Kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành tại công ty CP xây lắp I Nam Định doc - Pdf 15

Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Trần Đình Khôi Nguyên

PHẦN I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ
SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM XÂY LẮP Ở
DOANH NGHIỆP XÂY LẮP
I. Đặc điểm của ngành xây dựng cơ bản và của sản phẩm xây lắp
1. Đặc điểm của ngành xây dựng cơ bản
Xây dựng cơ bản là một ngành sản xuất vật chất độc lập, có chức năng sản xuất tài
sản cố định cho nền kinh tế quốc dân. Nó tạo nên cơ sở vật chất cho xã hội, tăng tiềm
lực kinh tế, quốc phòng cho cả nước. Vì vậy một bộ phận lớn của thu nhập quốc dân
nói chung, của quỹ nói riêng cùng với vốn đầu tư, tài chính hỗ trợ của nước ngoài
được sử dụng trong lĩnh vực xây dựng cơ bản.
So với những ngành khác, XDCB có những đặc điểm kinh tế kỹ thuật đặc trưng, thể
hiện rõ nét ở sản phẩm xây lắp, quá trình tạo ra sản phẩm của ngành.
2. Đặc điểm của sản phẩm xây lắp
Sản phẩm của ngành XDCB là những công trình công nghiệp, dân dụng có đủ điều
kiện đảm bảo để đưa vào sản xuất sử dụng. Đó là sản phẩm kết hợp giữa công nghệ
xây dựng với một mặt bằng đất (bao gồm cả mặt nước, mặt biển và thềm lục địa) được
tạo thành bằng vật liệu xây dựng, thiết bị máy móc và lao động sống. Công trình xây
dựng bao gồm một hoặc nhiều hạng mục xây dựng công trình nằm trong dây chuyền
công nghệ hoàn chỉnh (có tính đến việc hợp tác sản xuất để làm ra sản phẩm cuối cùng
nêu trong dự án).
Đặc điểm của sản phẩm xây lắp là quy mô lớn, kết cấu phức tạp, thời gian sử dụng
lâu dài, có giá trị lớn. Nó mang tính cố định, nơi sản xuất sản phẩm cũng đồng thời là
nơi sau này khi sản phẩm hoàn thành được đưa vào sử dụng và phát huy tác dụng.
Sản phẩm xây lắp mang tính chất tổng thể về mặt kinh tế, chính trị, kỹ thuật, nghệ
thuật. Nó rất đa dạng nhưng mang tính độc lập, mỗi công trình xây dựng được xây
theo một thiết kế riêng và tại một địa điểm nhất định. Những đặc điểm này có tác dụng
lớn tới quá trình sản xuất của ngành xây dựng.
Quá trình khởi công công trình cho tới khi công trình hoàn thành, bàn giao đưa vào
sử dụng thường là dài. Nó phụ thuộc vào quy mô và tính chất phức tạp về kỹ thuật của

1.2. Phân loại chi phí sản xuất
Để quản lý và hạch toán chi phí sản xuất xây lắp theo từng nội dung cụ thể, theo
từng đối tượng tập hợp chi phí, đối tượng tính giá thành, phải tiến hành phân loại chi
phí một cách khoa học, thống nhất theo những tiêu chuẩn nhất định.
Phân loại chi phí sản xuất xây lắp một cách khoa học và hợp lý là một yêu cầu quan
trọng trong công tác kế hoạch, công tác hạch toán và tính giá thành sản phẩm. Tùy
theo yêu cầu của công tác quản lý và hạch toán mà có nhiều cách phân loại khác nhau:
1.2.1. Phân loại chi phí sản xuất theo tính chất kinh tế
Theo tính chất kinh tế, các chi phí sản xuất xây lắp được phân loại thành các yếu tố
chi phí, trong mỗi yếu tố chi phí bao gồm những chi phí có cùng tính chất kinh tế.
Theo cách phân loại này thì toàn bộ chi phí sản xuất xây lắp của doanh nghiệp xây
lắp được chia ra 5 yếu tố chi phí cơ bản sau:
+ Yếu tố chi phí nguyên vật liệu: Bao gồm toàn bộ chi phí về nguyên vật liệu
chính, nguyên vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế.
+ Yếu tố chi phí nhân công: Là toàn bộ tiền công, các khoản trích BHXH,
BHYT, KPCĐ, BHTN trên tiền lương và các khoản khác phải trả cho người lao động.
+ Yếu tố chi phí khấu hao tài sản cố định: Là toàn bộ số tiền phải trích khấu
hao tài sản sử dụng trong doanh nghiệp.
+ Yếu tố chi phí dịch vụ mua ngoài: Là số tiền phải trả về các loại dịch vụ mua
ngoài, thuê ngoài như chi phí điện, nước, điện thoại,
+ Yếu tố chi phí bằng tiền khác: Là toàn bộ số chi phí phát sinh trong hoạt
động sản xuất kinh doanh ngoài bốn yếu tố kể trên.
Phân loại chi phí sản xuất xây lắp theo yếu tố giúp ta biết được những chi phí gì đã
dùng vào sản xuất và tỷ trọng của từng khoản chi phí đó là bao nhiêu để phân tích,
đánh giá tình hình thực hiện dự toán chi phí xây lắp, từ đó cung cấp tài liệu để tổng
hợp tính toán thu nhập quốc dân.
1.2.2. Phân loại chi phí sản xuất theo mục đích và công dụng của chi phí
Trong doanh nghiệp xây lắp toàn bộ chi phí sản xuất xây lắp phát sinh trong kỳ
được chia ra làm các khoản mục chi phí sau:
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Là chi phí (đã tính đến hiện trường xây lắp) của

dựng, trích BHXH, BHYT, KPCĐ, BHTN của công nhân trực tiếp xây lắp, công nhân
sử dụng máy và nhân viên quản lý đội, nhân viên kế toán, thống kê, thủ kho, công
nhân vận chuyển, sửa chữa ở đội xây dựng.
+ Chi phí vật liệu: Bao gồm các chi phí vật liệu sử dụng chung như vật liệu dùng
để sửa chữa, bảo dưỡng tài sản cố định, vật liệu văn phòng và những vật liệu dùng cho
nhu cầu quản lý chung ở đội.
+ Chi phí dụng cụ sản xuất: Là chi phí về công cụ, dụng cụ dùng cho nhu cầu sản
xuất chung ở đội xây dựng như: khuôn mẫu, dụng cụ gá lắp, dụng cụ cầm tay, dụng cụ
bảo hộ lao động, ván khuôn, dàn giáo,
+ Chi phí khấu hao TSCĐ: Bao gồm toàn bộ số tiền trích khấu hao của TSCĐ hữu
hình, TSCĐ thuê tài chính, TSCĐ vô hình sử dụng ở các đội xây dựng.
+ Chi phí dịch vụ mua ngoài: Là những chi phí về lao vụ, dịch vụ mua từ bên
ngoài để phục vụ cho hoạt động sản xuất chung ở đội xây dựng như: chi phí về điện,
nước, chi phí điện thoại, Fax, chi phí sửa chữa TSCĐ thuê ngoài.
+ Chi phí bằng tiền khác: Bao gồm những chi phí bằng tiền ngoài những chi phí
nêu trên phục vụ cho nhu cầu sản xuất chung của đội xây dựng.
Phân loại chi phí theo đúng mục đích và công dụng kinh tế có tác dụng phục vụ cho
yêu cầu quản lý chi phí sản xuất xây lắp theo định mức, cung cấp số liệu cho việc tính
giá thành sản phẩm xây lắp, phân tích tình hình thực hiện kế hoạch giá thành.
1.2.3. Phân loại chi phí theo cách ứng xử của chi phí
Theo cách này chi phí được phân loại theo cách ứng xử của chi phí hay là xem xét sự
biến động của chi phí khi mức độ hoạt động thay đổi. Chi phí được phân thành 3 loại:
SVTH: Nguyễn Thị Hương_Lớp: 07AC Trang 3
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Trần Đình Khôi Nguyên

- Chi phí biến đổi (biến phí): Là những khoản chi phí có quan hệ tỷ lệ thuận với
khối lượng công việc hoàn thành, thường bao gồm: chí phí nguyên vật liệu, chi phí nhân
công, chi phí bao bì, …Biến phí trên một đơn vị sản phẩm luôn là một mức ổn định
- Chi phí cố định (định phí): Là những khoản chi phí cố định khi khối lượng công
việc hoàn thành thay đổi. Tuy nhiên, nếu tính trên một đơn vị sản phẩm thì định phí lại

lượng công tác xây lắp đã hoàn thành. Trong giá thành sản phẩm xây lắp chỉ bao gồm
những chi phí tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào quá trình sản xuất mà không bao
gồm những chi phí phát sinh trong kỳ kinh doanh của doanh nghiệp, những chi phí đó
phải được bồi hoàn để quá trình tái sản xuất được diễn ra liên tục.
2.2. Phân loại giá thành
2.2.1. Xét theo thời điểm và nguồn số liệu để tính giá thành
- Giá thành dự toán: Là tổng số các chi phí dự toán để hoàn thành khối lượng xây
lắp công trình. Giá thành này được xác định trên cơ sở các định mức, quy định của
Nhà nước về việc quản lý giá xây dựng các công trình và được áp dụng theo từng vùng
lãnh thổ. Giá thành dự toán nhỏ hơn giá trị dự toán ở phần thu nhập chịu thuế tính
trước và thuế giá trị gia tăng phải nộp.
SVTH: Nguyễn Thị Hương_Lớp: 07AC Trang 4
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Trần Đình Khôi Nguyên

+ Giá thành dự toán công trình: Là tổng chi phí cần thiết cho việc đầu tư xây dựng
công trình được tính toán cụ thể ở giai đoạn thiết kế kỹ thuật hoặc thiết kế kỹ thuật -
thi công.
+ Giá thành dự toán hạng mục công trình: Là toàn bộ chi phí cần thiết để hoàn
thành khối lượng công tác xây lắp của hạng mục công trình được tính toán từ thiết kế
bản vẽ thi công hoặc thiết kế kỹ thuật - thi công.
- Giá thành kế hoạch: Là giá thành được tính toán xuất phát từ những điều kiện
cụ thể của doanh nghiệp xây lắp, giá thành này được xác định trên cơ sở biện pháp thi
công, các định mức và đơn giá áp dụng trong doanh nghiệp.
- Giá thành thực tế: Là chỉ tiêu phản ánh toàn bộ các chi phí thực tế để hoàn
thành, bàn giao khối lượng xây lắp mà doanh nghiệp đã nhận thầu. Giá thành này bao
gồm các chi phí theo định mức, vượt định mức và không định mức như các khoản thiệt
hại trong sản xuất, các khoản bội chi, lãng phí về vật tư, lao động, tiền vốn trong quá
trình sản xuất và quản lý của doanh nghiệp được phép tính vào giá thành.
2.2.2. Xét theo phạm vi phát sinh chi phí
Theo phạm vi này giá thành sản phẩm xây lắp chia làm 2 loại:

Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Trần Đình Khôi Nguyên

Về thực chất, chi phí và giá thành là hai mặt khác nhau của quá trình sản xuất. Chi
phí sản xuất phản ánh mặt hao phí sản xuất, còn giá thành sản phẩm phản ánh mặt kết
quả sản xuất. Tất cả những chi phí phát sinh và các chi phí tính trước có liên quan đến
khối lượng sản phẩm, lao vụ, dịch vụ đã hoàn thành trong kỳ sẽ tạo nên chỉ tiêu giá
thành sản phẩm. Nói cách khác, giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền toàn bộ các
chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra bất kể ở kỳ nào nhưng có liên quan đến khối lượng
công việc, sản phẩm đã hoàn thành trong kỳ.
Sơ đồ thể hiện mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành:
Tổng giá thành sản phẩm = Chi phí dở dang đầu kỳ + Chi phí phát trong kỳ -
Chi phí dở dang cuối kỳ.
III. Kế toán tập hợp chi phí sản xuất xây lắp
1. Đối tượng và phương pháp tập hợp chi phí sản xuất
1.1. Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất
Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là phạm vi, giới hạn để tập hợp chi phí nhằm đáp
ứng yêu cầu kiểm soát và tính giá thành.
Việc xác định đối tượng kế toán chi phí sản xuất là khâu đầu tiên trong công tác kế
toán chi phí sản xuất. Lựa chọn chính xác đối tượng kế toán chi phí sản xuất có tác
dụng tốt cho tăng cường quản lý sản xuất và hạch toán kinh doanh toàn doanh nghiệp.
Chi phí sản xuất trong doanh nghiệp bao gồm nhiều nội dung, công dụng khác
nhau, phát sinh ở địa điểm khác nhau. Chi phí sản xuất cần được tập hợp theo yếu tố,
khoản mục chi phí, theo phạm vi giới hạn nhất định để phục vụ cho việc tính giá
thành. Việc xác định đối tượng kế toán chi phí sản xuất cần được dựa trên những căn
cứ cơ bản:
- Căn cứ vào tính chất sản xuất và đặc điểm quy trình công nghệ kỹ thuật sản xuất
sản phẩm.
- Căn cứ vào đặc điểm tổ chức sản xuất xem xét doanh nghiệp có tổ chức thành
phân xưởng hay không.
- Căn cứ vào loại hình sản xuất sản phẩm.

2. Kế toán chi phí sản xuất xây lắp
2.1. Kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
2.1.1. Khái niệm và nguyên tắc hạch toán
2.1.1.1. Khái niệm
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp trong XDCB là những chi phí về nguyên vật liệu
chính, vật liệu phụ, các cấu kiện hoặc các bộ phận rời cũng như vật liệu luân chuyển
chẳng hạn như: Gạch , gỗ, cát, sạn, xi măng, sắt thép, kể cả những trang thiết bị được
lắp đặt cho các công trình, hạng mục công trình mà doanh nghiệp nhận thầu xây lắp là
người mua về lắp đặt, bởi lẽ những trang thiết bị này là một trong những phần cấu tạo
nên thực thể sản phẩm xây lắp.
Vậy chi phí vật liệu trực tiếp là những chi phí tham gia cấu thành nên thực thể sản
phẩm xây lắp hoặc giúp cho việc thực hiện và hoàn thành khối lượng xây lắp.
2.1.1.2. Nguyên tắc hạch toán
Các vật liệu sử dụng cho việc xây dựng công trình, hạng mục công trình nào thì
phải tính trực tiếp cho công trình, hạng mục công trình đó theo số lượng thực tế đã sử
dụng và theo giá thực tế xuất kho.
Trong điều kiện thực tế sản xuất xây lắp có những trường hợp không cho phép tính
riêng chi phí vật liệu trực tiếp cho từng công trình, hạng mục công trình thì lúc này kế
toán có thể áp dụng phương pháp phân bổ gián tiếp để phân bổ chi phí vật liệu trực
tiếp cho các đối tượng sử dụng theo tiêu thức phân bổ hợp lý.
Chi phí vật liệu
phân bổ cho đối
tượng i
=
Tiêu thức phân bổ của
đối tượng i
x
Tổng chi phí vật liệu cần phân bổ
Tổng tiêu thức dùng để phân bổ
Trong công tác hạch toán, từ việc tổ chức ghi chép ban đầu đến việc tổng hợp, phân

của người bán. Phiếu xuất kho và chứng từ liên quan như hoá đơn vận chuyển tạo
thành bộ chứng từ được chuyển về phòng kế toán làm số liệu hạch toán.
2.1.3. Tài khoản sử dụng
Để hạch toán khoản chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, kế toán sử dụng tài khoản 621
- “Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp”.
Tài khoản này có kết cấu như sau:
Bên Nợ:
+ Phản ánh giá trị nguyên vật liệu xuất dùng trực tiếp cho việc xây lắp các công
trình, hạng mục công trình.
Bên Có:
+ Giá trị nguyên vật liệu sử dụng không hết nhập lại kho.
+ Kết chuyển hoặc phân bổ chi phí NVL trực tiếp thực tế sử dụng cho sản xuất
kinh doanh để tính giá thành sản phẩm xây lắp hoàn thành trong kỳ
Tài khoản 621 cuối kỳ không có số dư. Trong hoạt động xây lắp, tài khoản này
được mở cho từng công trình, hạng mục công trình.
2.1.4. Phương pháp hạch toán
SƠ ĐỒ 1: HẠCH TOÁN CHI PHÍ NGUYÊN VẬT LIỆU TRỰC TIẾP
2.2 Kế toán chi phí nhân công trực tiếp
2.2.1. Khái niệm và nguyên tắc hạch toán
2.2.1.1. Khái niệm
Chi phí nhân công trực tiếp là tiền lương chính, lương phụ và các khoản phụ cấp có
tính chất lương phải trả cho công nhân trực tiếp thực hiện khối lượng công tác xây lắp,
công nhân phục vụ xây lắp kể cả công nhân vận chuyển, bốc dỡ vật liệu trong phạm vi
mặt bằng xây lắp và công nhân chuẩn bị, kết thúc thu dọn hiện trường thi công, không
phân biệt công nhân trong danh sách hay thuê ngoài.
Vậy chi phí nhân công trực tiếp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí về lao
động sống mà doanh nghiệp đã chi ra có liên quan trực tiếp đến việc xây lắp trong một
thời kỳ nhất định.
SVTH: Nguyễn Thị Hương_Lớp: 07AC Trang 8
TK 621

công trực tiếp.
2.2.2. Chứng từ sử dụng
+ Bảng chấm công.
+ Bảng chấm công làm thêm giờ.
+ Hợp đồng giao khoán, Biên bản thanh lý hợp đồng giao khoán.
+ Bảng thanh toán tiền thuê ngoài
+ Bảng thanh toán tiền tạm ứng
+ Bảng phân bổ tiền lương và bảo hiểm xã hội
2.2.3. Tài khoản sử dụng
Để hạch toán chi phí nhân công trực tiếp, kế toán sử dụng tài khoản 622 - “Chi phí
nhân công trực tiếp”.
Tài khoản này có kết cấu như sau:
Bên Nợ:
+ Chi phí nhân công trực tiếp tham gia thực hiện khối lượng công tác xây lắp trong kỳ.
+ Khoản trích tiền lương nghỉ phép của công nhân sản xuất theo kế hoạch trong năm.
Bên Có:
+ Kết chuyển hoặc phân bổ chi phí nhân công trực tiếp để tổng hợp chi phí và tính
giá thành sản phẩm xây lắp hoàn thành trong kỳ.
Tài khoản 622 cuối kỳ không có số dư. Trong hoạt động xây lắp, tài khoản này
được mở chi tiết cho từng công trình, hạng mục công trình.
2.2.4. Phương pháp hạch toán
SƠ ĐỒ 2: HẠCH TOÁN CHI PHÍ NHÂN CÔNG TRỰC TIẾP
SVTH: Nguyễn Thị Hương_Lớp: 07AC Trang 9
TK 154
Kết chuyển chi phí
NCTT
TK 622
Tạm ứng chi phí giao khoán
xây lắp nội bộ
TK 334

cho từng công trình, hạng mục công trình.
+ Phiếu chi, Phiếu xuất kho,… để phản ánh ghi tăng chi phí sử dụng máy thi công
và ghi giảm đối với các tài khoản đối ứng.
+ Đối với chi phí khấu hao máy thi công thì cuối tháng căn cứ vào bảng tính và
phân bổ khấu hao để ghi tăng phần chi phí khấu hao vào chi phí sử dụng máy thi công.
2.3.3. Tài khoản sử dụng
Để hạch toán khoản chi phí sử dụng máy thi công, kế toán sử dụng tài khoản 623 -
“Chi phí sử dụng máy thi công”.
Tài khoản này có kết cấu như sau:
Bên Nợ:
+ Tập hợp chi phí sử dụng máy thi công phát sinh trong kỳ theo các điều khoản
quy định.
Bên Có:
+ Các khoản được ghi giảm chi phí sử dụng máy thi công.
+ Kết chuyển hoặc phân bổ chi phí sử dụng máy thi công để tổng hợp chi phí và
tính giá thành sản phẩm xây lắp hoàn thành trong kỳ.
Tài khoản 623 không có số dư cuối kỳ
Tài khoản 623 có 6 tài khoản cấp 2:
TK 6231 - “Chi phí nhân công sử dụng máy”: Dùng để phản ánh lương chính,
lương phụ, phụ cấp lương phải trả cho công nhân trực tiếp điều khiển hay phục vụ xe
máy thi công như: vận chuyển, cung cấp nhiên liệu, vật liệu, cho xe máy thi công.
TK 6232 -“Chi phí vật liệu”: Dùng để phản ánh chi phí nhiên liệu (xăng, dầu,
mỡ ), vật liệu khác phục vụ xe máy thi công.
TK 6233 - “Chi phí dụng cụ sản xuất”: Dùng để phản ánh công cụ, dụng cụ lao
động liên quan đến hoạt động của xe, máy thi công.
SVTH: Nguyễn Thị Hương_Lớp: 07AC Trang 10
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Trần Đình Khôi Nguyên

TK 6234 - “Chi phí khấu hao máy thi công”: Dùng để phản ánh chi phí khấu hao
xe, máy thi công sử dụng vào hoạt động xây lắp công trình.

SVTH: Nguyễn Thị Hương_Lớp: 07AC Trang 11
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Trần Đình Khôi Nguyên

SƠ ĐỒ 3: HẠCH TOÁN CHI PHÍ SỬ DỤNG MÁY THI CÔNG (trường hợp 1)
SƠ ĐỒ 4: HẠCH TOÁN CHI PHÍ SỬ DỤNG MÁY THI CÔNG (trường hợp 2)
2.4. Kế toán chi phí sản xuất chung
2.4.1. Khái niệm và nguyên tắc hạch toán
2.4.1.1. Khái niệm
Chi phí sản xuất chung của hoạt động xây lắp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ
những hao phí về lao động sống và lao động vật hóa kết tinh trong giá thành công tác
xây lắp có liên quan đến việc tổ chức, phục vụ và quản lý thi công của các đội thi công
xây lắp và ở các công trường xây dựng.
Chi phí sản xuất chung là khoản mục chi phí tổng hợp gồm nhiều nội dung chi phí
khác nhau và có mối quan hệ gián tiếp với đối tượng xây lắp.
SVTH: Nguyễn Thị Hương_Lớp: 07AC Trang 12
TK142
Phân bổ chi phí tạm thời
TK 623 TK 111,112,152
Các khoản ghi giảm
chi phí MTC
Kết chuyển và phân bổ chi
phí MTC
NVL trực tiếp
TK 154
TK 111,334
Tiền lương phải trả công
nhân điều khiên máy thi
công
TK 111,112,141,331
Chi phí dịch vụ, mua ngoài

công trình xây lắp khác nhau nhưng không thể tính trực tiếp được cho từng công trình,
hạng mục công trình đó kế toán có thể áp dụng phương pháp phân bổ gián tiếp để phân bổ
chi phí sản xuất chung cho các đối tượng có liên quan theo tiêu thức phân bổ hợp lý.
Chi phí sản xuất
chung phân bổ
cho từng đối
tượng
=
Tổng chi phí SXC
cần phân bổ
x
Tiêu thức
phân bổ
của từng
đối tượng
Tổng tiêu thức
dùng để phân bổ
Cuối kỳ kế toán hoặc khi công trình hoàn thành phải tiến hành kiểm kê đánh giá để
ghi giảm chi phí sản xuất chung sử dụng cho công trình, đồng thời phải tổ chức hạch
toán và đánh giá đúng đắn số phế liệu thu hồi (nếu có), theo từng đối tượng sử dụng
nhằm đảm bảo tính chính xác của giá công tác xây lắp.
2.4.2. Chứng từ sử dụng
Khi có các nghiệp vụ kinh tế phát sinh liên quan đến các chi phí liên quan đến phân
xưởng sản xuất thì kế toán căn cứ vào các chứng từ gốc như:
+ Phiếu chi, Phiếu xuất kho,… để phản ánh ghi tăng chi phí sản xuất chung và ghi
giảm đối với các tài khoản đối ứng.
+ Đối với chi phí khấu hao TSCĐ thuộc bộ phận phân xưởng thì cuối tháng căn cứ
vào bảng tính và phân bổ khấu hao để ghi tăng phần chi phí khấu hao vào chi phí sản
xuất chung.
+ Cuối kỳ hạch toán, căn cứ vào bảng phân bổ chi phí sản xuất chung để kết

ngoài phục vụ cho hoạt động của đội xây lắp như: chi phí sửa chữa, chi phí thuê ngoài,
chi phí điện, nước, chi phí trả cho nhà thầu phụ,
TK 6278 - “Chi phí bằng tiền khác”: Phản ánh các chi phí bằng tiền ngoài các chi
phí đã kể trên phục vụ cho hoạt động của đội, khoản chi cho lao động nữ.
Trong hoạt động xây lắp, tài khoản này được mở chi tiết cho từng công trình, hạng
mục công trình.
2.4.4. Phương pháp hạch toán
SƠ ĐỒ 5: HẠCH TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT CHUNG
IV. Kế toán tổng hợp chi phí sản xuất, đánh giá sản phẩm dở dang và tính giá
thành trong doanh nghiệp xây lắp
1. Kế toán tổng hợp chi phí sản xuất
Chi phí sản xuất sau khi được tập hợp riêng từng khoản mục chi phí NVL trực tiếp,
chi phí NCTT, chi phí sử dụng MTC và chi phí SXC cần kết chuyển để tập hợp chi phí
sản xuất của toàn doanh nghiệp và chi tiết cho từng đối tượng kế toán tập hợp chi phí
sản xuất.
1.1. Tài khoản sử dụng
Đối với hoạt động kinh doanh xây lắp quy định chỉ áp dụng phương pháp hạch toán
hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường xuyên. Vì vậy, việc tổng hợp chi phí
xây lắp, kinh doanh, phục vụ cho việc tính giá thành sản xuất sản phẩm xây lắp được
thực hiện trên tài khoản 154 - “Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang”.
Tài khoản này có kết cấu như sau:
Bên Nợ:
SVTH: Nguyễn Thị Hương_Lớp: 07AC Trang 14
TK 335
Trích trước chi phí sửa chữa
lớn TSCĐ
TK 627 TK 111,112,152
Các khoản ghi giảm
chi phí SX chung
Kết chuyển và phân bổ chi

phẩm khác và phản ánh giá trị sản phẩm khác dở dang cuối kỳ.
TK 1543 - “Dịch vụ”: Dùng để tập hợp chi phí, tính giá thành dịch vụ và phản ánh
chi phí dịch vụ dở dang cuối kỳ.
TK 1544- “ Chi phí bảo hành xây lắp”: Dùng để tập hợp chi phí bảo hành công
trình xây dựng, lắp đặt thực tế phát sinh trong kỳ và giá trị công trình bảo hành xây lắp
còn dở dang cuối kỳ.
Tài khoản 154 được mở chi tiết cho từng công trình, hạng mục công trình, các giai
đoạn công việc của hạng mục công trình hoặc nhóm các hạng mục công trình.
1.2. Phương pháp hạch toán
SƠ ĐỒ 6: HẠCH TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT KINH DOANH DỞ DANG

2. Đánh giá sản phẩm dở dang
Khối lượng xây lắp dở dang là khối lượng xây lắp còn đang nằm trong quá trình xây
lắp. Giá trị khối lượng xây lắp dở dang được xác định bằng phương pháp kiểm kê hàng
tháng. Việc tính và xác định khối lượng xây lắp dở dang phụ thuộc vào phương thức thanh
toán khối lượng công tác xây lắp hoàn thành giữa người nhận thầu và người giao thầu
- Nếu quy định thanh toán khối lượng xây lắp sau khi hoàn thành toàn bộ thì khối
lượng xây lắp dở dang là tổng chi phí phát sinh từ lúc khởi công đến thời điểm xác
SVTH: Nguyễn Thị Hương_Lớp: 07AC Trang 15
TK 154
TK 623
Kết chuyển chi phí sử dụng
máy thi công
Kết chuyển chi phí NVLTT
TK 621
Kết chuyển chi phí NCTT
TK 622
TK 152
Giá thành sản phẩm hoàn thành
TK 632

Giá trị
khối
lượng
DDC
K
=
Giá trị khối
lượng xây lắp
DDĐK
+
Chi phí xây
lắp PSTK
x
Giá trị
dự
toán
khối
lượng
xây
lắp
DDCK
x
Mức
độ
hoàn
thàn
h
Giá trị dự toán
khối lượng
xây lắp hoàn

Chi phí
xây lắp
PSTK
-
Giá trị khối
lượng xây
lắp DDCK
3.2. Phương pháp tính giá thành theo hệ số
Phương pháp này áp dụng trong trường hợp đối tượng tập hợp chi phí xây lắp rộng
hơn đối tượng tính giá thành (đối tượng tập hợp chi phí là từng công trình còn đối
tượng tính giá thành là từng hạng mục công trình ). Theo phương pháp này giá thành
của khối lượng xây lắp hoàn thành được xác định như sau:
SVTH: Nguyễn Thị Hương_Lớp: 07AC Trang 16
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Trần Đình Khôi Nguyên

Giá thành
từng khối
lượng
xây lắp
=
Giá trị
KLXL
DDĐK
+
CPXL
phát
sinh
trong kỳ
-
Giá trị

3.4. Phương pháp tính giá thành theo hợp đồng
Theo phương pháp này, chi phí sản xuất xây lắp có liên quan đến đối tượng nào của
hợp đồng sẽ được tập hợp trực tiếp hoặc gián tiếp cho đối tượng của hợp đồng đó. Khi
nào xây lắp hoàn thành khối lượng theo hợp đồng, kế toán sẽ tính giá thành các khối
lượng xây lắp hoàn thành của hợp đồng.
SVTH: Nguyễn Thị Hương_Lớp: 07AC Trang 17
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Trần Đình Khôi Nguyên

PHẦN II: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ
SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY
CỔ PHẦN XÂY LẮP I NAM ĐỊNH
A. GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY LẮP I NAM ĐỊNH
I. Quá trình hình thành và phát triển của công ty
1. Quá trình hình thành
Công ty cổ phần xây lắp I Nam Định trực thuộc Sở xây dựng tỉnh Nam Định, được
thành lập từ ngày 01/07/1960 tiền thân là công ty xây lắp I và công ty thi công cơ giới
hợp lại.
Năm 1992 theo quyết định 58/QĐ ngày 08/5/1992 của UBND tỉnh Nam Hà về việc
đổi tên công ty xây lắp I thành công ty xây lắp I Nam Hà.
Đến năm 1996 theo quyết định số 148/QĐ tỉnh Nam Hà ngày 29/12/1996 về việc
quyết định đổi tên công ty xây lắp I Nam Hà thành công ty xây lắp I Nam Định.
Đến ngày 05/01/2006 công ty cổ phần hóa, công ty được mang tên - Công ty cổ
phần xây lắp I Nam Định.
- Trụ sở chính công ty: Số 9 Nguyễn Trãi - TP Nam Định
- Điện thoại: 03503649489 Fax: 03503860661
- Tài khoản giao dịch: 48010000090116 - Ngân hàng Đầu tư và phát triển tỉnh
Nam Định.
- Mã số thuế: 0600344637
- Chủ tịch hội đồng quản trị kiêm giám đốc công ty: Ông Nguyễn Tiến Dũng
- Vốn điều lệ: 7.730.300.000 đồng (trong đó vốn nhà nước chiếm 45%; vốn góp

2. Tổng doanh thu thuần 42.378.849.590
58.089.475.201
76.780.532.840
3. Tổng lợi nhuận trước thuế 300.678.675 900.578.409 750.780.241
4. Số lao động 220 người 257 người 350 người
5. Thu nhập bình quân
2.350.000 2.450.000 2.510.000
Nhìn vào bảng trên ta có thể thấy tình hình hoạt động của công ty trong những năm
gần đây. Giá trị tài sản vào năm 2009 tăng so với năm 2008 là 12,82 tỉ đồng, tương
ứng với tăng 20,35%. Đến năm 2010 tăng so với 2008 là 14,58 tỉ đồng tương ứng với
tăng 19,24%. Sự tăng lên này do công ty mua sắm, đầu tư vào máy móc trang thiết bị
phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh.
Tổng doanh thu thuần của công ty năm sau luôn cao hơn năm trước: năm 2009 tăng
so với 2008 là 15,71 tỉ đồng, tương ứng tăng 37,07%. Năm 2010 tăng so với năm 2009
là 18,69 tỉ đồng, tương ứng với tăng 32,18%.
Tổng lợi nhuận trước thuế thực hiện năm 2009 là 0,6 tỉ đồng tăng 199,52% so với
năm 2008, năm 2010 là 0,15 tỉ đồng giảm 16,63% so với năm 2009.
Số lao động công ty qua các năm đều tăng cụ thể năm 2009 tăng 37 người so với
năm 2008, còn năm 2010 tăng 93 người so với năm 2009.
Do công tác tổ chức kinh doanh hợp lý, tiết kiệm được chi phí đầu vào thu nhập
bình quân của cán bộ công nhân viên trong công ty được cải thiện trong những năm
gần đây. Từ năm 2008 thu nhập bình quân của lao động trong công ty là 2.350.000
đồng, đến năm 2009 là 2.450.000 đồng và sang đến năm 2010 là 2.510.000 đồng.
II. Đặc điểm tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty
1. Chức năng, nhiệm vụ hoạt động sản xuất
Công ty cổ phần xây lắp I Nam Định có nhiệm vụ thi công xây lắp, xây dựng các
công trình công nghiệp và dân dụng, gia công chế tạo cơ khí chính xác, sản xuất chế
tạo bê tông thương phẩm. Các công trình của công ty đều thông qua tham gia đấu thầu,
vì thế việc nhận thầu là quá trình quan trọng quyết định tới doanh thu của công ty.
Trong quá trình tham gia đấu thầu, công ty cần lập kế hoạch sao cho chi phí tham gia

Sử dụng lâu dài chịu ảnh hưởng của môi trường sinh thái cảnh quan. Sau khi hoàn
thành sản phẩm xây lắp rất khó thay đổi. Khi nghiệm thu nếu không đạt chất lượng
như thiết kế thì phải phá đi làm lại, làm cho chi phí sản xuất tăng lên. Vì vậy việc
quản lý, giám sát quá trình thi công phải được tổ chức chặt chẽ, đảm bảo chất lượng
công trình phù hợp theo dự toán thiết kế.
Trong quá trình hình thành và phát triển, công ty đã không ngừng đổi mới, nâng cao
chất lượng sản phẩm, mở rộng sản xuất kinh doanh kết hợp với nguồn nhân lực trẻ,
năng động, sáng tạo, trình độ cao, cơ sở vật chất được đầu tư mới, hiện đại đáp ứng
được tất cả các lĩnh vực, ngành kinh doanh:
- Tư vấn kiến trúc, xây dựng các công trình và hạng mục công trình dân dụng,
công nghiệp, văn hóa xã hội, giao thông thủy lợi,
- Lắp đặt, san lấp mặt bằng, trang trí nội thất, lắp đặt hệ thống nước
- Gia công chế tạo cơ khí, xây dựng
- Sản xuất chế tạo bê tông thương phẩm
3. Quy trình công nghệ sản xuất
Mỗi loại sản phẩm hoàn thành đều có quy trình công nghệ khác nhau, song do đặc
thù sản xuất kinh doanh công ty là xây lắp, do đó quy trình công nghệ cơ bản thường
theo sơ đồ sau:
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ công nghệ sản xuất sản phẩm
Hoạt động đầu tiên của quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm xây lắp của công ty
đó là tham gia nhận đấu thầu thi công các dự án, công trình, Thể hiện các hồ sơ pháp
nhân, hồ sơ kỹ thuật, các bản vẽ kỹ thuật, các hồ sơ tổng hợp về giá thành. Sau khi làm
các công tác về đấu thầu và thông báo trúng thầu thì công ty bắt đầu làm các thủ tục
nhận mặt bằng, triển khai các công tác thi công theo từng phần: Phần móng, phần thô,
phần hoàn thiện, tổng kết và bàn giao công trình.
SVTH: Nguyễn Thị Hương_Lớp: 07AC Trang 20
Tham
gia đấu
thầu
Nhận

- Chịu trách nhiệm trước giám đốc về hệ thống quản lý chất lượng và công tác kỹ
thuật trong toàn công ty
- Phê duyệt việc ban hành, sửa đổi các tài liệu trong phạm vi được ủy quyền
- Phối hợp với các đội trưởng, chủ nhiệm công trình: Chỉ đạo và thực hiện việc
kiểm tra, kiểm định đảm bảo chất lượng sản phẩm.
SVTH: Nguyễn Thị Hương_Lớp: 07AC Trang 21
Giám đốc công ty
Phó giám đốc phụ
trách hành chính
Phó giám đốc phụ
trách kỹ thuật
Phòng tổ
chức hành
chính
Các đội
xây dựng
Xí nghiệp bê
tông xây dựng
và dịch vụ
Xí nghiệp cơ
khí và xây
dựng
Phòng kế
hoạch kỹ
thuật
Phòng tài
chính kế
toán
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Trần Đình Khôi Nguyên


các đơn vị trực thuộc không tổ chức kế toán riêng mà chỉ thực hiện nhiệm vụ tiếp nhận
chứng từ và chuyển chứng từ về phòng kế toán trung tâm, tại đây kế toán có nhiệm vụ
tập hợp chứng từ, ghi sổ kế toán, hạch toán chi tiết, tổng hợp và lập báo cáo.
2. Chức năng và nhiệm vụ của từng bộ phận
Sơ đồ 2.3: Sơ đồ tổ chức phòng kế toán
Ghi chú: Quan hệ trực tuyến
Quan hệ chức năng
SVTH: Nguyễn Thị Hương_Lớp: 07AC Trang 22
Kế toán trưởng
Kế toán
thanh toán
Thủ quỹ
Kế toán
công trình
Kế toán vật
tư, tài sản
Kế toán
tiền lương
BHXH, thuế
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Trần Đình Khôi Nguyên

Bộ máy kế toán của công ty gồm 6 người thực hiện các chức năng, nhiệm vụ sau:
 Kế toán trưởng (kiêm trưởng phòng kế toán): Là người chịu trách nhiệm lập kế
hoạch, chỉ đạo nghiệp vụ có liên quan đến công tác quản lý tài vụ và hạch toán kế
toán theo chế độ chính sách quy định. Tổ chức chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra công
tác kế toán, thanh quyết toán của các đơn vị trực thuộc công ty. Là người tập hợp
chi phí sản xuất, xác định kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, lập báo cáo tài
chính. Chịu trách nhiệm trước giám đốc và cấp trên về mọi hoạt động kế toán tài
chính của công ty.
 Kế toán thanh toán: Kiểm tra chứng từ thu, chi, tính hợp lý, tính chính xác của

phiếu thu, chi đã được phê duyệt của giám đốc, kế toán trưởng.
3. Đặc điểm của tổ chức công tác kế toán
3.1. Những thông tin chung
Hệ thống báo cáo áp dụng theo chế độ: Công ty đã áp dụng các chuẩn mực kế toán
Việt Nam và các văn bản hướng dẫn Chuẩn mực kế toán Việt Nam. Báo cáo tài chính
được lập và trình bày phù hợp với các quy định của chuẩn mực kế toán Việt Nam và
SVTH: Nguyễn Thị Hương_Lớp: 07AC Trang 23
Luận văn tốt nghiệp GVHD: TS. Trần Đình Khôi Nguyên

chế độ kế toán doanh nghiệp Việt Nam được ban hành tại số 15/2006/QĐ-BTC ngày
20/03/2006 của Bộ trưởng bộ tài chính.
Niên độ kế toán: Bắt đầu từ ngày 01/01 và kết thúc vào ngày 31/12 hàng năm trùng
với năm dương lịch.
Đơn vị tiền tệ sử dụng trong hạch toán kế toán: Việt Nam đồng
Khi sử dụng đơn vị tiền tệ khác phải đổi ra Việt Nam đồng tính theo tỷ giá thực tế
lúc phát sinh hoặc theo giá thỏa thuận. Điều này được nói rõ trong chuẩn mực kế toán
10 về ảnh hưởng của việc thay đổi tỷ giá.
Hình thức ghi sổ: Hình thức “Kế toán máy” thiết kế dựa trên nguyên tắc của hình
thức Nhật ký chung
Phương pháp hạch toán TSCĐ:
Nguyên tắc tính giá TSCĐ được áp dụng theo chuẩn mực số 03-04 TSCĐ hữu hình
và TSCĐ vô hình trong chuẩn mực kế toán Việt Nam theo Quyết định số
149/2001/QĐ-BTC ngày 31/12/2001.
Hạch toán khấu hao TSCĐ theo phương pháp đường thẳng, thời gian khấu hao theo
quy định tại Thông tư 203/2009/TT-BTC ngày 20/10/2009 của Bộ tài chính.
Phương pháp hạch toán hàng tồn kho:
Hàng tồn kho được tính theo giá gốc, nguyên tắc tính giá được áp dụng theo chuẩn
mực kế toán 02 Hàng tồn kho, Quyết định số 149/2001/QĐ-BTC ngày 31/12/2001
Hàng xuất kho được tính theo phương pháp thực tế đích danh
Phương pháp hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường xuyên

nghiệp vụ không phát sinh chứng từ trực tiếp minh chứng cho sự phát sinh các nghiệp
vụ là các phiếu kế toán. Sau quá trình luân chuyển, chứng từ kế toán sẽ được phần
hành quản lý, đến cuối năm được đóng lưu và lưu theo quy định của công ty.
Sổ, thẻ chi tiết từng tài khoản được mở cho từng tài khoản chi tiết và chi tiết cho
từng đối tượng có liên quan.
Tùy theo khối lượng nghiệp vụ kinh tế phát sinh và đặc điểm của từng phần hành
mà kế toán phần hành nhập dữ liệu vào máy hàng ngày hoặc theo định kỳ, phần mềm
kế toán sẽ tự động chuyển dữ liệu vào sổ nhật ký chung, sổ cái, sổ chi tiết từng tài
khoản có liên quan và tự động lên các báo cáo.
Sơ đồ 2.4: Trình tự ghi sổ kế toán theo hình thức kế toán trên máy vi tính tại công ty

Ghi chú: Nhập số liệu hàng ngày
In sổ, báo cáo cuối tháng, cuối năm
Đối chiếu, kiểm tra
SVTH: Nguyễn Thị Hương_Lớp: 07AC Trang 25
PHẦN MỀM
KẾ TOÁN
Chứng từ
kế toán
Bảng tổng hợp
chứng từ kế
toán cùng loại
Sổ kế toán:
- Sổ tổng hợp
- Sổ chi tiết
- Báo cáo tài chính
- Báo cáo kế toán
quản trị
MÁY VI TÍNH


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status