Dr Nguyen Van Nghien
1
Tiểu luận Hệ quả của việc phân tích các nhóm chiến lược
như thế nào. Trong những năm gần đây, IBM dường như đã quyết định “tham gia xung đột”
với những sở trường của AST Research và Packard Bell với việc cạnh tranh đối với không
gian trưng bày rộng lớn và các cửa hàng đại chúng. Ngược lại, Apple đang phát triển một hệ
điều hành có thể giúp người sử dụng chuyển đổi qua lại giữa hệ điều hành Macintosh và
Microsoft’ Windows. Trong khi sự đổi mới làm cho các sản phẩm của Apple có chất lượng
cao và đặc biệt hơn trong con mắt của các khách hàng, nó cũng có thể làm thay đổi phương
thức mà Apple dùng để chống lại các hãng máy tính định dạng Windows khác. Các doanh
nghiệp trong một nhóm chiến lược cũng có thể thay đối, khi mà một số hãng tìm cách để sản
xuất ra các sản phẩm tốt hơn (như AST Research), trong khi các hãng khác (như Compaq
Computer) thì lại tìm kiếm những ứng dụng PC cao cấp.
Dr Nguyen Van Nghien
3
ÁP DỤNG PHÂN TÍCH 5 LỰC LƯỢNG
VÀO MÁY TÍNH CÁ NHÂN (PC) CÀI HỆ ĐIỀU HÀNH WINDOWS/DOS
Bây giờ chúng ta hãy sử dụng mô hình năm lực lượng để phân tích cơ cấu và sự hấp
dẫn (tính sinh lời) của ngành công nghiệp PC. Để minh họa cho tiềm năng của năm lực lượng,
chúng ta hãy giữ những xem xét của chúng ta về các hãng mà cạnh tranh với tiêu chuẩn công
nghiệp vượt trội của ngành công nghiệp PC – hệ điều hành Windows. Năm lực lượng này sẽ
gây ra những áp lực sinh lợi nào cho các hãng hoạt động trong thị trường này?
Hãng gia nhập mới: Việc gia nhập vào thị trường này sẽ là khá dễ dàng vì một vài lý
do. Thứ nhất, vốn yêu cầu cho hoạt động lắp ráp máy tính là vừa phải. Thứ hai, khách hàng
chỉ phải đối mặt với một vài chi phí chuyển đổi khi thay đổi nhà cung cấp và có lẽ sẽ không
do dự để mua một PC có hệ điều hành Windows đã được định dạng từ nhà cung cấp mới nếu
giá tốt. Trên thực tế, các hãng mới khởi sự trên Internet (ví dụ như pc.com) hiện đang cho
không các máy tính được đơn giản hóa đối với các khách hàng đăng ký hợp đồng dài hạn với
nhà cung cấp dịch vụ Internet. Những hãng mới này đang sử dụng cùng một chiến lược mà rất
nhiều công ty điện thoại di động đã triển khai trong suốt thập niên 1990: cho không phần
cứng để đổi lấy cam kết mua dịch vụ dài kỳ của khách hàng trong một vài giai đoạn. Thứ ba,
sự khác biệt về sản phẩm và tính kinh tế nhờ quy mô là rất khó nắm bắt trong ngành này.
Nhiều doanh nghiệp nhỏ có thể dễ dàng và nhanh chóng gia nhập hoạt động kinh doanh này
các thiết bị mà họ bán và cách thức mà các sản phẩm của họ được sử dụng. Vì những lý do
này, các nhà cung cấp có ưu thế trong việc đàm phán hiệu quả với các nhà sản xuất PC, do
Dr Nguyen Van Nghien
4
vậy gây ra áp lực về tính sinh lợi của họ giảm mạnh.
Sản phẩm thay thế. Sản phẩm thay thế cho PC nổi lên chính hiện nay là sự phát triển
của “máy tính mạng” hay công nghệ NC. Được phát triển và phát hành bởi một liên minh của
một số hãng (đứng đầu là Oracle và Sun Microsystems), NC có thể trở thành một sản phẩm
thay thế có sức mạnh nếu các tập đoàn lớn quyết định đặt mua với số lượng đáng kể. NC khác
với máy tính cá nhân ở chỗ nó không có ổ đĩa cứng và các thiết bị ngoại vi khác gắn với các
PC hiện nay. Thay vào đó, máy tính mạng liên kết với nhau thông qua một mạng tập trung các
máy chủ lớn chứa rất nhiều ứng dụng phần mềm mà hiện nay phải được tải về mỗi máy tính
cá nhân. Máy tính mạng, tuy vậy, sẽ có vẻ như không trở thành mối đe dọa thay thế quan
trọng đối với những người sử dụng PC ở gia đình, vì những người này mong muốn tất cả các
thiết bị ngoại vi và ứng dụng phần mềm phải được cài đặt trực tiếp vào máy tính để thực hiện
nhiệm vụ của họ.
Gần đây, nổi lên các máy hỗ trợ kỹ thuật số cá nhân cầm tay và nhỏ gọn (PDA) đang
thu hút sự chú ý của những người sử dụng PC hàng đầu, nhưng giá cao và các ứng dụng phần
mềm hạn chế đã góp phần làm cho sự hiện diện của thị trường bị thu hẹp. Tuy nhiên, sự nổi
lên của loại máy tính cá nhân cầm tay mà có thể nhận dạng chữ viết tay và thậm chí là nhận
lệnh bằng giọng nói có thể trở thành sản phẩm thay thế quan trọng trong tương lai gần. Nó có
thể là mối đe dọa thực sự cho ngành công nghiệp PC hiện nay nếu các PDA được coi là sản
phẩm điện tử tiêu dùng cao cấp kết hợp tính năng truy cập Internet và các tính năng truyền
thông mới mẻ khác. Trên thực tế, America Online đã bắt đầu xem xét tính khả thi của việc
cung cấp dịch vụ truy cập Internet qua các thiết bị điện tử tiêu dùng mà không phải là PC.
Tương tự như vậy, hệ thống trò chơi hình Playstation mới nhất của Sony đang bắt đầu phô
bày ra các khả năng điện tử bắt chước các PC trước đó.
Tóm lại, những khả năng này không tạo thuận lợi cho việc đạt được lợi nhuận cao
trong phân đoạn PC được điểu hành bởi Windows của ngành công nghiệp này. Nếu chúng xảy
ra, thì chúng sẽ gây ra áp lực về lợi nhuận giảm mạnh. Trong khi những hãng gia nhập sớm
sự đúng giờ khởi hành, và bảo dưỡng nói chung. Các nhà quản lý ở các cửa hàng bách hóa,
khách sạn, ngân hàng hay các cơ sở dịch vụ khác nhau thực hiện các hoạt động giám sát
tương tự để đánh giá những điểm mạnh, năng lực và mục tiêu của đối thủ. Loại nỗ lực xem
xét này cũng được gọi là thu thập thông tin của đối thủ cạnh tranh. Thu thập thông tin của đối
thủ cạnh tranh bao hồm các thông tin nhận được về sản phẩm tiềm năng được phát triển, công
nghệ mới được chứa trong các sản phẩm hiện có, thị trường mới sẽ gia nhập, chất lượng dịch
vụ và khả năng đáp ứng nhu cầu. Nói cách khác, thu nhập thông tin đối thủ cạnh tranh yêu
cầu thu được nhiều thông tin như có thể được tìm một cách hợp pháp để giúp doanh nghiệp
theo dõi, hiểu và đối phó tốt hơn với các đối thủ cạnh tranh. Xem xét và thu thập thông tin
liên tục sẽ giúp doanh nghiệp hiểu rõ hơn về môi trường và các đối thủ cạnh tranh của mình
để nhận dạng được các cơ hội mới cho các cải tiến trong tương lai cũng như các mối đe dọa
đến vị thế cạnh tranh hiện tại của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp có thể thu thập được một lượng lớn thông tin về đối thủ cạnh tranh từ
rất nhiều nguồn tin công cộng, Ví dụ, các bài phỏng vấn và những câu chuyện trên báo chí,
các tạp chí thương mại, và các kết quả nghiên cứu được công bố trên tạp chí đều có thể là các
nguồn tin rất có giá trị về các doanh nghiệp cạnh tranh. Dữ liệu kinh tế rộng hơn hoặc dữ liệu
cấp ngành có thể tìm được thông quá rất nhiều cơ sở dữ liệu, như Compustat, Bloomberg,
WSJ.com, CNNfn, và Valueline, là các nguồn cung cấp các dữ liệu tài chính cho các doanh
nghiệp cá thể và các ngành công nghiệp của họ. Các chương trình và hiệp định thương mại
thường mang lại cơ hội cho các doanh nghiệp trưng bày các sản phẩm tốt nhất của mình và đó
có thể là nguồn tin hữu dụng về thông tin của các đối thủ cạnh tranh.
KHÍA CẠNH ĐẠO ĐỨC KINH DOANH
Chương này cho biết cách một doanh nghiệp có thể cải thiện mức sinh lời bằng cách
lựa chọn cẩn thận ngành công nghiệp và các nhóm chiến lược trong cái mà nó cạnh tranh.
Định vị cẩn thận có thể cho phép doanh nghiệp tính giá cao hơn và hạn chế cạnh tranh. Nhưng
Dr Nguyen Van Nghien
6
những mục tiêu này có thực sự đúng? Doanh nghiệp có nên tính giá đến mức mà thị trường sẽ
chịu đựng? Có giới hạn nào đối với các phương tiện mà doanh nghiệp nên dùng để hạn chế
mạnh mẽ mà các hạn chế mang tính pháp lý là chưa phù hợp. Nếu được ban hành, nó có thể
quá nặng nề đến mức các doanh nghiệp dược phẩm một ngày nào đó sẽ mong muốn họ hành
động tự giác để giảm giá thuốc. Đây là sự đưa ra đặc uy lực vì Nghị Viện đã bắt đầu xem xét
khả năng đưa ra quy định bảo hiểm thuốc trong chương trình Medicare của mình.
TÓM TẮT
• Phân tích môi trường bên ngoài là quan trọng đối với doanh nghiệp để nhận dạng
được các cơ hội và mối đe dọa. Môi trường bên ngoài có thể được xem xét từ hai cấp độ của
quá trình phân tích: môi trường vĩ mô nói chung và môi trường cạnh tranh ở cấp độ ngành cụ
thể hơn.
• Môi trường vĩ mô nói chung mô tả các lực lượng và điều kiện ảnh hưởng đến toàn
bộ các doanh nghiệp trong nền kinh tế. Môi trường chung bao gồm các lực lượng như môi
trường nhân khẩu học, môi trường chính trị, môi trường xã hội/văn hóa, môi trường công
nghệ, và môi trường toàn cầu. Các lực lượng này có thể có tác động mạnh mẽ lên một số
doanh nghiệp hơn là đối với các doanh nghiệp khác.
• Môi trường cạnh tranh được hiểu là các lực lượng và nhân tố tiêu biểu cho các điều
Dr Nguyen Van Nghien
7
kiện của một ngành công nghiệp cụ thể mà doanh nghiệp thực hiện cạnh tranh trong đó. Các
lực lượng này thường có những ảnh hưởng tức thì và trực tiếp tới các doanh nghiệp trong
ngành
• Mô hình năm lực lượng của Porter mô tả các nhân tố chủ chốt ảnh hưởng đến môi
trường ngành. Các lực lượng này bao gồm (1) sự đe dọa của những người mới, (2) quyền
thương thuyết của người mua, (3) quyền thương thuyết của nhà cung cấp, (4) sức mạnh của
đối thủ cạnh tranh, (5) mối đe dọa tiềm ẩn của các sản phẩm thay thế
• Sức hấp dẫn của ngành xác định tiềm năng cho khả năng sinh lời từ hoạt động cạnh
tranh trong ngành đó. Một ngành công nghiệp hấp dẫn là ngành có tiềm năng thu lợi cao. Một
ngành công nghiệp không hấp dẫn là ngành có ít cơ hội để thu được lợi nhuận cao.
• Các nhóm chiến lược bao gồm các doanh nghiệp có cùng vị thế chiến lược và đặc
điểm cạnh tranh trong một ngành công nghiệp.
Investor’s Business Daily, September 29, 1998, p. A10; “Worldwide PC Shipments Expected
to Rise 11% in ’99,” Wall Street Journal, September 25, 1998, p. B5; “AMD Chip May Cut
Prices of Laptop,” Wall Street Journal, September 22, 1998, p. B6; “PC Makers Equip
Laptops With Latest Pentium II Chip,” Wall Street Journal, September 10, 1998, p. B6; “Big
PC Makers in Taiwan Post Sizable Gains,” Wall Street Journal, September 8, 1998, p. B9F;
Dr Nguyen Van Nghien
8
“A PC in Your Car?” Fortune, September 7, 1998, p. 112+; “Dell Computer Looks to Hit a
Home Run,” Investor’s Business Daily, August 20, 1998, p. A8; “Sun and IBM Release an
Operating System in the Java Language,” Wall Street Journal, August 5, 1998, p. B5; “The
ABCs to Today’s PC Bus? Spell it USB,” Investor’s Business Daily, July 31, 1998, p. A1;
“Apple Introduces iMac, A Fast and Potent PC With a Sleek New Look,” Wall Street Journal,
July 30, 1998, p. B1; “Compaq Says Cheapest PCs Are Most Profitable,” Wall Street Journal,
July 14, 1998, p. B5; “Windows 98 Sales Exceed Pace of 95 Predecessor,” Wall Street
Journal, July 9, 1998; “How Low Can PCs Go? Not Much Lower,” Investor’s Business Daily,
June 12, 1998, p. A1;
“Packard to Offer Laptops Minus Explorer Icon,” Wall Street Journal, June 1, 1998, p.
B5; “Dell Delivers; HP Eats Crow,” Fortune, May 25, 1998, p. 158; “PC Playing Field Tilts
in Favor of Dell,” Wall Street Journal, May 21, 1998, p. B8; “PC Makers Push Ahead on
Windows 98,”
Wall Street Journal, May 19, 1998, p. B6; “The Squeeze Is On for PC Makers,”
Fortune, April
13, 1998, p. 182+; “Chip May Drive PC Prices Under $400,” Wall Street Journal,
April 6, 1998, p. A4; “PC Makers Are Suffering from an Identity Crisis,” Investor’s Business
Daily, March 19,
1998, p. A8; “Apple’s Rise is Tied to Marketing Strategy, New Products and Healthier
Outlook for Products,” Wall Street Journal, March 18, 1998, p. C2; “How IBM Turned
Around Its Ailing PC Division,” Wall Street Journal, March 12, 1998, p. B1; “Are You Ready
for PC-TV Convergence,” Investor’s Business Daily, March 9, 1998, p. A1; “Can a Sub-
$1,000 PC Meet Your Needs?” Investor’s Business Daily, February 2, 1998, p. A1; “The
4. R. D. Dickinson, “The Business of Equal Opportunity,” Harvard Business Review,
January–February 1992, pp. 46–54.
5. See B. Avishai, “What Is Business’s Social Compact?” Harvard Business Review,
January–February 1994, pp. 38–48. Also see “When a Parent Needs Care,” Parade,
January 29,
1995, pp. 4–6.
6. See, for example, M. E. Porter, Competitive Strategy (New York: Free Press, 1980);
M. E.
Porter, Competitive Advantage (New York: Free Press, 1985); and M. E. Porter,
“Towards a
Dynamic Theory of Strategy,” Strategic Management Journal, vol. 12, Winter 1991,
pp. 95–117.
7. Early discussion of strategic groups is included in M. E. Porter, Competitive
Strategy (New
York: Free Press, 1980), Chapter 7. Some of the most recent empirical work
examining
strategic groups include the select following: A. Fiegenbaum and H. Thomas,
“Strategic Groups and Performance: The U.S. Insurance Industry, 1970–1984,” Strategic
Management Journal,
vol. 11, March 1990, pp. 197–215; A. Fiegenbaum, D. Sudharshan, and H. Thomas,
“Strategic Time Periods and Strategic Groups Research: Concepts and Empirical Examples,”
Journal of Management Studies, vol. 27, March 1990, pp. 133–148; W. C. Bogner and H.
Thomas, “The Role of Competitive Groups in Strategy Formulation: A Dynamic Integration
of Two Competing Models,” Journal of Management Studies, vol. 30, January 1993, pp. 51–
68;
R. E. Caves and P. Ghemawat, “Identifying Mobility Barriers,” Strategic Management
Journal, vol. 13, January 1992, pp. 1–13; M. J. Tang and H. Thomas, “The Concept of
Strategic Groups: Theoretical Construct or Analytical Convenience,” Managerial and
Decision Economics,
vol. 13, no. 4, 1993, pp. 323–330; K. O. Cool and I. Dierickx, “Rivalry, Strategic