LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn là kết quả nghiên cứu khoa học độc lập và có sự
tham khảo từ các tài liệu, thông tin được đăng tải trên các ấn phẩm, tạp chí và các
trang web theo danh mục tài liệu tham khảo trong luận văn.
Tác giả luận văn
Nguyễn Đình Thi
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi luôn
nhận được sự giúp đỡ quý báu của Quý thầy cô, các đồng nghiệp, gia đình và bạn
bè.
1
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin được bày tỏ lời cảm ơn tới
các thầy cô giáo giảng viên Học viện Hành chính Quốc gia đã nhiệt tình giảng dạy
trong suốt thời gian qua. Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn, chỉ
bảo tận tình của giảng viên hướng dẫn khoa học: Tiến sĩ Bế Trung Anh – Giám
đốc Trung tâm Tin học Hành chính và Công nghệ Thông tin, Học viện Hành chính
Quốc gia.
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Ban Giám hiệu trường Cao đẳng Công
nghiệp In, các bạn đồng nghiệp, gia đình và bạn bè đã tạo mọi điều kiện thuận lợi
trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Trong quá trình nghiên cứu thực hiện luận văn, tôi đã dành nhiều thời gian
và công sức. Tuy có nhiều nỗ lực, cố gắng nhưng trong giai đoạn đầu của nghiên
cứu khoa học, có nhiều kiến thức lý luận và thực tiễn lần đầu tôi được tiếp cận, vì
vậy luận văn không tránh khỏi những thiếu sót. Tôi rất mong nhận được sự đóng
góp ý kiến quý báu của các thầy, cô giáo và đồng nghiệp giúp tôi hoàn thiện hơn.
Xin trân trọng cảm ơn!
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài luận văn
Bước sang Thế kỷ XXI, chúng ta đang trong xu thế của thời đại hội nhập và
toàn cầu hóa với nền kinh tế tri thức và khoa học công nghệ phát triển mạnh mẽ, mặt
khác cùng với tình hình kinh tế - xã hội trong nước và trên thế giới ngày càng có
nhiều biến động đã đặt các ngành nói chung, ngành giáo dục và đào tạo nói riêng
vào vị trí đối mặt trước nhiều cơ hội và thách thức lớn.
Trong nền kinh tế tri thức, giáo dục được coi là yếu tố then chốt, là bộ phận
trung tâm. Theo qui luật của sự vận động thì thế giới không ngừng đổi thay, tri
thức của nhân loại không ngừng phát triển, và giáo dục chính là chìa khóa để con
người có thể theo kịp sự tiến hóa của nhân loại. Cải cách giáo dục là yêu cầu bức
thiết của thời đại để ứng phó thành công trước những thay đổi nhanh chóng và
khó lường của một thế giới bị tác động bởi quá trình toàn cầu hóa với bước
chuyển sang kinh tế tri thức, sự bùng nổ của công nghệ thông tin và truyền thông,
cùng những bài toán toàn cầu liên quan đến sự phát triển bền vững như dân số,
môi trường, thiên tai, dịch bệnh, chiến tranh…
Công cuộc cải cách giáo dục Việt Nam được khởi xướng từ năm 1982
theo Nghị quyết của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V. Nghị quyết Đại hội Đại hội
Đảng toàn quốc lần thứ VII, năm 1991 thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước
trong thời kỳ lên chủ nghĩa xã hội, trong đó khẳng định “Khoa học và công nghệ,
giáo dục và đào tạo phải được coi là quốc sách hàng đầu” (Cương lĩnh, 1991).
Nhìn lại quá trình từ khi đổi mới đến nay, sự nghiệp giáo dục và đào tạo
của nước ta trong những năm qua đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận:
cả nước đã hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học và giáo dục trung học cơ sở; hệ
thống giáo dục từ phổ thông đến đại học ngày càng hoàn thiện và đang phát triển
theo hướng đa dạng hoá, đáp ứng yêu cầu học tập ngày càng cao của xã hội. Với
22 triệu người đi học trên tổng số hơn 80 triệu dân, Việt Nam đã được Tổ chức
Giáo dục, Khoa học và Văn hoá Liên hợp quốc (UNESCO) xếp thứ 64/127 nước
rườm rà, tiết kiệm thời gian và giảm chi phí; phân công phân nhiệm và quy định
sự phối hợp rõ ràng, tăng cường ý thức, trách nhiệm phục vụ làm thoả mãn khách
hàng; việc lưu giữ hồ sơ tuân thủ đúng các quy định, phát huy việc ứng dụng công
nghệ thông tin đảm bảo thuận tiện cho tra cứu, soát xét…
Triển khai áp dụng hệ thống QLCL ISO 9001 trong các cơ sở giáo dục đại
học Việt Nam được xem là mới mẻ. Theo Báo cáo của Tổng cục Tiêu chuẩn - Đo
lường - Chất lượng Việt nam tính đến tháng 3/2011, cả nước có hơn 30 trường
cao đẳng, đại học áp dụng hệ thống QLCL ISO 9001, một số trường đại học đã áp
dụng ISO 9001 khá thành công như: trường đại học Y Hà Nội, trường đại học
Quốc Gia Hà Nội, trường đại học Văn Hóa, trường đại học Hồng Đức, trường đại
học Kinh tế TP.HCM…Tuy nhiên, ngoài một số báo cáo, bài viết về kinh nghiệm áp
dụng ISO 9001 thì hiện tại có rất ít đề tài đánh giá tác động của hệ thống QLCL
ISO 9001 khi áp dụng vào lĩnh vực giáo dục nói chung, các cơ sở giáo dục đại học
Việt Nam nói riêng.
6
Trường Cao đẳng Công nghiệp In với bề dày lịch sử trên 50 năm xây dựng,
phát triển và trưởng thành, bên cạnh những thành tích đạt được vẫn còn tồn tại
nhiều bất cập, hạn chế như: Lý luận về phát triển giáo dục trong điều kiện kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế chưa được nghiên
cứu đầy đủ; Tư duy về quản lý chất lượng chậm đổi mới, hoạt động quản lý còn
sự vụ, chồng chéo và phân tán; chất lượng giáo dục còn thấp so với yêu cầu phát
triển trong thời kỳ mới. Để thực hiện sứ mạng quan trọng là một cơ sở Đào tạo,
Bồi dưỡng nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực In, Thông tin và Truyền
thông, là Trung tâm nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ và dịch vụ kỹ
thuật, tích cực hội nhập, liên kết và hợp tác quốc tế góp phần thực hiện những
mục tiêu, nhiệm vụ chính trị, kinh tế và văn hoá xã hội của ngành, của đất nước.
Trong thời gian tới, việc áp dụng hệ thống QLCL tiêu chuẩn TCVN ISO 9001:2008
cần tiếp tục được quan tâm nghiên cứu, coi đó là một trong những giải pháp quan
nay ở Việt Nam, Tạp chí kinh tế và phát triển số 79
+ Trương Quang Dũng (2004), Áp dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO
9000 trong các mô hình hành chính công, Tạp chí Quản lý Nhà nước số 8.
+ Thanh Bình (2005), Các hệ thống quản lý chất lượng quốc tế, Tạp chí
Thương mại số 12.
+ Nguyễn Hữu Thái Hoà (2007), Hành trình văn hoá ISO và giấc mơ chất
lượng Việt Nam, NXB Trẻ thành phố Hồ Chí Minh. Cuốn sách giới thiệu hành trình
đến với những giá trị đích thực của ISO; so sánh kinh nghiệm thực hiện ISO ở
Châu Á và phương Tây; trình bày các thách thức ISO đối với châu Á và Việt Nam
trong phát triển và sản xuất công nghiệp. Tác giả cũng đề xuất một mô hình mẫu
“Nhà máy xanh ISO” hoạt động có kết quả tốt ở Việt Nam.
+ Học viện Chính trị quốc gia (2007), Quy định mới về áp dụng hệ thống
quản lý chất lượng TCVN ISO 9001:2000 vào hoạt động của các cơ quan hành
chính nhà nước.
+ Tài Thành, Vũ Thanh (2014), Tiêu chuẩn Quốc gia về quản lý chất lượng
trong các hoạt động của các cơ quan, tổ chức đơn vị sự nghiệp hành chính sự
nghiệp theo Quyết định số 19/2014/QĐ-TTg ngày 05/03/2014, báo Dân trí.
+ Nguyễn Hữu Hải, Nguyễn Tuấn Minh (2014), Tìm hiểu về quản lý chất
lượng trong khu vực công, NXB Chính trị Quốc gia.
Nhiều tác giả đã nghiên cứu áp dụng hệ thống QLCL ISO với nhiều cách
tiếp cận khác nhau, các nghiên cứu cũng rất đa dạng, có thể tạm chia thành một
số nhóm đề tài như sau:
- Nhóm đề tài nghiên cứu áp dụng ISO trong hoạt động của doanh nghiệp:
8
+ Nguyễn Văn Chiến (2000), Đánh giá thực trạng hệ thống QLCL của một
số doanh nghiệp đã áp dụng ISO 9000, luận văn Thạc sỹ.
+ Bùi Nguyên Hùng (2003), Nghiên cứu đánh giá tác động của ISO 9000
+ Nguyễn Hải Hằng (2007), Áp dụng hệ thống ISO 9001:2000 vào quản lý
đào tạo, Tạp chí khoa học giáo dục số 18.
+ Phạm Quang Huân (2007), Đổi mới quản lý Nhà trường và nâng cao
năng lực sư phạm cho đội ngũ giáo viên theo ISO 9000 và TQM, Tạp chí khoa học
giáo dục số 20. Nội dung đổi mới mô hình và quy trình tổ chức đào tạo nhằm nâng
cao năng lực sư phạm cho đội ngũ giáo viên theo hướng áp dụng ISO 9000 và
TQM.
+ Nguyễn Đức Ca (2011) Quản lý chất lượng đào tạo theo ISO 9001:2000
trong Trường Đại học Hàng Hải Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Quản lý giáo dục. Luận
án đánh giá thực trạng QLCL đào tạo và đề xuất các nhóm giải pháp nâng cao
QLCL đào tạo tại Trường Đại học Hàng Hải Việt Nam.
Qua việc tìm hiểu tài liệu và các đề tài đã triển khai, tác giả nhận thấy nhóm
các đề tài tập trung nghiên cứu áp dụng hệ thống QLCL ISO 9001 đối với hoạt động
của các tổ chức doanh nghiệp chiếm số lượng rất nhiều, bởi đây là những đối tượng
khá nhanh nhạy trước những yêu cầu đối với chất lượng sản phẩm/dịch vụ. Mặt
khác, việc triển khai mô hình quản lý theo chuẩn ISO ở các tổ chức dạng này cũng
thường dễ đánh giá về hiệu quả hơn do các tiêu chí về sản phẩm và khả năng đo
lường sự hài lòng của khách hàng thường rõ ràng…
Áp dụng hệ thống QLCL ISO 9001 trong hoạt động của các cơ quan HCNN
tuy còn mới nhưng cũng có khá nhiều đề tài quan tâm nghiên cứu qua đó có
nhiều kinh nghiệm trong lý luận và trong thực tiễn để học tập, trao đổi.
Vấn đề áp dụng hệ thống QLCL ISO 9001 vào quản lý giáo dục tuy đã có
kinh nghiệm của các nước trên thế giới, nhưng lại rất mới mẻ đối với ngành giáo
dục của Việt Nam. Ngoài một số báo cáo, bài viết về kinh nghiệm áp dụng ISO thì
hiện tại có rất ít đề tài đánh giá tác động của hệ thống QLCL ISO 9001 khi áp
dụng vào lĩnh vực giáo dục nói chung, các cơ sở giáo dục đại học tại Việt Nam nói
riêng.
Theo thống kê tính đến tháng 3 năm 2011, có trên 30 trường cao đẳng, đại
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu thực trạng áp dụng hệ thống QLCL tiêu chuẩn TCVN
ISO 9001:2008 tại trường để đề xuất thực hiện các giải pháp nhằm nâng cao hiệu
quả áp dụng hệ thống QLCL tiêu chuẩn TCVN ISO 9001:2008 tại trường Cao
đẳng Công nghiệp In.
Phạm vi nghiên cứu
11
Phạm vi nghiên cứu là áp dụng hệ thống QLCL tiêu chuẩn TCVN ISO
9001:2008 tại trường Cao đẳng Công nghiệp In.
12
5. Phương pháp nghiên cứu của luận văn
Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu cơ bản sau:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp đối với các tài liệu khoa học về hệ
thống QLCL ISO, tiêu chuẩn TCVN ISO 9001: 2008 và tài liệu, khái niệm về chất
lượng, QLCL trong giáo dục nhằm hệ thống hoá cơ sở lý luận về áp dụng hệ
thống QLCL ISO 9000.
- Phương pháp phân tích, đánh giá thực tiễn quản lý qua các văn bản
chỉ đạo hướng dẫn, các báo cáo tổng kết, các đề tài và các bài viết liên quan đến
việc áp dụng hệ thống QLCL ISO 9000 nhằm khẳng định xu thế tất yếu và đề xuất
các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng hệ thống QLCL tiêu chuẩn TCVN ISO
9001:2008 tại trường Cao đẳng Công nghiệp In.
- Ngoài ra còn sử dụng các phương pháp bổ trợ: phương pháp quan sát,
phương pháp chuyên gia…
6. Đóng góp của luận văn
Chương 2. Thực trạng áp dụng hệ thống Quản lý chất lượng tiêu chuẩn
TCVN ISO 9001:2008 tại trường Cao đẳng Công nghiệp In.
Chương 3. Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng hệ thống Quản lý chất
lượng tiêu chuẩn TCVN ISO 9001:2008 tại trường Cao đẳng Công nghiệp In.
14
Chương 1
CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ PHÁP LÝ VIỆC
ÁP DỤNG HỆ THỐNG QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG TIÊU CHUẨN TCVN ISO
9001:2008 VÀO CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC
1.1. Bộ tiêu chuẩn TCVN ISO 9001:2008
1.1.1. Giới thiệu về Tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế và Bộ tiêu chuẩn
ISO 9000
Tổ chức Tiêu chuẩn hoá Quốc tế (International Organization for
Standardization, viết tắt là ISO) được thành lập năm 1946 với 25 quốc gia thành
viên ban đầu và chính thức hoạt động vào ngày 23 tháng 2 năm 1947, trụ sở
chính đặt tại Geneve, Thụy Sỹ. Ngôn ngữ sử dụng chung là tiếng Anh, tiếng Pháp
và tiếng Tây Ban Nha.
ISO là một tổ chức phi chính phủ có tính liên minh trên toàn thế giới, với
nhiệm vụ chính là nghiên cứu xây dựng, công bố các tiêu chuẩn quốc tế tự
nguyện (không có giá trị pháp lý bắt buộc áp dụng) thuộc nhiều lĩnh vực khác
nhau. Mục tiêu là thúc đẩy sự phát triển của công tác tiêu chuẩn hóa và các hoạt
động có liên quan nhằm tạo thuận lợi cho việc trao đổi hàng hóa và dịch vụ trên
phạm vi toàn thế giới cũng như góp phần vào việc phát triển sự hợp tác trong lĩnh
vực trí tuệ, khoa học và kinh tế.
ISO hiện có trên 180 nước thành viên, Việt Nam - Đại diện là Tổng cục Tiêu
chuẩn - Đo lường - Chất lượng tham gia ISO từ năm 1977, là thành viên thứ 72.
Với những hoạt động và đóng góp tích cực, Việt Nam đã được bầu vào Hội đồng
năm 2000
Phiên bản
năm 2008
ISO 9000:1994 ISO 9000:2000 ISO 9000:2005
ISO 9001:1994 ISO 9001:2000
ISO 9002:1994 (bao gồm ISO
ISO 9001:2008
ISO 9003:1994 9001/9002/9003
)
ISO 9004:1994 ISO 9000:2000 Chưa có thay
đổi
ISO 10011:
Chưa có thay
ISO 19011:2002
1990/1
đổi
Tên tiêu chuẩn
Hệ thống QLCL-cơ
sở và từ vựng
Hệ thống QLCLCác yêu cầu
Hệ thống QLCL
Hướng dẫn đánh
giá
HTQLCL/Môi
trường
Bộ tiêu chuẩn ISO 9000 hiện nay có 4 tiêu chuẩn cơ bản là:
nhu cầu hiện tại và tương lai của khách hàng. Cần đáp ứng các yêu cầu của
khách hàng và cố gắng vượt hơn sự mong đợi của họ.
Nguyên tắc 2: Sự cam kết của lãnh đạo
Lãnh đạo thiết lập sự thống nhất giữa mục đích và phương hướng cho tổ
chức. Lãnh đạo cần tạo ra và duy trì môi trường cho nội bộ để có thể hoàn toàn lôi
cuốn mọi người tham gia để đạt được các mục tiêu của tổ chức.
Nguyên tắc 3: Sự tham gia của mọi người
Mọi người ở tất cả các cấp là yếu tố của một tổ chức và việc huy động họ
tham gia đầy đủ sẽ giúp cho việc sử dụng năng lực của họ vì lợi ích của tổ chức.
Con người là nguồn lực quan trọng nhất của một tổ chức và sự tham gia đầy đủ
với những hiểu biết và kinh nghiệm của mọi người sẽ rất có ích cho tổ chức.
Thành công trong cải tiến chất lượng công việc phụ thuộc rất nhiều vào kỹ năng,
17
sự nhiệt tình trong công việc của lực lượng lao động. Vì thế, tổ chức cần tạo điều
kiện để nhân viên học hỏi nâng cao kiến thức, cần khuyến khích sự tham gia của
mọi người vào mục tiêu chất lượng của tổ chức. Những yếu tố liên quan đến các
vấn đề về an toàn, phúc lợi xã hội của nhân viên cần phải gắn với mục tiêu cải
tiến liên tục và các hoạt động của tổ chức.
Nguyên tắc 4: Tiếp cận theo quá trình
Kết quả mong muốn sẽ đạt được một cách hiệu quả khi các nguồn lực và
các hoạt động có liên quan được quản lý như một quá trình. Quá trình ở đây là tập
hợp những hoạt động có quan hệ và tương tác với nhau để biến đầu vào thành
đầu ra. Quản lý các hoạt động của một tổ chức thực chất là quản lý các quá trình
và mối quan hệ giữa chúng. Quản lý tốt các quá trình này, cùng sự đảm bảo đầu
vào nhận được từ người cung ứng bên ngoài sẽ đảm bảo chất lượng đầu ra để
cung cấp cho khách hàng.
Nguyên tắc 5: Tính hệ thống
Việc xác định, hiểu và quản lý các quá trình có liên quan lẫn nhau như một
phương, các tổ chức đào tạo. Những mối quan hệ này sẽ giúp tổ chức nâng cao
khả năng hoạt động của mình.
1.1.2.2. Quy trình xây dựng và áp dụng hệ thống QLCL theo tiêu chuẩn
TCVN ISO 9001:2008
Bước 1. Xây dựng hệ thống QLCL
a) Chuẩn bị và lập kế hoạch
- Thành lập Ban chỉ đạo và tổ giúp việc:
Ban chỉ đạo là bộ phận giúp lãnh đạo điều hành toàn bộ quá trình tổ chức
xây dựng và áp dụng TCVN ISO 9001:2008 trong tổ chức. Ban chỉ đạo gồm đại
diện lãnh đạo và một số thành viên là trưởng hoặc phó các bộ phận liên quan, các
cán bộ nghiệp vụ đảm nhiệm những hoạt động chính trong tổ chức. Ban chỉ đạo
do người đại diện lãnh đạo phụ trách.
Tổ giúp việc có nhiệm vụ là tổ chức triển khai, duy trì toàn bộ việc xây dựng
và áp dụng TCVN ISO 9001:2008 tại các đơn vị trong tổ chức. Các thành viên
trong tổ giúp việc có nhiệm vụ thực hiện các công việc theo kế hoạch, chịu sự
phân công của Ban chỉ đạo, đảm bảo việc soạn thảo kế hoạch đúng tiến độ, đảm
bảo chất lượng, tổ chức áp dụng ISO hiệu quả ngay trong những đơn vị mình phụ
trách. Tổ giúp việc có quyền kiến nghị lên lãnh đạo về các hoạt động cải tiến,
thưởng phạt đối với các đơn vị mình phụ trách, có quyền được tham gia các khoá
học đào tạo liên quan tới hoạt động QLCL.
- Chọn tổ chức Tư vấn bên ngoài (nếu thấy cần thiết): vì TCVN ISO
9001:2008 chỉ đưa ra các yêu cầu mà không chỉ dẫn phải làm như thế nào nên tổ
19
chức phải linh hoạt trong việc thiết kế một hệ thống có hiệu lực và hiệu quả nhất
đối với tổ chức của mình. Thường thì các tổ chức đều hiểu biết không sâu và ít có
kinh nghiệm trong việc xây dựng và áp dụng hệ thống QLCL nên việc tự thực hiện
có thể mất nhiều thời gian và phải sửa chữa nhiều lần. Để triển khai hệ thống chất
lượng có hiệu quả, tổ chức cần nghiên cứu, lựa chọn kỹ đơn vị Tư vấn có uy tín,
định cho sự thành công. Mọi cán bộ, nhân viên liên quan trong tổ chức đều phải
được đào tạo về các kiến thức và kỹ năng cơ bản liên quan đến công việc họ phải
thực hiện trong hệ thống QLCL.
b) Xây dựng và phổ biến, hướng dẫn áp dụng hệ thống văn bản
Xây dựng hệ thống văn bản là thiết lập các hồ sơ, tài liệu, quy trình và biểu
mẫu làm công cụ để chuẩn hóa cách thức thực hiện, kiểm soát, duy trì và cải tiến
hệ thống QLCL. Đây là hoạt động rất quan trọng trong quá trình xây dựng và áp
dụng hệ thống QLCL, việc xây dựng hệ thống văn bản phải được giao cho các
đơn vị chuyên môn thực hiện để đảm bảo sự phù hợp và sát với thực tiễn từng
đơn vị, từng công việc cụ thể.
- Biên soạn hệ thống văn bản, bao gồm: Chính sách chất lượng, mục tiêu
chất lượng; Sổ tay chất lượng; Các quy trình kèm theo các mẫu, biểu mẫu và
hướng dẫn khi cần thiết.
- Phổ biến, hướng dẫn áp dụng hệ thống văn bản: Tài liệu biên soạn xong
cần phải phổ biến cho các bộ phận, cá nhân có liên quan trong tổ chức. Lãnh đạo
cần lắng nghe ý kiến đóng góp và xem xét điều chỉnh hay sửa đổi nếu thấy hợp lý.
Bước 2. Áp dụng hệ thống QLCL
a) Công bố áp dụng
Sau khi được lãnh đạo phê duyệt, tổ chức công bố việc áp dụng hệ thống
QLCL tiêu chuẩn TCVN ISO 9001:2008 theo đúng các văn bản đã xây dựng và
phổ biến.
Thời gian thực hiện do lãnh đạo tổ chức quyết định trên cơ sở xem xét các
yếu tố chi phối như quy mô của tổ chức, mức độ cam kết của lãnh đạo, hiện trạng,
khối lượng văn bản cần xây dựng, nguồn lực có thể cung cấp…và tham khảo ý
kiến của chuyên gia tư vấn.
b) Đánh giá nội bộ
Mục tiêu của hoạt động đánh giá nội bộ là lập kế hoạch và tổ chức đánh giá
nội bộ tại nhà trường. Biết cách xác định các nội dung cần đánh giá và thực hiện
việc đánh giá tại chỗ để xác định mức độ phù hợp của hệ thống so với các yêu
cầu, lập và báo cáo kết quả đánh giá chính xác, cụ thể.
Việc đánh giá áp dụng hệ thống quản lý chất lượng trong thực tế là xem xét
một cách hệ thống, nhằm xác định xem các yếu tố của hệ thống quản lý chất
lượng được áp dụng có hiệu lực hay không, mọi quy định có được tuân thủ hay
không. Khi kết thúc quá trình đánh giá, đoàn đánh giá sẽ thông báo kết quả. Nếu
trong khi đánh giá phát hiện thấy những điều không phù hợp nặng thì tổ chức cần
có biện pháp khắc phục để thỏa mãn mọi yêu cầu chứng nhận trong một thời gian
xác định. Thông thường việc đánh giá chính thức được tiến hành trong thời gian
22
từ 2 đến 3 ngày, tùy thuộc vào quy mô của tổ chức. Việc đánh giá hệ thống văn
bản và việc đánh giá áp dụng được tiến hành cùng một lúc.
Bước 3. Công bố hệ thống QLCL phù hợp với Tiêu chuẩn Quốc gia TCVN
ISO 9001:2008
a) Xin cấp chứng nhận
Chứng nhận hệ thống chất lượng là một thủ tục mà bên thứ ba tiến hành
để chỉ ra rằng hệ thống QLCL của một tổ chức nào đó đã phù hợp với Tiêu chuẩn
Quốc gia TCVN ISO 9001:2008. Bên thứ ba là một tổ chức độc lập với tổ chức xin
chứng nhận và được gọi là tổ chức chứng nhận.
Muốn được cấp giấy chứng nhận, tổ chức được chứng nhận cần nộp đơn
đến một tổ chức có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận.
Tổ chức chứng nhận sau khi xem xét thấy tổ chức được chứng nhận đã
thực hiện các hành động khắc phục và thỏa mãn các yêu cầu quy định thì ra quyết
định chứng nhận. Giấy chứng nhận chỉ có hiệu lực trong một số năm (thường là 3
năm) với điều kiện tổ chức được chứng nhận tuân thủ nghiêm túc các yêu cầu
của tổ chức chứng nhận.
Việc chứng nhận hệ thống chất lượng có ý nghĩa như một hình thức đảm
bảo rằng tổ chức sẽ cung cấp dịch vụ đáp ứng được nhu cầu của khách hàng, từ
đó đem lại lòng tin cho khách hàng và nâng cao uy tín của tổ chức. Vì vậy, một
cuộc đánh giá chất lượng của bên thứ ba thường có mục đích cao hơn một cuộc
của tiêu chuẩn đang áp dụng hoặc không được áp dụng có hiệu quả. Thường sau
chu kỳ 3 năm, tổ chức chứng nhận sẽ tiến hành đánh giá lại toàn bộ hệ thống
QLCL để cấp lại giấy chứng nhận.
1.2. Áp dụng hệ thống QLCL tiêu chuẩn TCVN ISO 9001:2008 vào các
cơ sở giáo dục đại học
1.2.1. Quản lý chất lượng trong lĩnh vực giáo dục
Chất lượng là một thuật ngữ được sử dụng phổ biến trong các lĩnh vực
hoạt động xã hội, nhất là trong lĩnh vực kinh tế. Chất lượng cũng là một khái niệm
không xa lạ với tất cả mọi người, đặc biệt khi nhấn mạnh tới đặc tính của các sản
phẩm và dịch vụ mà chúng ta sử dụng. Vì thế con người luôn nhận thức về tầm
quan trọng của việc đưa ra các tiêu chí để đánh giá về mức độ thỏa mãn khi thụ
hưởng các sản phẩm khác nhau. Tuy nhiên, đây là một phạm trù phức tạp và có
nhiều quan điểm khác nhau, nên việc đưa ra một khái niệm thống nhất là không
đơn giản.
24
Khái niệm Chất lượng trong công nghiệp được định nghĩa khá rõ ràng qua
từng thời kỳ. Trong thời kỳ đầu của nền công nghiệp, Crosby (1979) định nghĩa
“Chất lượng là sự phù hợp với các tiêu chuẩn”. Sau đó, khái niệm chất lượng
được phát triển rộng hơn với các định nghĩa của Derming (1986) “Chất lượng là
sự thỏa mãn yêu cầu khách hàng”; Juran (1988) “Chất lượng là sự phù hợp với
người sử dụng”. Ishikawa, Giáo sư chất lượng người Nhật cho rằng “Chất lượng
là sự thỏa mãn nhu cầu thị trường với chi phí thấp nhất”; Tổ chức chất lượng
Châu Âu (European Organisation for Quality Control) quan niệm “Chất lượng của
sản phẩm là mức độ mà sản phẩm ấy đáp ứng được nhu cầu của người sử
dụng”; còn theo cơ quan kiểm tra chất lượng của Mỹ thì “Chất lượng sản phẩm là
toàn bộ đặc tính của sản phẩm và dịch vụ nhằm thỏa mãn những nhu cầu đã đặt
ra”.