BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
LÊ THỊ HOÀ
TÌNH HÌNH KINH TẾ, CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI
VÀ CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI
CỦA VƯƠNG QUỐC TÂY BAN NHA TỪ 1991 ĐẾN 2011
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ THẾ GIỚI
Nghệ An - 2012
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
LÊ THỊ HOÀ
TÌNH HÌNH KINH TẾ, CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI
VÀ CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI
CỦA VƯƠNG QUỐC TÂY BAN NHA TỪ 1991 ĐẾN 2011
Chuyên ngành: Lịch sử Thế giới
Mã số: 60.22.50
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. PHẠM NGỌC TÂN
Nghệ An - 2012
Chương 1. NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN TÌNH HÌNH KINH TẾ,
CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI VÀ CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA
VƯƠNG QUỐC TÂY BAN NHA TỪ 1991 ĐẾN 2011..................................10
1.1. Nhân tố khách quan...............................................................................10
1.1.1. Những thay đổi cơ bản trong quan hệ quốc tế từ sau Chiến tranh lạnh
đến 2011........................................................................................................10
1.1.2. Tình hình khu vực Tây Âu..................................................................14
1.2. Nhân tố chủ quan...................................................................................17
1.2.1. Bối cảnh chính trị - xã hội của Tây Ban Nha......................................17
1.2.2. Bối cảnh kinh tế..................................................................................20
1.3. Nhân tố lịch sử.......................................................................................25
Tiểu kết ........................................................................................................28
Chương 2. TÌNH HÌNH KINH TẾ, CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI VÀ CHÍNH SÁCH
ĐỐI NGOẠI CỦA VƯƠNG QUỐC TÂY BAN NHA TRONG 20 NĂM
CUỐI THÉ KỶ XX ĐẦU THẾ KỶ XXI (TỪ 1991 ĐẾN 2011).....................30
2.1. Tình hình kinh tế, chính trị - xã hội.......................................................30
2.1.1. Kinh tế.................................................................................................30
5
2.1.2. Chính trị - xã hội.................................................................................59
2.2. Chính sách đối ngoại của Vương quốc Tây Ban Nha từ năm 1991
đến 2011........................................................................................................71
2.2.1. Đối với các nước khác trong EU.........................................................72
2.2.2. Đối với châu Mỹ.................................................................................74
2.2.3. Đối với khu vực châu Á - Thái Bình Dương......................................78
Tiểu kết ........................................................................................................81
Chương 3. MỘT SỐ NHẬN XÉT VỀ TÌNH HÌNH KINH TẾ, CHÍNH TRỊ
Cộng đồng châu Âu
ERM
Cơ chế tỷ giá hối đoái châu Âu
ECB
Ngân hàng Trung ương châu Âu
EATA
Khu vực mậu dịch tự do châu Âu
ETA
Tổ chức khủng bố xứ Basque
EMU
Liên minh Kinh tế - tiền tệ
GDP
Tổng sản phẩm quốc nội
NATO
Khối quân sự Bắc Đại Tây Dương
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trong vòng hơn nửa thế kỷ kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai,
Vương quốc Tây Ban Nha đã trải qua những biến đổi về chính trị và kinh tế
sâu sắc. Đó là sự chuyển đổi thành công từ một nước tương đối kém phát triển
và nền chính trị độc tài sang phồn vinh và dân chủ. Sau Chiến tranh thế giới
thứ hai, dân chủ đã được thiết lập trở lại ở Tây Âu, song vương quốc này vẫn
giữ nguyên trạng là một quốc gia bị cô lập do chế độ độc tài cai trị. Ngoài ra
trong khi châu Âu trải qua một quá trình tăng trưởng nhanh về kinh tế và hội
nhập thương mại thì Vương quốc Tây Ban Nha vẫn bị kìm hãm bởi hậu quả
khốc liệt của cuộc nội chiến xảy ra vào những năm 30, chính sách đóng cửa tự
cung tự cấp và một sự nghèo đói tương đối thừa hưởng từ lịch sử. Sau quyết
định tự do hóa nền kinh tế vào cuối thập niên 50, Vương quốc Tây Ban Nha
nhanh chóng trở thành một nền kinh tế hiện đại dựa vào công nghiệp hóa và
du lịch. Đất nước đã trải qua một thời kỳ thịnh vượng chưa từng có, quá trình
đô thị hóa nhanh chóng và lớn mạnh của tầng lớp trung lưu. Sau cái chết của
nhà độc tài Franco vào năm 1975, tại Vương quốc Tây Ban Nha đã diễn ra
quá trình chuyển giao êm đẹp sang nền dân chủ, sự thiết lập một nhà nước
phúc lợi và tiến trình gia nhập Liên minh châu Âu (EU).
Việc Tây Ban Nha gia nhập vào EC (1986) cũng đã cho thấy những tác
động hai chiều của quá trình này. Gia nhập vào EC đã đưa đến những thay đổi
to lớn cho Tây Ban Nha trên tất cả các lĩnh vực. Tây Ban Nha dần thoát ra
khỏi sự cô lập về mọi mặt với thế giới, vững vàng bước vào quá trình hội
nhập toàn cầu hóa, tích lũy được kinh nghiệm và đạt được những thành tựu
đáng ghi nhận. EC được ví như “chiếc nôi” nuôi dưỡng Tây Ban Nha trong
những ngày tháng khó khăn. Và những thành quả mà Tây Ban Nha đã đạt
được trong gần 20 năm gia nhập EU cho thấy kết quả hợp tác giữa hai bên là
hoàn toàn đúng đắn, phù hợp xu thế quốc tế và thời đại.
3
được, nền kinh tế Việt Nam hiện nay cũng đang phải đối mặt với không ít khó
khăn do quá trình hội nhập đem lại. Trong số những thành công và thách
thức hiện nay mà Việt Nam gặp phải có nhiều vấn đề giống với những gì mà
Tây Ban Nha đã từng trải qua trước đó. Do đó, việc nghiên cứu kinh nghiệm
của Tây Ban Nha có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình phát triển của Việt
Nam hiện nay.
Có thể nói, những thành quả mà Tây Ban Nha đã đạt được từ sau khi
chấm dứt chế độ độc tài Franco đến khi chuyển giao thành công sang nền dân
chủ là cả một câu hỏi lớn. Do đâu mà Tây Ban Nha nhanh chóng thoát khỏi
những bế tắc dưới chế độ độc tài để nhanh chóng vươn lên phát triển vượt bậc
về kinh tế? Quá trình chuyển đổi ở Tây Ban Nha có nhiều điểm tương đồng
với quá trình đổi mới ở Việt Nam. Vậy Việt Nam sẽ rút ra được bài học kinh
nghiệm gì từ những kết quả mà Tây Ban Nha đã đạt được trong 20 năm gia
nhập EU? Từ mối quan hệ hợp tác giữa Tây Ban Nha và Việt Nam, chúng ta
rút ra được những kết quả gì từ sự biến đổi thông qua mối quan hệ đó mang
lại đối với Việt Nam? Do vậy, việc tìm hiểu về tình hình kinh tế, chính trị - xã
hội và chính sách đối ngoại của Vương quốc Tây Ban Nha là một vấn đề có ý
nghĩa thực tiễn sâu sắc đối với chúng ta.
Với ý nghĩa khoa học và thực tiễn nêu trên, tôi quyết định chọn vấn đề:
“Tình hình kinh tế, chính trị - xã hội và chính sách đối ngoại của Vương quốc
Tây Ban Nha từ 1991 đến 2011” làm đề tài Luận văn Thạc sĩ của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Có thể khái quát quá trình nghiên cứu về tình hình kinh tế, chính trị - xã
hội và chính sách đối ngoại của Vương quốc Tây Ban Nha qua một số nguồn
tư liệu đã được tiếp cận như sau:
Cho đến trước năm 1991, những công trình nghiên cứu về Tây Ban
Nha chưa nhiều, chủ yếu xoay quanh về chế độ độc tài Franco và tình hình
trị của Tây Ban Nha trong giai đoạn đổi mới và quá trình hội nhập kinh tế của
5
Tây Ban Nha, đồng thời rút ra những nhận xét và đánh giá chung giúp cho bạn
đọc hiểu rõ hơn về hệ thống chính trị của Tây Ban Nha .
Bài viết 20 years of Spain in the European Union (1986 - 2006) của
Elcano Royal đã tóm tắt những biến đổi mà Tây Ban Nha đã trải qua kể từ
khi nước này gia nhập Liên minh châu Âu. Trong đó, trình bày những thách
thức chính mà đất nước Tây Ban Nha đang phải đối mặt, cả trong nước và
ngoài nước.
Cũng trong một ấn phẩm của Viện Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế
Hoàng gia Madrit, Tây Ban Nha xuất bản năm 2006: 20 years of Spain in the
European Union (1986 - 2006). Ấn phẩm này đánh giá những thay đổi về
kinh tế, xã hội và chính trị kinh nghiệm của Tây Ban Nha như là một kết quả
của việc gia nhập Cộng đồng châu Âu sau đó vào năm 1986.
Ấn phẩm được chia thành 3 phần: phần I tổng kết quá trình hiện đại
hóa kinh tế của Tây Ban Nha; phần II tập trung phân tích những thay đổi lớn
trong xã hội và nhân khẩu học và phần III khám phá những biến đổi về chính
trị, quốc gia và quốc tế.
Trong cuốn sách Tây Ban Nha hai mươi năm hội nhập Liên minh châu
Âu: Thành tựu và kinh nghiệm (2009). Cuốn sách giới thiệu những kinh nghiệm
cải cách và hội nhập của Tây Ban Nha vào Liên minh châu Âu trong hơn 20 năm
vừa qua. Đặc biệt những kinh nghiệm trong việc phát triển cơ sở hạ tầng, đào tạo
nguồn nhân lực để đáp ứng yêu cầu phát triển của nền kinh tế hiện đại, những
kinh nghiệm trong việc thu hút và sử dụng có hiệu quả nguồn ODA của nước
ngoài, cụ thể là EU. Cuốn sách kết cấu gồm 3 chương:
Chương I: Tây Ban Nha và quá trình hội nhập Liên minh châu Âu (giới
thiệu khái quát về Tây Ban Nha và phân tích bối cảnh và đặc điểm chủ yếu
của Tây Ban Nha khi gia nhập EU).
và có hệ thống về vấn đề này, chưa có những công trình riêng biệt mà mới chỉ
dừng lại ở góc độ bài viết ngắn trên các tạp chí như: Tạp chí nghiên cứu châu
Âu, Tạp chí Kinh tế Thế gới, Tài liệu tham khảo đặc biệt của TTXVN. Song nó
mới chỉ mang tính chất tham khảo do nặng về thông tin chứ chưa có những
nhận xét và đánh giá.
7
Thứ hai: Trong quá trình tiếp cận vấn đề tôi thấy các tác giả chưa hề
tiếp cận vấn đề này dưới phương diện sử học.
Thứ ba: Có nhiều vấn đề về kinh tế, chính trị - xã hội và chính sách đối
ngoại của Tây Ban Nha mà khi tiếp cận bản thân cá nhân tôi muốn làm rõ
như: Tại sao Tây Ban Nha lại muốn mở rộng vai trò của mình ở khu vực châu
Á - Thái Bình Dương?, những thành tựu mà Tây Ban Nha đạt được sau 20
năm gia nhập EU là gì?... Trên cơ sở đó rút ra được những bài học kinh
nghiệm cho Việt Nam trong giai đoạn hội nhập kinh tế thế giới.
3. Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích
Nghiên cứu đề tài này tôi hướng đến làm sáng tỏ một số vấn đề chủ
yếu sau:
- Làm rõ tình hình kinh tế, chính trị - xã hội và chính sách đối ngoại
của Vương quốc Tây Ban Nha từ sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc đến 2011.
Trên cơ sơ đó rút ra được những đánh giá khách quan về sự thay đổi của Tây
Ban Nha trong 20 năm gần đây so với thời kỳ chế độ độc tài Franco.
- Nghiên cứu này sẽ giúp cho tôi và những ai quan tâm đến vấn đề
này có thêm những hiểu biết thực chất về sự thay đổi về kinh tế, chính trị
- xã hội, chính sách đối ngoại của Vương quốc Tây Ban Nha trong giai
1991 - 2011.
3.2. Nhiệm vụ
Để thực hiện được mục đích trên, nhiệm vụ của đề tài là: Trên cơ sở
Nguồn tài liệu từ mạng Internet...
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Thực hiện đề tài này về mặt phương pháp luận, tôi dựa trên quan điểm
lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lê nin, làm cơ sở để xử lý các nguồn tài liệu thu
thập được.
Về phương pháp nghiên cứu: sử dụng phương pháp nghiên cứu truyền
thống, đặc biệt quan trọng là phương pháp lịch sử và phương pháp logic. Bên
cạnh đó là phương pháp đối chứng, so sánh, tổng hợp, thống kê các tư liệu
khác nhau xác minh tính chân thực của sự kiện lịch sử.
9
6. Đóng góp của luận văn
Luận văn sẽ đưa đến một cái nhìn tổng quát và rõ nét nhất dưới góc độ
sử học về tình hình kinh tế, chính trị - xã hội và chính sách đối ngoại của
Vương quốc Tây Ban Nha góp thêm những hiểu biết về đất nước, con người
Tây Ban Nha.
Công trình nghiên cứu những vấn đề tuy còn mang tính thời sự nhưng
được nghiên cứu tương đối đầy đủ và có hệ thống.
Đề tài có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo để phục vụ nghiên cứu về
đất nước Tây Ban Nha.
7. Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung của luận
văn được trình bày trong 3 chương như sau:
Chương 1: Những nhân tố tác động đến tình hình kinh tế, chính trị -xã
hội và chính sách đối ngoại củaVương quốc Tây Ban Nha từ 1991 đến 2011.
Chương 2: Tình hình kinh tế, chính trị - xã hội và chính sách đối ngoại
của Vương quốc Tây Ban Nha từ 1991 đến 2011.
Chương 3: Một số nhận xét về tình hình kinh tế, chính trị - xã hội và
chính sách đối ngoại của Vương quốc Tây Ban Nha từ 1991 đến 2011.
là trật tự thế giới “đơn cực” do Mỹ lãnh đạo. Mỹ cho rằng, với sức mạnh tổng
11
hợp (quân sự, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật...) của mình, Mỹ hoàn toàn
có thể thực hiện được mưu đồ này. Song âm mưu của Mỹ không dễ gì đạt
được, bởi Mỹ không phải là quốc gia duy nhất tồn tại trên thế giới, cho nên
xét đến cùng, sự vận động phát triển của Mỹ không nằm ngoài sự vận động và
phát triển của thế giới, không nằm ngoài ranh giới của các mối quan hệ quốc
tế. Và trên thực tế hiện nay, từ các xu hướng vận động khách quan của các
mối quan hệ quốc tế sau Chiến tranh lạnh lại đang nổi bật lên tính chất đa cực
của cục diện thế giới, nhất là về kinh tế. Tính đa cực đó đang được thể hiện
trước hết trong quan hệ giữa các nước lớn. Ngoài Mỹ, các cường quốc thế
giới, các trung tâm quyền lực khác đang ngày càng chiếm tỷ trọng lớn hơn,
hoặc về kinh tế - thương mại, hoặc về chính trị - quân sự trong đời sống xã
hội loài người. Ngoài các cường quốc lâu đời đã xuất hiện các cường quốc
mới nổi lên ở những khu vực khác nhau như Nga, Nhật Bản, Trung Quốc...
những nước này ngày càng tỏ ra độc lập hơn trong quan hệ với Mỹ, chứ
không cam chịu là “đối tác lép vế” của Mỹ.
Đặc điểm nổi bật của thời kỳ này là cuộc chạy đua vừa công khai, vừa
không công khai giữa các nước để giành lấy quyền lực trong tương lai và
cuộc chạy đua này đang diễn ra trong xu thế vừa hòa bình hợp tác, vừa kiềm
chế lẫn nhau. Có thể thấy rõ khi Chiến tranh lạnh kết thúc, hầu hết các nước
đều theo đuổi mục tiêu ổn định và phát triển, đặc biệt là tập trung vào phát
triển kinh tế cho dù thế giới còn tồn tại nhiều nhân tố bất ổn định chưa xác
định rõ ràng, các cuộc xung đột và chiến tranh cục bộ xảy ra ở một số nơi,
song xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển đang là xu thế nổi trội hiện nay
của thế giới. Bên cạnh đó, xu thế toàn cầu hóa và khu vực hóa đã trở thành xu
thế chủ đạo của thế giới sau Chiến tranh lạnh. Làn sóng toàn cầu hóa đã và
đang tập hợp các quốc gia trong các tổ chức của khu vực và sự liên kết giữa
hợp đồng minh, liên kết bạn bè trên cơ sở cùng có lợi, trong việc cải thiện và
tăng cường quan hệ với các nước láng giềng và khu vực, đồng thời mở rộng
quan hệ với tất cả các nước lớn, các trung tâm chính trị - kinh tế trên thế giới.
13
Trên bối cảnh đó, các nước đều nhận thấy vấn đề cấp bách hàng đầu là
phải ra sức tận dụng mọi điều kiện để có thể tập trung phát triển kinh tế, giải
quyết những khó khăn, khủng hoảng bên trong. Vấn đề về an ninh, quốc
phòng và kinh tế cơ bản đã có sự nhìn nhận khác so với trước. Sức mạnh tổng
hợp của các quốc gia không chỉ tùy thuộc chủ yếu vào sức mạnh chính trị,
quân sự mà còn phụ thuộc vào sức mạnh kinh tế. Kinh tế đang ngày càng
đóng vai trò nổi bật hơn so với trước kia.
Lợi ích của kinh tế đã trở thành động lực chính trong các mối quan hệ
quốc tế song phương và đa phương, chính nhu cầu phát triển kinh tế vừa là
động lực thúc đẩy các nước tiến hành cải thiện và phát triển quan hệ hợp tác,
vừa là nhân tố làm gia tăng tình trạng cạnh tranh kinh tế giữa các nước trong
khu vực và trên thế giới.
Nhìn chung bắt đầu từ những năm 90, thế giới đã bước sang thời kỳ
mới, xu thế mới. Xu thế xung đột đối đầu từ những thời kỳ trước đã không
còn phù hợp mà thay vào đó là xu thế đối thoại, hợp tác để cùng nhau phát
triển hòa bình lại đang dần giữ vai trò chủ đạo của bối cảnh thế giới hiện nay.
Chính sự thay đổi của bối cảnh quốc tế đã đặt ra vấn đề để các quốc
gia, dân tộc phải tự điều chỉnh, tìm kiếm chiến lược phát triển phù hợp cho
riêng mình. Mỗi quốc gia dân tộc tùy thuộc vào điều kiện và khả năng nội lực
của mình để khai thác và tiếp nhận những tác động tích cực, và hạn chế những
mặt tiêu cực do khu vực hóa và toàn cầu hóa đem lại. Nhưng có một điều
chắc chắn rằng các quốc gia, dân tộc không chỉ đơn thuần thực hiện các điều
chỉnh về kinh tế - xã hội mà còn tiến hành cải cách cả hệ thống, hoàn chỉnh về
nền chính trị an ninh của đất nước để phù hợp với sự phát triển của thời đại.
về việc xây dựng một cộng đồng chung đến như vậy. Và một yêu cầu tất yếu,
hết sức cần thiết được đặt ra là phải thành lập được một tổ chức quyền lực
siêu quốc gia có sứ mệnh điều phối các hoạt động hợp tác giữa các quốc gia
sao cho hiệu quả. Đòi hỏi khách quan đó đã trở thành nguồn gốc sự liên kết
giữa các quốc gia Tây Âu - mở ra một trang mới trong lịch sử phát triển Tây
Âu nói riêng cũng như cả châu Âu nói chung.
15
Dựa trên yêu cầu tất yếu đó, Liên minh châu Âu (EU) đã ra đời. Mốc
đánh dấu sự hình thành của EU là bản “Tuyên bố Schuman” của Bộ trưởng
Ngoại giao Pháp Robert Schuman vào ngày 9 tháng 5 năm 1950 với đề nghị
đặt toàn bộ nền sản xuất gang thép của Cộng hòa liên bang Đức và Pháp dưới
một cơ quan quyền lực chung, trong một tổ chức mở cửa để các nước châu Âu
khác cùng tham gia. Sau đó, Hiệp ước thành lập Cộng đồng than thép châu
Âu (ECSC), một tổ chức tiền thân của EU ngày nay được ký kết. Từ đó, sự
liên kết giữa các quốc gia châu Âu đã không ngừng phát triển cả về chiều
rộng lẫn chiều sâu, đỉnh cao là một Liên minh châu Âu như chúng ta thấy
ngày nay và trong tương lai có thể sẽ đạt tới cấp độ liên kết cao hơn. Nhìn lại
hơn 50 năm hình thành và phát triển của Liên minh châu Âu, có thể thấy quá
trình này gắn liền với các hiệp ước chủ yếu sau đây (từ 1951 đến nay):
- Hiệp ước Paris thành lập Cộng đồng Than - Thép châu Âu (ECSC)
được ký ngày 18/4/1951 với sự tham gia của 6 nước: Pháp, Đức, Italia, Bỉ, Hà
Lan và Luxembourg, nhằm thống nhất việc sản xuất và phân phối hai sản
phẩm chính là thép và than trên toàn lãnh thổ châu Âu. Hiệp ước này chứa
đựng ý đồ của các nhà sáng lập ra ECSC là gây dựng nền tảng cho việc nhất
thể hóa kinh tế châu Âu.
- Hiệp ước Rome thành lập Cộng Đồng Năng lượng nguyên tử châu Âu
(EURATOM) và Cộng đồng kinh tế châu Âu (EEC) được ký ngày 25/3/1957
với sự nhất trí của 6 nước thành viên ECSC. Mục đích thành lập EURATOM
minh. Với mục tiêu như vậy, EU đã thực sự bước vào một thời kỳ mới, tồn tại
như một thực thể thống nhất hay nói đúng hơn là đóng vai trò như một “Đại
quốc gia” ở châu Âu, một “Ngôi nhà chung châu Âu”.
- Hiệp ước Amsterdam được ký ngày 2/10/1997 bởi các nguyên thủ của
15 nước thành viên (năm 1995 EU đã kết nạp thêm 3 nước thành viên nữa là
Thụy Điển, Phần Lan, Áo). Hiệp ước này được hình thành trên cơ sở sửa đổi
hiệp ước Maastricht nhằm đưa những cố gắng của EU trong việc xây dựng
một liên minh kinh tế - tiền tệ (EMU) trở thành hiện thực. Hiệp ước này đã
tạo cơ sở pháp lý để đồng EURO đồng tiền chung của các nước châu Âu
17
chính thức ra đời với tư cách đầy đủ của một đồng tiền thực thụ và đi vào hoạt
động từ ngày 1/1/1999 trong phạm vi 11 nước (EU-11): Đức, Pháp, Ailen, Bỉ,
Bồ Đào Nha, Hà Lan, Italia, Luxembourg, Phần Lan. Theo kế hoạch đã được
định trước, đúng ngày 1/1/2002 các đồng Euro bằng giấy và bằng kim loại đã
chính thức đi vào lưu thông tiền tệ song hành với các đồng bản tệ và bắt đầu
giai đoạn đổi tiền.
- Hiệp ước Nice (7-11/12/2000) được tập trung vào các vấn đề cải cách
thể chế để đón nhận các thành viên mới.
Trải qua không ít những khó khăn thăng trầm trong gần một nửa cuối
thế kỷ XX, giờ đây châu Âu đang dần lấy lại vị trí “Trung tâm thế giới” của
mình. Đặc biệt trong thập kỷ 90 của thế kỷ trước, EU đã thực sự khẳng định
được vị thế là một trung tâm kinh tế hùng mạnh của thế giới với tốc độ tăng
trưởng kinh tế đáng kể và tương đối ổn định. Theo các nhà kinh tế, sự ổn định
kinh tế của EU được xem là một trong những nhân tố chính giúp cho nền kinh
tế thế giới tránh được nguy cơ suy thoái toàn cầu. Tốc độ tăng trưởng GDP
của EU trong các năm vẫn liên tục tăng (1996: 1,6%; 1997: 2,5%, 2000: 3%).
Theo Ủy ban châu Âu kinh tế EU vẫn đang phát triển khả quan. Theo dự báo
của OECD (Tổ chức phát triển và hợp tác quốc tế), trong năm 2003, tốc độ
động của Đảng Cộng sản và ân xá tù chính trị. Quá trình dân chủ diễn ra trong
tình trạng hỗn loạn. Cuộc bầu cử dân chủ được tiến hành năm 1977. Hiến pháp
mới thiết lập một nền dân chủ lập hiến, theo đó nhà vua chỉ có quyền lực tượng
trưng. Hiến pháp mới phân tách nhà nước với nhà thờ, bảo hộ giáo dục tư thục,
quy định về một nhà nước phi tập trung.
Mặc dù đã tiến hành những cải cách sâu rộng về mặt xã hội, song trước
năm 1986, Tây Ban Nha vẫn là một đất nước chậm phát triển trong khu vực,
bất bình đẳng về phân phối thu nhập, cơ sở hạ tầng lạc hậu, hệ thống giáo dục
còn yếu kém. Về phân phối thu nhập, Tây Ban Nha là quốc gia có tình trạng
bất bình đẳng thu nhập nổi cộm nhất ở châu Âu. Năm 1975, 17% các gia đình
ở Tây Ban Nha sở hữu 49% thu nhập quốc gia. Về hệ thống phúc lợi năm
19
1975, chi phí công cộng so với tổng thu nhập quốc nội là 25% trong khi ở EC,
tỷ trọng này là 44,5%. Về hệ thống cơ sở hạ tầng, năm 1975, mạng lưới
đường sắt ở Tây Ban Nha là 13,5 nghìn km, đường cao tốc chỉ có 619 km. Về
giáo dục, năm 1975, 9% dân số ở Tây Ban Nha sống trong cảnh mù chữ. Về
bình đẳng giới, chỉ có 1/3 dân số nữ ở độ tuổi lao động tham gia lao động với
tay nghề kém và tiền lương thấp [15;tr51].
Sau cuộc bầu cử năm 1977, chính phủ và phe đối lập thực hiện thỏa
thuận hai hiệp ước lớn: Hiệp ước Moncloa liên quan đến các vấn đề kinh tế xã
hội và Hiến pháp năm 1978 liên quan đến các vấn đề chính trị.
Hiệp ước Moncloa bao gồm các nội dung cơ bản như:
- Các công đoàn và đảng cánh tả chấp nhận kiểm soát lạm phát, quy
định chế độ tăng lương theo dự báo lạm phát.
- Mở rộng mạng lưới an sinh xã hội, bảo hiểm thất nghiệp.
- Xây dựng nền tảng cho một chế độ thuế mới có thể tăng sức ép về
thuế nhằm mục đích tạo dựng một nhà nước phúc lợi, tăng vốn tài chính cho
cơ sở hạ tầng.