỏi phải tiến hành Phạm Văn Đồng (1995), Văn hoá và đổi mới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 21 Nguyễn Hồng Hà (2001), Văn hoá truyền thống dân tộc với việc giáo dục
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status