Nhóm Athena lớp CT36B
HỌC VIỆN NGOẠI GIAO VIỆT NAM
KHOA QUAN HỆ QUỐC TẾ
BỘ MÔN CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI II
TIỂU LUẬN
ĐỀ TÀI : VIỆT NAM VÀ CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI SAU
KHI GIA NHẬP ASEAN
Nhóm thực hiện:
1. Hoàng Bảo Lan( nhóm trưởng)
2. Nguyễn Vũ Trang Ly
3. Phạm Thị Quỳnh
4. Đồng Thị Phương Thùy
5. Trần Thị Thùy Linh
Hà Nội, ngày 17 tháng 3 năm 2011
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
28 năm sau khi "Hiệp hội các quốc gia Đông Nam á" (ASEAN) được thành
lập (1967 - 1995), và 20 năm sau khi cuộc chiến tranh Việt Nam kết thúc (1975 -
1995), nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thống nhất đã trở thành thành
viên chính thức thứ 7 của ASEAN. Ngoài 5 thành viên sáng lập của ASEAN là
Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore và Thái Lan, thành viên thứ 6 của tổ
chức là Brunei đã được kết nạp ngay sau khi nước này được trao trả độc lập từ
phía Anh (1984). Đây có thể nói là một động thái tích cực,.nó chứng tỏ nỗ lực của
Việt Nam trong việc thực hiện chính sách đối ngoại sau đổi mới năm 1986 :thực
hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa phương hoá, đa
dạng hoá các quan hệ quốc tế. Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các
nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển. sau khi
ra nhập ASEAN , Việt Nam cũng đã có những nét mới trong chính sách đối ngoại
trên nền tảng của tư duy đổi mới giúp đất nước có những thay đổi tích cực.Bên
cạnh đó đây cũng là một trong những động lực thúc đẩy Việt Nam gia nhập hàng
loạt các tổ chức khu vực và thế giới khác như APEC, WTO ,v.v…chính vì ý nghĩa
tiến tới cùng chia xẻ một số phận chung của các dân tộc ĐNA.
Đường lối đổi mới được đề ra từ Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (1986)
và được phát triển thêm qua các Đại hội VII (1991) và Đại hội VIII (1996), đã thúc
đẩy những cải cách kinh tế theo hướng thị trường nhằm đưa đất nước phát triển,
hội nhập với khu vực và thế giới, với mục tiêu xây dựng một đất nước giàu mạnh,
một xã hội công bằng và văn minh sống theo pháp luật.
Cách nhìn mới về phát triển kinh tế - xã hội: "dân giàu, nước mạnh, xã hội công
bằng, văn minh sống theo pháp luật", và đường lối đối ngoại "là bạn với tất cả" thể
hiện quan niệm mới về an ninh của Việt Nam, là những nhân tố tích cực thúc đẩy
việc Việt Nam hội nhập với khu vực và thế giới.
Thang 1/1992 diễn ra một sự kiện quan trọng, Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 4
họp tại Singapore quyết định thành lập Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA)
trong thời hạn 15 năm (l/1993 - l/2008). Lúc này, các nước ASEAN không những
chấm dứt chia rẽ mà còn nhận rõ và đánh giá cao vai trò quan trọng của các nước
Đông Dương đối với hòa bình, an ninh và phát triển của khu vực. Cũng vào thời
gian này, Việt Nam triển khai mạnh mẽ đường lối đối ngoại "đa phương hóa, đa
dạng hóa quan hệ quốc tế". Trước thắng lợi của ta trong công cuộc đổi mới và
trong thực hiện đường lối đối ngoại rộng mở, các nước thành viên cũ của ASEAN
đã chủ động đặt vấn đề có thể sớm kết nạp Việt Nam vào ASEAN nếu ta tự thấy
đã sẵn sàng. Thêm vào đó,năm 1994, Tổng thống Bill Clinton tuyên bố dỡ bỏ lệnh
cấm vận đối với Việt Nam.Đây là mốc lịch sử vô cùng quan trọng. Bạn bè các
nước, các nhà ngoại giao Mỹ tại LHQ đều theo dõi sít sao hoạt động của ngoại
giao Việt Nam tại diễn đàn đa phương lớn nhất hành tinh này. Việt Nam đang ở
trong tình thế chỗ dựa truyền thống vừa bị tan ra (Liên Xô và các nước XHCN
Đông Âu), Phái đoàn "một vấn đề" (one issue Mission - vì suốt cả thời gian dài ta
phải tập trung đấu tranh với một liên minh bao vây phong tỏa về vấn đề Việt Nam
giúp tiêu diệt nạn diệt chủng tại Campuchia) sẽ hoạt động như thế nào đây.
Tại Hội nghị ngoại trưởng ASEAN (AMM) họp ở Bangkok thang 7/1994 các nước
chính thức hỏi ta "Đã sẵn sàng gia nhập ASEAN chưa?" và khi ta chính thức trả
lời "Việt Nam sẵn sàng gia nhập sớm", các Bộ trưởng đã vỗ tay nhiệt liệt hoan
chính trị ở mỗi quốc gia có sự phát triển đặc thù, nhưng nhìn chung vấn đề hợp tác
phát triển trong và ngoài khu vực Đông Nam Á là cơ bản nhất. Việt Nam tham gia
vào tổ chức ASEAN không ngoài mục đích hợp tác phát triển với bạn bè trên thế
giới, vì vậy đây là yếu tố thuận lợi để chúng ta thực hiện chủ trương này. Khi tham
gia ASEAN chúng ta đã đóng góp tích cực về nhiều mặt, làm cho tổ chức ASEAN
vững mạnh hơn đặc biệt trọng tâm là hợp tác phát triển kinh tế, văn hoá ( Cộng
đồng ASEAN tương đồng về văn hoá - lúa nước ). Thứ hai thông qua ASEAN
chúng ta tiếp xúc, hợp tác với nhiều tổ chức trên thế giới để làm bạn và hợp tác
song phương, tạo tiếng nói trên chính trường quốc tế. Thứ ba không nằm ngoài
quy luật xu thế phát triển chung của thế giới là hợp tác đa dạng hoá, đa phương
hoá, đòi hỏi chính sách ngoại giao và hợp tác với bạn bè trên thế giới là tất yếu.
2- thách thức:
Tuy vậy, không có nghĩa là việc Việt Nam tham gia vào hợp tác ASEAN về các
mặt đều diễn ra suôn sẻ, và Việt Nam đã không gặp mấy khó khăn và thách thức.
Bên cạnh những kết quả tốt đẹp của hai năm tham gia hợp tác ASEAN, một số vấn
đề vẫn còn tồn tại, và một số vấn đề mới nảy sinh sẽ tiếp tục thách thức sự tham
gia và hội nhập của Việt Nam trong ASEAN.
Ngoài những thắc mắc từ bên ngoài ASEAN, ngay trong một số nước ASEAN
cũng còn những ý kiến e ngại về khả năng của Việt Nam - một nước có trình độ
kinh tế phát triển thấp hơn rất nhiều so với các nước ASEAN có chế độ chính trị
và kinh tế khác biệt - tham gia vào hợp tác ASEAN, và việc Việt Nam với những
bất hoà và tranh chấp lãnh thổ vốn có với Trung Quốc có thể làm phức tạp thêm
mối quan hệ ASEAN - Trung Quốc.
Song song với sự hợp tác song phương, đa phương, với nhiều nước trong và
ngoài khu vực ASEAN, kèm theo đó là những vấn đề phức tạp về các loại hình
văn hoá đồi truỵ xâm nhập, ảnh hưởng vào nước ta dưới nhiều dạng thức khác
nhau khó phát hiện và nắm bắt nếu không cẩn trọng dễ bị ảnh hưởng nhất là trong
giai đoạn xu thế hiện nay, Mặt khác một số vấn đề cạnh tranh không lành mạnh
của một số phần tử xấu từ bên ngoài dễ dàng xâm nhập hòng phá hoại kinh tế đất
nước, kéo theo là những âm mưu thù địch nếu chúng ta không xử lý và có
nước liên tục coi trọng củng cố và tăng cường quan hệ hữu nghị truyền thống và
hợp tác toàn diện Việt-Lào.
Về phía Campuchia, sau hiệp định Paris, Nhà nước Campuchia chuyển sang
chế độ chính trị xã hội khác. Tháng 1-1-92, hai bên khẳng định: xây dựng mối
quan hệ láng giềng thân thiện trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vện
lãnh thổ của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ mỗi nước, không dũng vũ
lực và đe dọa sử dụng vũ lực, giải quyết mọi vấn đề giữa hai nước bằng con đường
hòa bình, hợp tác bình đẳng, cùng có lợi, giải quyết từng bước thỏa đáng vào thời
gian thích hợp những vấn đề tồn tại. Hai bên khuyến khích hợp tác trong các lĩnh
vực kinh tế, thương mại, văn hóa, khoa học kĩ thuật, lập các nhóm chuyên viên về
vấn đề phân định biên giới, lập nhóm làm việc cấp chuyên viên để giải quyết vấn
đề Việt Kiều trên cơ sở tôn trọng luật pháp Campuchia và luật pháp quốc tế cũng
như thông lệ quốc tế. Nhìn chung có thể thấy, những mâu thuẫn có xảy ra giữa
Việt Nam với 2 quốc gia láng giềng nhưng Việt Nam luôn nỗ lực đưa ra các chính
sách giải quyết, điều hòa quan hệ bằng biện pháp hòa bình, xây dựng sự hợp tác
dựa trên những hiệp định tương trợ về mọi mặt để cùng nhau phát triển. Đấy là khi
Việt Nam đang ở trong giai đoạn rất khó khăn khi Liên Xô sụp đổ cùng sự bao vây
cấm vận mọi mặt của Mỹ. Vậy khi Việt Nam gia nhập vào ASEAN thì tình hình
có gì khác? Các chính sách đối với 2 nước láng giềng sẽ như thế nào?
Ngày 28/7/1995, Việt nam chính thức gia nhập vào tổ chức ASEAN nhưng
23/7/1997 Lào mới gia nhập và muộn hơn là 30/4/1999- năm gia nhập của
Campuchia. Tuy nhiên khi mới gia nhập, Việt Nam đã có những chính sách mới
đối với 2 nước láng giềng kể cả khi cả 3 chưa cùng gia nhập vào ASEAN. Từ khi
Việt Nam gia nhập đến trước khi Lào gia nhập, có rất nhiều văn kiện quan trọng
đã được kí kết giữa 2 bên: Hiệp định hợp tác kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật
giai đoạn 1996-2000 (ngày 14/1/1996); Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư
(ngày 14/1/1996); Hiệp định tránh đánh thuế hai lần (ngày 14/1/1996); Hiệp định
vận tải đường bộ (ngày 26/2/1996); Hiệp định về trao đổi nhà trụ sở và nhà ở của
cơ quan đại diện (ngày 1/4/1996). Chẳng hạn như hiệp định về khuyến khích và
bảo hộ đầu tư giữa Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam và chính phủ Cộng
nghị truyền thống, ổn định lâu dài”. Việt Nam kiên trì chính sách hữu nghị, hợp
tác với Campuchia, không can thiệp vào công việc nội bộ của Campuchia. Hai bên
đã trao đổi nhiều đoàn cấp cao, ký nhiều hiệp định hợp tác về kinh tế, văn hóa, an
ninh chống tội phạm, thúc đẩy giải quyết vấn đề tồn tại ( Việt kiều và biên giới).
Có thể thấy chính sách đối ngoại của Việt Nam đối với 2 nước láng giềng vẫn dựa
trên những cơ sở hợp tác cũ nhưng đã có bổ sung thêm nhiều khía cạnh của đời
sống xã hội đặc biệt là nỗ lực giải quyết triệt để những mâu thuẫn còn tồn đọng,
những vấn đề khá nhạy cảm và gây nhiều tranh cãi như vấn đề với Campuchia.
Hội nghị Thủ tướng 3 nước năm 1999 và 2002 đã thỏa thuận đẩy mạnh hợp tác
song phương và giữa 3 nước, nhất là trong lĩnh vực an ninh, quốc phòng và phát
triển kinh tế xã hội ở các tỉnh có chung biên giới giữa 3 nước. Ba nước thỏa thuận
phương hướng, biện pháp cụ thể là xây dựng tam giác phát triển Việt Nam-Lào-
Campuchia, trong đó các lĩnh vực ưu tiên là giao thông, thương mại, du lịch, năng
lượng điện và y tế, gắn việc xây dựng tam giác phát triển Việt Nam-Lào-
Campuchia với hợp tác tiểu vùng ASEAN, thúc đẩy và tham gia chương trình hợp
tác tiểu vùng MêKông mở rộng, trong đó có đường xuyên Á, nâng cấp đường 9 để
Lào ra cảng Tiên Sa.
2-CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA VIỆT NAM VỚI CÁC NƯỚC ASEAN
CÒN LẠI
Với ASEAN: Sau khủng hoảng tài chính và tiền tệ 1997, sự gắn kết và vị trí
của ASEAN trên trường quốc tế gặp nhiều thách thức. Chủ nghĩa khủng bố hoạt
động ở một số nước, gây thảm họa. Mâu thuẫn về sắc tộc, tôn giáo bùng nổ. Sự
tranh chấp giữa các nước lớn gia tăng. Mỹ tăng hiện diện ở Đông Nam Á, can
thiệp nhiều hơn vào khu vực, kích động li khai và lôi kéo Đông Nam Á vào quỹ
đạo của mình, kiềm chế các nước khác trong khu vực. Một số nước lớn khác đã
tăng cường ảnh hưởng của mình bằng các quan hệ kinh tế. An ninh ở Lào và
Campuchia có khả năng phức tạp hơn. Do đo Việt Nam đã đề ra một số chính sách
chính thông qua một số đại hội và nghị quyết trung ương đảng
Đại Hội VIII “ ra sức tăng cường quan hệ với các nước láng giềng và các nước
trong ASEAN
chúng ta bắt đầu xuất khẩu gạo Dù còn rất khó khăn nhưng hai bên Việt - Mỹ
đều mong muốn tích cực triển khai ngoại giao con thoi theo lộ trình từng bước,
hướng tới bình thường hóa quan hệ.
Trong khoảng thời gian này,Việt Nam khẳng định hai nước sẽ tiến dần đến bình
thường hóa quan hệ mặc dù phải cần thêm thời gian để vượt qua khá nhiều khó
khăn, khá nhiều vấn đề nhạy cảm
Những động thái đối với Việt Nam của chính quyền Bill Clinton từ Washington
thường lan nhanh với cộng đồng quốc tế ở LHQ. Những phát triển mới từ lệnh
cấm vận Việt Nam được dỡ bỏ khỏi các tổ chức hệ thống Bretton Wood (Ngân
hàng thế giới, Quỹ tiền tệ quốc tế…), đến việc hai bên chuẩn bị mở Văn phòng
liên lạc tại hai Thủ đô gây sự chú ý đặc biệt của dư luận.
Một năm sau đó, dấu mốc bình thường hóa quan hệ hai bên được tuyên bố chính
thức.
Ngày 12/7/1995, Việt Nam và Mỹ ký Hiệp định thiết lập quan hệ ngoại giao và
bình thường hóa quan hệ. Tại LHQ, đi đến đâu, gặp ai, chúng tôi cũng nhận được
lời chúc mừng nhiệt thành.
Một trong những dấu mốc cũng khá nghẹt thở trong tiến trình 15 năm quan hệ, đó
là khi Việt Nam vận động để Mỹ thông qua PNTR và kết thúc đàm phán song
phương về WTO. Việt Nam coi trọng đàm phán song phương với tất cả 28 quốc
gia và nền kinh tế thành viên WTO về việc Việt Nam gia nhập Tổ chức này.
Nhưng có thể nói mục tiêu kết thúc đàm phán với Mỹ là quan trọng nhất. Đến
tháng 12/2005, khi chuẩn bị tham dự Hội nghị WTO hàng năm lần thứ 5 tại
Hongkong, ta đã ký kết thúc đàm phán với hầu hết các nước, nhưng với Mỹ thì
chưa và cũng bởi vậy nên một số nước "bạn thân" của Mỹ cũng tiếp tục dây dưa
với những lý do chẳng đâu vào đâu vì họ đang phải chờ đợi.
Cũng phải mất gần hết cả năm 2006 để chúng ta dồn lực kết thúc phần còn lại của
quá trình 11 năm đàm phán, cả đàm phán song phương và đa phương, cho đến
chiều thứ sáu ngày 13/10/2006, chúng ta mới thực sự kết thúc đàm phán gia nhập
Tổ chức thương mại lớn nhất toàn cầu này
cả song phương lẫn đa phương là biện pháp
IV-ĐÁNH GIÁ VỀ NHỮNG CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA VIỆT NAM VÀ
BÀI HỌC KINH NGHIỆM
A, Tích cực:
Sau khi gia nhập vào ASEAN, Việt Nam đã có những chính sách đối ngoại hợp
lí, đúng đắn một mặt đóng góp không nhỏ vào việc xây dựng một ASEAN lớn
mạnh trên trường quốc tế, mặt khác còn nâng cao vị thế của Việt Nam trên cương
vị là thành viên chính thức của tổ chức khu vực.
Việc gia nhập ASEAN là một bước thắng lợi trong chính sách đối ngoại hàng
đầu của Việt Nam, thực hiện mục tiêu an ninh, phát triển và ảnh hưởng. Đối với
vấn đề an ninh, Việt Nam đã tạo dựng được một vành đai tương đối vững chắc.
Đối với vấn đề phát triển, Việt Nam có cơ hội nâng cao và nhận được sự giúp đỡ
về mọi mặt kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá… Về tầm ảnh hưởng, gia nhập
ASEAN giúp Việt Nam không những được nhiều nước trên thế giới công nhận
hơn ( đặc biệt là sau khi Liên Xô tan rã) , mà tiếng nói của Việt Nam trên trường
quốc tế càng được coi trọng .
Trong mối quan hệ với các quốc gia khác, Việt Nam điều chỉnh chính sách của
mình một cách linh hoạt. Đối với các nước trong ASEAN, Việt Nam luôn nêu cao
tinh thần “hoà bình- hữu nghị- hợp tác- phát triển”, tranh thủ sự ủng hộ và tương
trợ lẫn nhau để cùng phát triển. Đối với các nước lớn trên thế giới, Việt Nam luôn
sẵn sàng mở rộng quan hệ trong khi đó vẫn tự chủ trong các vấn đề liên quan đến
lợi ích quốc gia, lợi ích khu vực, cũng có nghĩa hoà nhập chứ không hoà tan.
B-Hạn chế và bài học kinh nghiệm.
Chúng ta nhìn nhận các nước là qua lăng kính ý thức hệ : Điều đó đã làm cho
chúng ta không thấy hết được các nhân tố tích cực – thường là tinh thần yêu nước
và bảo vệ dân tộc- của các nước Đông Nam Á nói chung. Do đó, cần có một tư
duy mới về vấn đề độc lập, chủ quyền,an ninh và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, cũng
như quan điểm” thông thoáng “ về vấn đề ý thức hệ ,trong quan hệ với các nước
ASEAN , cần nhận thức sâu sắc hơn một sự thật khách quan về Việt Nam là một
nước cấu thành khu vực Đông Nam Á .
cho sự phát triển và một vị trí ngày càng cao trong cộng đồng thế giới.
LỜI KẾT
Việc Việt Nam gia nhập ASEAN phù hợp với xu thế khu vực hóa đang diễn ra
trên thế giới cũng như ở khu vực ,đáp ứng lợi ích của cả nước ta và ASEAN là cần
có môi trường hòa bình ổn định và đẩy mạnh hợp tác vì lợi ích phát triển ,trùng
với ý nguyện của nhân dân các nước , nhất là châu Á -Thái Bình Dương, muốn
được thấy một Đông Nam Á ổn dịnh ,mở rộng thị trường và đối tác về kinh tế
,thương mại,khoa học-công nghệ, văn hóa-xã hội .Như vậy,việc nước ta gia nhập
ASEAN có lợi cho xu thế chung là hòa bình và hợp tác .Việc đó không gây trở
ngại mà còn hỗ trợ cho việc thực hiện chính sách đối ngoạiđộc lập ,tự chủ ,đa dạng
hóa ,mở rộng hơn nữa quan hệ hữu nghị hợp tác với tất cả các nước theo khẩu hiệu
: “Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong công đồng thế giới, phấn đấu vì
hòa bình , độc lập và phát triển”