luận văn thạc sĩ quản trị tài chính Giải pháp tăng cường quản lý công nợ tại công ty Cổ phần xây dựng HUD101 - Pdf 27

Luận Văn Tốt Nghiệp Học Viện Tài Chính
MỤC LỤC
SV : Cao Thị Quyên 1 Lớp : CQ47/11.01
1
Luận Văn Tốt Nghiệp Học Viện Tài Chính
LỜI MỞ ĐẦU
Năm 2012 trôi qua đánh dấu một năm khó khăn cho nền kinh tế Việt Nam,
do những tác động của khủng hoảng kinh tế thế giới và bộc lộ những yếu kém
nội tại. Theo thông tin công bố tại cuộc họp chiều ngày 4/1của Bộ Kế hoạch
Đầu tư thì trong năm 2012, cả nước có 54,261 doanh nghiệp giải thể, ngừng
hoạt động (con số này cao hơn so với năm 2011 là 53,922 doanh nghiệp).
Đứng trước tình thế ngàn cân treo sợi tóc như thế, các doanh nghiệp đều phải
đề cao phương châm “tự cứu mình” bằng cách tự tìm cho mình một hướng đi
đúng đắn trong hoạt động kinh doanh đặc biệt là trong quản lý tài chính. Tài
chính doanh nghiệp lành mạnh sẽ tạo điều kiện cho sự phát triển ổn định và
bền vững của chính doanh nghiệp.
Khi xem xét đánh giá hiệu quả quản lý tài chính, có một yếu tố quan trọng
không thể không đề cập đến đó là tình hình quản lý công nợ của doanh nghiệp bởi
nó góp phần phản ánh tình hình tài chính của doanh nghiệp, và đôi khi công tác
quản lý công nợ yếu kém chính là nguyên nhân trực tiếp dẫn doanh nghiệp đến bờ
vực của sự phá sản. Theo điều 3, luật phá sản 2004 định nghĩa: “ doanh nghiệp,
hợp tác xã không có khả năng thanh toán được các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ
có yêu cầu thì coi là lâm vào tình trạng phá sản”,như vậy cụm từ mà bất kể ông
chủ doanh nghiệp nào cũng lo sợ đó là “ phá sản doanh nghiệp” thường rình rập
các doanh nghiệp có tình hình tài chính hỗn loạn, không có khả năng thanh toán
các khoản nợ đến hạn.Sự mất khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn này có
thể do tổng tài sản của doanh nghiệp nhỏ hơn tổng số nợ hoặc cũng có khi mặc dù
tổng tài sản vượt quá tổng số nợ nhưng do trình độ công tác quản lý công nợ
không tốt nên không đảm bảo lượng tiền mặt cần thiết để trả nợ đến hạn.
Thực trạng thanh toán công nợ là một trong những mối quan tâm hàng đầu
của các nhà đầu tư, người cho vay vốn, người cung ứng, khách hàng… trước

SV : Cao Thị Quyên 3 Lớp : CQ47/11.01
3
Luận Văn Tốt Nghiệp Học Viện Tài Chính
- Phương pháp nghiên cứu: Đề tài nghiên cứ sử dụng tổng hợp nhiều phương
pháp như: Phương pháp thống kê, phương pháp so sánh, phương pháp phân
tích tổng hợp, đánh giá dựa trên các số liệu thực tế thu thập được trong quá
trình thực tập tại công ty, các số liệu trong báo cáo tài chính và các thông tin
có được từ việc phỏng vấn trực tiếp các nhân viên phòng Tài chính- kế toán
kết hợp với suy luận để làm sáng tỏ đề tài.
Nội dung đề tài gồm 3 chương:
Chương I: Cơ sở lý luận về công nợ- quản lý công nợ trong doanh nghiệp
Chương II: Thực trạng công nợ và quản lý công nợ tại công ty Cổ phần xây
dựng HUD101
Chương III: Một số giải pháp nhằm tăng cường quản lý công nợ tại công ty
Cổ phần xây dựng HUD101
Qua thời gian thực tập tại Công ty, với sự giúp đỡ tận tình của cán bộ và
lãnh đạo phòng Tài chính – Kế toán và được sự hướng dẫn của cô giáo phó
giáo sư- tiến sĩ Nghiêm Thị Thà em đã hoàn thành bài luận văn này. Mặc dù
đã cố gắng tìm hiểu và phân tích nhưng do hạn chế về trình độ nhận thức
không tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong nhận được những ý kiến đóng
góp để khóa luận được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cám ơn cô giáo hướng dẫn, ban lãnh đạo, phòng Tài
chính – Kế toán của công ty Cổ phần xây dựng HUD101.
Hà Nội, tháng 5 năm 2013
Sinh viên: Cao Thị Quyên
Lớp : CQ47/11.01
SV : Cao Thị Quyên 4 Lớp : CQ47/11.01
4
Luận Văn Tốt Nghiệp Học Viện Tài Chính
CHƯƠNG I

cam kết. Do vậy vốn vay để bổ sung khi thiếu vốn cho sản xuất, kinh doanh là
một trong những nguồn chính hình thành nên công nợ phải trả của doanh
nghiệp.
Bên cạnh đó, nguồn vốn chiếm dụng trong thanh toán cũng là một yếu
tố quan trọng hình thành nên công nợ phải thu hoặc công nợ phải trả của
doanh nghiệp. Do có một số doanh nghiệp có hàng hóa muốn bán, trong đó lại
có một số doanh nghiệp khác muốn mua nhưng lại không có tiền, khi đó
doanh nghiệp với tư cách là người bán muốn tiêu thụ sản phẩm của mình họ
có thể bán chịu hàng hóa cho người mua và hình thành nên công nợ phải thu.
Ngược lại, công nợ phải trả được hình thành khi doanh nghiệp đi mua chịu
hàng hóa của đơn vị khác hoặc chiếm dụng các khoản nợ ngân sách nhà nước
bằng cách chậm nộp thuế, các khoản nợ lương cán bộ công nhân viên,
Tóm lại, chính các giải pháp huy động vốn, các chính sách tín dụng mà
doanh nghiệp áp dụng đã làm nảy sinh công nợ trong doanh nghiệp, buộc các
doanh nghiệp phải có trách nhiệm trong việc quản lý và sử dụng nguồn vốn
một cách hợp lý, theo dõi sát sao tình hình thanh toán công nợ và chi tiết theo
từng đối tượng.
Vậy công nợ là gì?
Công nợ phản ánh nghĩa vụ thanh toán của khách nợ (con nợ) với chủ
nợ. Công nợ trong doanh nghiệp bao gồm: Công nợ phải thu và công nợ phải
trả. Đây là hai mặt trái ngược của một vấn đề nhưng tồn tại song song và
khách quan với nhau, chúng có ảnh hưởng tới công tác tài chính của doanh
nghiệp.
SV : Cao Thị Quyên 6 Lớp : CQ47/11.01
6
Luận Văn Tốt Nghiệp Học Viện Tài Chính
1.1.2 Nội dung công nợ
1.1.2.1 Công nợ phải thu
a, Khái niệm “ công nợ phải thu”
Công nợ phải thu là một bộ phận tài sản của doanh nghiệp đang bị các

phẩm, chế độ hậu mãi,… mà còn phải cạnh tranh về các chính sách ưu đãi
trong thanh toán tiền hàng đó là trả tiền sau khi mua hàng hay còn gọi là bán
chịu, chính từ chính sách bán chịu này đã hình thành nên các khoản phải thu
từ khách hàng của doanh nghiệp.
Khả năng tài chính của khách hàng mua chịu ảnh hưởng rất lớn tới mức độ
chắc chắn thu hồi số tiền nợ phải thu. Để tránh rủi ro do khách hàng mất hoặc
giảm khả năng thanh toán, doanh nghiệp cần tổ chức tốt công tác thu hồi công
nợ đối với từng khách hàng, đặc biệt với các khách hàng có số tiền phải thu
lớn, khách hàng dây dưa nợ,… Doanh nghiệp cần đề ra chính sách tín dụng
thương mại phù hợp với tình hình tài chính của doanh nghiệp, với từng khách
hàng, từng mặt hàng,…
- Trả trước cho người bán (doanh nghiệp áp dụng hình thức trả trước khi
mua hàng) là việc doanh nghiệp ứng trước tiền hàng cho người cung ứng
nhưng chưa nhận được hàng, mục đích nhằm cung cấp tín dụng cho
người bán để người bán chuẩn bị hàng.
- Các khoản phải thu nội bộ: Là các khoản phải thu giữa đơn vị cấp trên
và cấp dưới, giữa các đơn vị cấp dưới với nhau trong đó đơn vị cấp trên
là doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, đơn vị cấp dưới là các đơn vị thành
viên phụ thuộc có tổ chức công tác kế toán riêng. Quan hệ tài chính nội
bộ giữa doanh nghiệp độc lập với các thành viên của nó chủ yếu về các
SV : Cao Thị Quyên 8 Lớp : CQ47/11.01
8
Luận Văn Tốt Nghiệp Học Viện Tài Chính
khoản: Cấp phát, điều chuyển vốn, các khoản thu hộ, chi hộ giữa cấp trên
với cấp dưới trực thuộc, nghĩa vụ tài chính giữa cấp dưới với cấp trên
- Thuế GTGT đầu vào được khấu trừ: Chỉ phát sinh ở những cơ sở sản xuất
kinh doanh thuộc đối tượng nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp
khấu trừ. Thuế GTGT được khấu trừ là số thuế đầu vào của những hàng
hóa, dịch vụ, TSCĐ mà cơ sở kinh doanh mua vào để dùng cho hoạt động
sản xuất kinh doanh chịu thuế GTGT.

quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác vào tài khoản phong tỏa tại một ngân
hàng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.
- Các khoản phải thu khác, bao gồm:
+ Giá trị tài sản thiếu chưa rõ nguyên nhân chờ xử lý;
+ Các khoản phải thu về bồi thường vật chất;
+ Các khoản cho vay mượn tài sản, tiền bạc có tính tạm thời;
+ Các khoản phải thu về cho thuê TSCĐ, lãi đầu tư tài chính;
1.1.2.2. Công nợ phải trả
a, Khái niệm công nợ phải trả
Công nợ phải trả là số tiền vốn mà doanh nghiệp đi vay, đi chiếm dụng
của các đơn vị, tổ chức cá nhân và do vậy doanh nghiệp phải có trách nhiệm
hoàn trả.
Để mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh thì doanh nghiệp cần phải có
một lượng vốn lớn và nhất là nhu cầu vốn dài hạn của doanh nghiệp cho sự
đầu tư phát triển ngày càng lớn. Điều này đòi hỏi các doanh nghiệp phải huy
động cao độ nguồn vốn bên trong, đồng thời phải tìm cách huy động tối đa
nguồn vốn bên ngoài bằng cách đi vay, hoặc tạm thời chiếm dụng vốn của
đơn vị khác. Từ đó hình thành nên các khoản công nợ phải trả.
SV : Cao Thị Quyên 10 Lớp : CQ47/11.01
10
Luận Văn Tốt Nghiệp Học Viện Tài Chính
b, Nội dung công nợ phải trả
 Các khoản công nợ phải trả gồm:
- Các khoản tiền vay
- Phải trả người bán
- Người mua trả tiền trước
- Thuế và các khoản phải nộp nhà nước
- Các khoản phải trả người lao động
- Chi phí phải trả
- Các khoản phải trả trong nội bộ doanh nghiệp

+ Các loại thuế khác
- Các khoản phải trả người lao động: Như tiền lương, tiền công, tiền thưởng, các
khoản bảo hiểm xã hội và các khoản thu nhập khác của người lao động.
- Chi phí phải trả: Là những khoản chi phí thực tế chưa phát sinh nhưng do
tính chất và yêu cầu quản lý được trích trước vào chi phí sản xuất kinh doanh
cho các đối tượng chịu chi phí giữa các kỳ đảm bảo cho giá thành sản phẩm
hoặc chi phí sản xuất kinh doanh không tăng một cách đột biến.
- Các khoản phải trả trong nội bộ doanh nghiệp: Là các khoản phải trả giữa
các đơn vị cấp trên là đơn vị hoạch toán kinh tế độc lập với các đơn vị cấp
dưới, là những đơn vị phụ thuộc hoặc giữa các đơn vị phụ thuộc lẫn nhau mà
các đơn vị đều có tổ chức kế toán riêng.
- Các tài sản nhận cầm cố, đặt cọc, kí quỹ, kí cược: Là các khoản tiền, tài
sản mà doanh nghiệp nắm giữ của đối tác kinh doanh nhằm tạo sự tin tưởng
lẫn nhau giữa các bên quan hệ trong hợp đồng kinh tế. Mức độ tín nhiệm cao
hoặc thấp sẽ quyết định các hình thức ràng buộc khác nhau phát sinh trong
quá trình vay, mượn, ký kết hợp đồng hợp tác kinh doanh.
- Các khoản phải trả, phải nộp khác, bao gồm:
SV : Cao Thị Quyên 12 Lớp : CQ47/11.01
12
Luận Văn Tốt Nghiệp Học Viện Tài Chính
+ Tài sản thừa chờ giải quyết.
+ Kinh phí công đoàn.
+ Bảo hiểm xã hội.
+ Bảo hiểm y tế…
1.2. Quản lý công nợ trong doanh nghiệp
1.2.1 Sự cần thiết và mục đích của công tác quản lý công nợ
- Sự cần thiết của công tác quản lý công nợ:
Khi phân tích tình hình tài chính của một doanh nghiệp thì công nợ của
doanh nghiệp là một chỉ tiêu vô cùng quan trọng mà bất kì đối tượng nào có
lợi ích liên quan đến doanh nghiệp đều quan tâm. Bởi “công nợ” là con dao

và có những quyết định đúng đắn trong việc tự chủ tài chính.
- Mục đích của công tác quản lý công nợ phải thu
Doanh nghiệp theo dõi sự hình thành và sự biến động tăng giảm các
khoản phải thu. Từ những con số phát sinh cụ thể, kế toán phân tích tình hình
thu hồi để thấy mức độ bị chiếm dụng vốn, phân tích khả năng thu hồi công
nợ, hiệu quả công tác thu hồi công nợ Từ đó, doanh nghiệp đưa ra các biện
pháp thu hồi công nợ phù hợp, hạn chế và xử lý các khách hàng cố tình để
dây dưa nợ đọng, chủ động lập dự phòng phải thu khó đòi để tránh những
biến động tài chính lớn khi không thu được nợ, làm ảnh hưởng đến hoạt động
kinh doanh. Mặt khác, công nợ phải thu là một bộ phận tài sản của doanh
nghiệp bị chiếm dụng. Quản lý công nợ phải thu nhằm đảm bảo an toàn cho
tài sản thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp, tăng cường vốn lưu động, góp
phần tăng cường thanh toán nợ phải trả.
- Mục đích của công tác quản lý công nợ phải trả
Phân tích tình hình nợ phải trả để thấy được phần tài sản thực tế của
doanh nghiệp, phân tích khả năng thanh toán đánh giá hiệu quả công tác quản
lý quỹ tiền mặt đáp ứng nhu cầu thanh toán, đánh giá tình hình vốn lưu động,
tình hình tài chính của doanh nghiệp khả quan hay yếu kém từ đó, doanh
nghiệp có kế hoạch dự đoán nhu cầu tiền mặt nói riêng, vốn lưu động nói
SV : Cao Thị Quyên 14 Lớp : CQ47/11.01
14
Luận Văn Tốt Nghiệp Học Viện Tài Chính
chung, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động, tăng cường khả năng tự chủ
tài chính.
Bên cạnh đó, nợ phải trả là một bộ phận nguồn vốn của doanh nghiệp
khi chưa đến hạn trả nợ. Các khoản này bổ sung vốn tạm thời phục vụ hoạt
động kinh doanh nên việc quản lý nợ phải trả còn với mục đích tìm ra thời
điểm trả nợ có lợi nhất, lập kế hoạch trả nợ hợp lý để tạo được nguồn tài trợ
ngắn hạn và hạn chế thấp nhất chi phí sử dụng nguồn vốn này.
Tóm lại, quản lý công nợ chính là việc kiểm soát và duy trì tình hình tài

1.2.2.2. Phân tích tình hình công nợ
Phân tích tình hình công nợ phải thu, phải trả là quá trình xem xét,
kiểm tra, đối chiếu và so sánh số liệu các khoản phải thu, phải trả hiện hành
với quá khứ. Thông qua việc phân tích này, những người ra quyết định có thể
đánh giá chính xác thực trạng và tiềm năng của doanh nghiệp từ đó lựa chọn
các phương án kinh doanh tối ưu. Do đó việc phân tích này có ý nghĩa quan
trọng trong hoạt động kinh doanh nói chung và hoạt động tài chính nói riêng.
a, Phân tích tình hình thanh toán công nợ
- Phân tích tình hình thanh toán các khoản phải thu
Để phân tích tình hình thanh toán công nợ phải thu, ta dựa vào các chỉ tiêu sau:
• Số vòng luân chuyển các khoản phải thu:
Số vòng luân chuyển các khoản phải thu
=
==
Doanh thu bán hàng tính theo giá thanh toán trong kỳ
Số dư bình quân các khoản phải thu
SV : Cao Thị Quyên 16 Lớp : CQ47/11.01
16
Luận Văn Tốt Nghiệp Học Viện Tài Chính
Chỉ tiêu này cho biết mức hợp lý của số dư các khoản phải thu và hiệu quả
của việc thu hồi nợ. Nếu số vòng luân chuyển các khoản phải thu lớn, chứng
tỏ doanh nghiệp đã làm tốt công tác thu hồi nợ, ít bị chiếm dụng vốn. Tuy
nhiên, nếu số vòng luân chuyển các khoản phải thu quá cao sẽ không tốt vì có
thể ảnh hưởng đến việc tiêu thụ hàng hoá do phương pháp thanh toán của
doanh nghiệp với bạn hàng quá chặt chẽ (chủ yếu thanh toán ngay trong thời
gian ngắn).
• Kỳ thu tiền trung bình:
Kỳ thu tiền trung bình
(ngày)
=

Doanh số hàng bán ra
• Hệ số nợ phải thu:
Chỉ tiêu này cho biết cứ một đồng doanh số hàng bán ra thì có bao
nhiêu đồng chưa thu được tiền ngay. Dựa vào chỉ tiêu hệ số nợ phải thu doanh
SV : Cao Thị Quyên 19 Lớp : CQ47/11.01
19
Luận Văn Tốt Nghiệp Học Viện Tài Chính
nghiệp biết được tình trạng mở rộng việc bán chịu đã quá mức giới hạn cho
phép chưa.
Ngoài việc tính toán, phân tích các chỉ tiêu trên, ta còn phải so sánh
tổng giá trị các khoản phải thu với giá trị từng khoản phải thu: So sánh tổng
giá trị các khoản phải thu và giá trị từng khoản phải thu giữa cuối năm với
đầu năm để thấy được sự tiến bộ trong việc thu hồi công nợ. Ở bước này, cần
đi sâu vào tình hình thực tế để tìm ra nguyên nhân ảnh hưởng tới tình hình
công nợ, ảnh hưởng tới các khoản phải thu và tính hợp lý của nó, từ đó các
doanh nghiệp có các biện pháp cần thiết nhằm thu nhanh các khoản nợ phải
thu có hoài nghi và nhắc nhở thúc giục đối với các khoản thanh toán chậm.
Do vậy, mục tiêu đặt ra cho công tác quản lý công nợ phải thu là thu đủ, thu
kịp thời, tiếp đến là thu càng sớm càng tốt với điều kiện không làm ảnh hưởng
đến doanh số bán hàng và lợi nhuận của công ty.
+ Phân tích tình hình thanh toán các khoản phải trả
Để phân tích tình hình thanh toán công nợ phải trả, ta dựa vào một số
chỉ tiêu sau:
• Số vòng luân chuyển các khoản phải trả
Số vòng luân chuyển các khoản phải trả (vòng)
=
Doanh số mua hàng thường niên
Số dư bình quân các khoản phải trả
Doanh số mua hàng thường niên được tính theo công thức sau:
Doanh số mua hàng thường niên = GVHB + HTK cuối kỳ - HTK đầu kỳ

Tổng số nợ
Tổng nguồn vốn
Hệ số nợ phản ánh nợ phải trả chiếm bao nhiêu phần trăm trong nguồn
vốn của doanh nghiệp hay trong tài sản của doanh nghiệp thì bao nhiêu phần
trăm được hình thành bằng nguồn nợ phải trả.
+ Tỷ lệ các khoản nợ phải thu so với các khoản nợ phải trả được sử
dụng không phải trả lãi
Tỷ lệ các khoản nợ phải thu so với các khoản nợ phải trả được sử dụng không
phải trả lãi
=
Tổng số nợ phải thu
Tổng số nợ phải trả được sử dụng không phải trả lãi
* 100
Nếu tỷ lệ các khoản nợ phải thu so với các khoản nợ phải trả được sử
dụng không phải trả lãi > 100%, chứng tỏ số vốn doanh nghiệp bị chiếm dụng
lớn hơn số vốn doanh nghiệp đi chiếm dụng và ngược lại.
b, Phân tích khả năng thanh toán công nợ
Để đánh giá khả năng thanh toán của doanh nghiệp cần tính và so sánh
chỉ tiêu sau:
SV : Cao Thị Quyên 22 Lớp : CQ47/11.01
22
Luận Văn Tốt Nghiệp Học Viện Tài Chính
Hệ số khả năng thanh toán chungHệ số khả năng thanh toán chung
=
Tổng giá trị tài sản
Tổng số nợ phải trả
-
Hệ số khả năng thanh toán chung là chỉ tiêu được dùng để đánh giá
khả năng thanh toán của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo. Chỉ tiêu này có vai
trò rất quan trọng trong việc xem xét tình hình tài chính của doanh nghiệp.

Tiền + Các khoản tương đương tiền
Tổng nợ ngắn hạn
- Hệ số khả năng thanh toán tức thời:
Ở đây tiền bao gồm tiền mặt, tiền gửi, tiền đang chuyển. Các khoản
tương đương tiền là các khoản đầu tư ngắn hạn về chứng khoán, các khoản
đầu tư ngắn hạn khác có thể dễ dàng chuyển đổi thành tiền trong thời hạn 3
tháng và không gặp rủi ro lớn.
Hệ số thanh toán lãi vay
SV : Cao Thị Quyên 24 Lớp : CQ47/11.01
24
Luận Văn Tốt Nghiệp Học Viện Tài Chính
=
Lợi nhuận trước lãi vay và thuế (EBIT)
Số lãi tiền vay phải trả trong kỳ (I)
- Hệ số thanh toán lãi vay
Hệ số này cho biết khả năng thanh toán lãi tiền vay của doanh nghiệp
và cũng phản ánh mức độ rủi ro có thể gặp phải đối với các chủ nợ. Lãi tiền
vay là khoản chi phí sử dụng vốn vay mà doanh nghiệp có nghĩa vụ phải trả
đúng hạn cho các chủ nợ. Trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp sử dụng
vốn vay hay nợ vay, một mặt nhằm bù đắp sự thiếu hụt vốn, mặt khác nhằm hi
vọng gia tăng tỷ suất lợi nhuận chủ sở hữu (ROE), nhưng đồng thời cũng làm
tăng thêm rủi ro tài chính cho doanh nghiệp. Bởi vì một doanh nghiệp vay nợ
nhiều nhưng kinh doanh không tốt, mức sinh lời của đồng vốn quá thấp hoặc
bị thua lỗ thì khó có thể đảm bảo thanh toán tiền lãi vay đúng hạn.
Khi doanh nghiệp đã sử dụng vốn vay nhằm hy vọng gia tăng lợi
nhuận vốn chủ sở hữu cũng có nghĩa là doanh nghiệp đã sử dụng đòn bẩy tài
chính. Để đánh giá ảnh hưởng của đòn bẩy tài chính đến tỷ suất lợi nhuận vốn
chủ sở hữu người ta sử dụng thước đo được gọi là mức độ tác động của đòn
bẩy tài chính (DFL) và được tính theo công thức sau:
Mức độ tác động của ĐBTC (DFL)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status