Đánh giá tác động của hội nhập và toàn cầu hóa tài chính lên tăng trưởng của các quốc gia Châu Á Kiểm định thị trường hiệu quả Luận văn thạc sĩ - Pdf 29

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH

Ngô Thị Thanh Nga

ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA HỘI NHẬP VÀ TOÀN
CẦU HÓA TÀI CHÍNH LÊN TĂNG TRƯỞNG CỦA
CÁC QUỐC GIA CHÂU Á

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ Tp. Hồ Chí Minh - 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TR
ƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH

TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ NGỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC ĐỒ THỊ
Tóm tắt 1
1. Giới thiệu 1
2. Tổng quan các kết quả nghiên cứu trước đây 3
2.1. Các nghiên cứu định tính 3
2.2. Các nghiên cứu định lượng 10
3. Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu 15
3.1. Dữ liệu 15
3.2. Phương pháp nghiên cứu 17
3.3. Thống kê mô tả các biến 17
3.3.1. Tính toán các biến 17
3.3.2. Thống kê mô tả các biến 22
4. Nội dung và các kết quả nghiên cứu 27
4.1. Mô hình hồi quy 27
4.2. Kết quả hồi quy 28
4.2.1. Đo lường tác động của hội nhập và toàn cầu hóa tài chính lên tăng
trưởng 28
4.2.2. Đo lường tác động của hội nhập và toàn cầu hóa tài chính lên biến
động tăng trưởng 43
4.3. Kiểm tra tính vững của mô hình 55
5. Kết luận 57
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC TỪ NGỮ VIẾT TẮT


Bảng 4.1c: Kiểm định Hausman giữa hiệu ứng cố định và ngẫu nhiên (6 nước đang
phát triển) 30
Bảng 4.2a: Kiểm định LR về sự cần thiết của hiệu ứng cố định (12 nước) 31
Bảng 4.2b: Kiểm định LR về sự cần thiết của hiệu ứng cố định (6 nước phát triển) 31
Bảng 4.2c: Kiểm định LR về sự cần thiết của hiệu ứng cố định (6 nước đang phát
triển) 31
Bảng 4.3a: Kết quả hồi quy GDPG với ISPEED và FGLOB (12 nước) 32
Bảng 4.3b: Kết quả hồi quy GDPG với ISPEED, FGLOB và COFV (12 nước) 33
Bảng 4.3c: Kết quả hồi quy GDPG với ISPEED, FGLOB và CIFV (12 nước) 34
Bảng 4.4a: Kết quả hồi quy GDPG với ISPEED và FGLOB (6 nước phát triển) 35
Bảng 4.4b: Kết quả hồi quy GDPG với ISPEED, FGLOB và COFV (6 nước phát
triển) 36
Bảng 4.4c: Kết quả hồi quy GDPG với ISPEED, FGLOB và CIFV (6 nước phát
triển) 37
Bảng 4.5a: Kết quả hồi quy GDPG với ISPEED và FGOB (6 nước đang phát triển)
38
Bảng 4.5b: Kết quả hồi quy GDPG với ISPEED, FGOB và COFV (6 nước đang
phát triển) 39
Bảng 4.5c: Kết quả hồi quy GDPG với ISPEED, FGOB và CIFV (6 nước đang phát
triển) 40
Bảng 4.6: Tổng hợp kết quả hồi quy ảnh hưởng của hội nhập và toàn cầu hóa tài
chính lên tăng trưởng 42
Bảng 4.7a: Kết quả hồi quy GDPGV với ISPEED và FGOB (12 nước) 44
Bảng 4.7b: Kết quả hồi quy GDPGV với ISPEED, FGOB và COFV (12 nước) 45
Bảng 4.7c: Kết quả hồi quy GDPGV với ISPEED, FGOB và CIFV (12 nước) 46
Bảng 4.8a: Kết quả hồi quy GDPGV với ISPEED và FGLOB (6 nước phát triển) 47
Bảng 4.8b: Kết quả hồi quy GDPGV với ISPEED, FGLOB và COFV (6 nước phát
triển) 48
Bảng 4.8c: Kết quả hồi quy GDPGV với ISPEED, FGLOB và CIFV (6 nước phát
triển) 49

một cách tổng quát, có thể nói rằng hội nhập tài chính và toàn cầu hóa tài chính
đi đôi với tăng trưởng cao hơn và đồng thời cũng kèm theo biến động tăng
trưởng ít hơn.

1. Giới thiệu
Hội nhập tài chính là vấn đề được quan tâm và đáng chú ý đối với nhiều
quốc gia, nhất là với những quốc gia đang phát triển, đang từ từ bước vào vòng
xoay chung rộng lớn của thế giới. Trong một nghiên cứu của mình, Lane và
Milesi-Ferretti (2003) nhấn mạnh rằng các quốc gia đang nỗ lực tháo gỡ những
ràng buộc về chu chuyển vốn quốc tế bằng việc bãi bỏ từ từ những quy định
mang tính địa phương và dần trở nên chủ động hơn trong việc tạo ra các cơ hội
đầu tư để thu hút dòng vốn quốc tế. Trên các diễn đàn kinh tế hay trên các
phương tiện thông tin, truyền thông, không khó khăn gì để tìm ra một bài viết
hay một nghiên cứu với chủ đề về hội nhập tài chính với nhiều quan điểm khác
nhau và nhiều phân tích lợi ích – thiệt hại khác nhau. Như theo De Nicolò và
Juvenal (2014), cả hội nhập tài chính và toàn cầu hóa tài chính đều có mối tương
quan thuận với mức tăng trưởng cao hơn và ít biến động hơn, ít rủi ro hơn, và
2

cng không có một sự đánh đổi nào giữa hội nhập và toàn cầu hóa tài chính với
sự bất ổn trong kinh tế vĩ mô. Nhưng bên cạnh đó, Evans và Hnatkovska (2007)
lại tìm thấy một mối quan hệ không đơn điệu giữa mức độ hội nhập tài chính với
những biến động kinh tế vĩ mô. Hội nhập tài chính ban đầu sẽ làm gia tăng biến
động của nền kinh tế vĩ mô nhưng những biến động này sẽ giảm đi khi hội nhập
tài chính sâu hơn.
Riêng quan điểm của tôi về vấn đề này, tôi kỳ vọng rằng vấn đề hội nhập
và toàn cầu hóa tài chính sẽ ảnh hưởng tích cực đến sự tăng trưởng của một quốc
gia và hội nhập tài chính không đi liền với việc gia tăng biến động vĩ mô. Và do
đó, mục tiêu của nghiên cứu của tôi là tiến hành tìm hiểu, đánh giá về những ảnh
hưởng của vấn đề hội nhập và toàn cầu hóa tài chính dựa trên những số liệu thực

có động cơ để gia tăng. Thứ hai, về mặt tiêu dùng, sự hội nhập cho phép các cá
nhân ở những nền kinh tế mới hội nhập và trong chừng mực ít hơn là ở những
nền kinh tế đã hội nhập, đảm bảo tránh được những phát triển bất lợi trong nền
kinh tế nước nhà thông qua việc đa dạng hóa danh mục đầu tư quốc tế và khai
thác thị trường vốn toàn cầu để dàn trải sự giảm sút thu nhập nhất thời. Cụ thể là
trong một nền kinh tế đóng về mặt tài chính, đầu tư phải được tài trợ bằng tiết
kiệm trong nước. Hai yếu tố này cân xứng với nhau qua những chuyển biến của
lãi suất thực, đó là chi phí vay nợ và lãi suất tiết kiệm. Khi không có dòng vốn
quốc tế thì không thể cho rằng sẽ có sự cân bằng tỷ suất sinh lợi từ đầu tư giữa
các nước, điều này dẫn đến sự phân bổ sai các nguồn lực: ở cận biên, những dự
án có khả năng sinh lời cao ở một số nước có thể không được thực hiện vì thiếu
vốn, trong khi những dự án có tỷ suất sinh lợi thấp hơn ở những nơi khác lại
được tiến hành. Sự hội nhập tài chính, dù ở cấp độ quốc gia hay quốc tế, đều cắt
đứt mối liên kết giữa tiết kiệm địa phương và đầu tư địa phương, cho phép tiền
tiết kiệm chảy đến nơi cần nhất và hiệu quả nhất. Các nhà đầu tư có thể đi vay và
những người tiết kiệm có thể cho vay trên thị trường quốc tế, do vậy lãi suất toàn
cầu sẽ trở thành chi phí sử dụng vốn và tỷ suất sinh lợi từ tiết kiệm tương xứng,
chứ không phải lãi suất quốc gia. Dĩ nhiên, tiết kiệm và đầu tư vẫn phải cân
xứng, nhưng bây giờ chúng cân xứng trong phạm vi toàn cầu hơn là trong phạm
vi quốc gia. Tiếp theo sự hội nhập, trong tình huống lý tưởng, đầu tư sẽ được tái
4

phân b hướng tới những dự án sinh lời nhất (trên cơ sở đã điều chỉnh rủi ro), bất
kể vị trí của chúng, được tài trợ bằng những dòng vốn tương ứng đi tìm suất sinh
lợi cao nhất sau khi đã điều chỉnh rủi ro. Sản xuất thế giới gia tăng, một phần lợi
ích được gặt hái bởi những người tiết kiệm tại các nền kinh tế kém hiệu quả, giờ
đây họ nhận được suất sinh lợi cao hơn; và một phần lợi ích chảy về cho các
công ty ở những nền kinh tế hoạt động hữu hiệu hơn, giờ đây được hưởng mức
chi phí của vốn thấp hơn.
Bên cạnh đó, hội nhập có thể thúc đẩy tăng năng suất lao động thông qua

suất hơn trên toàn cầu mang đến những lợi ích dài hạn của sự hội nhập đích thực.
Ngoài ra, hội nhập còn đem đến những lợi ích tức thời thông qua những ảnh
hưởng lan tỏa về tri thức, cụ thể là trên thị trường tài chính và thông qua FDI.
Mặc dù những mối lợi này không phụ thuộc chặt chẽ vào sự hội nhập tài chính,
nhưng ít nhất, hội nhập cũng có xu hướng đẩy nhanh sự chuyển giao kiến thức.
Bên cạnh vấn đề lãi suất thực và rủi ro đầu tư chịu ảnh hưởng tích cực từ
vấn đề hội nhập tài chính, hai thành phần khác trong chi phí sử dụng vốn của
người đi vay cuối cùng là cơ cấu chi phí của hệ thống tài chính và biên lợi nhuận
cũng chịu ảnh hưởng nếu sự hội nhập làm phát triển chiều sâu của hệ thống tài
chính (nghĩa là cho phép chi phí cố định dàn trải trên một phạm vi rộng hơn) hay
cải thiện sức cạnh tranh. Ngoài ảnh hưởng đối với chi phí sử dụng vốn, sự phát
triển chiều sâu (tăng cường) hệ thống tài chính theo sau quá trình hội nhập cũng
giúp tăng trưởng thông qua việc phân bổ nguồn lực hiệu quả hơn, điều này đến
lượt nó lại dẫn đến phát triển chiều sâu tài chính (tăng cường tài chính) hơn nữa.
Chu kỳ phản hồi tích cực giữa phát triển tài chính và phát triển thực này được
thiết lập một cách tốt đẹp. Hội nhập quốc tế có thể làm tăng sự phản hồi đó. Các
định chế tài chính nước ngoài sẽ du nhập hay tạo ra sự tiếp cận với các công cụ
tài chính mới, trong khi sự tham gia của người nước ngoài trên thị trường chứng
khoán trong nước sẽ làm tăng khả năng thanh khoản, đến lượt nó làm thuận lợi
hơn cho sự chuyển hóa thời hạn dài hạn. Lợi ích định lượng nhờ phát triển chiều
6

sâu tài chính còn có th được nâng cao hơn nữa thông qua sự cải thiện về chất
lượng của trung gian tài chính. Một phần cải thiện xảy ra thông qua những điều
kiện tiên quyết để hội nhập thành công, chẳng hạn như cải thiện các tiêu chuẩn
kế toán và giám sát trong nước. Phần khác xảy ra thông qua việc học hỏi về
những thông lệ thực hành tốt hơn cùng với sức ép tạo ra do cạnh tranh nhiều
hơn. Tuy nhiên, quan trọng hơn cả là động lực cho những cải cách và phát triển
thêm nữa được giải phóng ra thậm chí chỉ bằng những bước đi nhỏ bé ban đầu
hướng tới sự hội nhập. Lấy ví dụ, sự phát triển chiều sâu hệ thống ngân hàng ban

quốc tế phát huy hiệu quả của nó.
Theo Stiglitz (2003) thì hội nhập tài chính, tự do hóa tài chính có thể là
một điều rất tệ hại đối với các nước đang phát triển. Vì theo ông, tự do hóa thị
trường vốn có thể dẫn đến biến động tiêu dùng nhiều hơn. Nếu như các dòng vốn
ngắn hạn giúp xoa dịu biến động tiêu dùng, thì vốn sẽ chảy vào một đất nước khi
nền kinh tế yếu, và sẽ chảy ra (ít nhất là một cách tương đối so với các dòng vốn
ở trạng thái dừng) khi nền kinh tế mạnh lên. Ít nhất thì trong những trường hợp
quan trọng nhất định, các dòng vốn, đặc biệt là những dòng vốn ngắn hạn, xem
ra có tính thuận chu kỳ, lẽ dĩ nhiên cho chúng ta thấy một nhược điểm của ‘lý
thuyết’ tiêu chuẩn. Nhưng nó hoàn toàn nhất quán với những câu cách ngôn tiêu
chuẩn về các chủ ngân hàng – nghĩa là ngân hàng chỉ muốn cho những người
không cần tiền vay mà thôi – và nhất quán với những phát triển lý thuyết hiện
đại trong lĩnh vực tài chính (nghĩa là những phát triển lý thuyết trong suốt một
phần tư thế kỷ qua), nhấn mạnh vào việc phân bổ định mức tín dụng và những
điểm không hoàn hảo khác trên thị trường tín dụng. Có một lý do khác khiến ta
sẽ không ngạc nhiên khi thấy các dòng vốn (ngắn hạn) không giúp xoa dịu biến
động tiêu dùng: ‘Lý thuyết’ dự đoán rằng những người có khả năng gánh chịu
rủi ro (rủi ro biến động tỷ giá hối đoái và biến động lãi suất) sẽ sử dụng các dòng
vốn để giảm nhẹ biến động tiêu dùng. Thế nhưng thật ra, các nước đang phát
triển buộc phải gánh chịu gánh nặng của những biến động đó, mà phần lớn
8

chng liên quan gì đến những điều đang diễn ra trên đất nước họ. Việc Cục Dự
trữ liên bang Hoa Kỳ tăng lãi suất lên đến những mức chưa từng thấy vào cuối
thập niên 70 và đầu thập niên 80 đã làm sớm dẫn đến cuộc khủng hoảng nợ của
châu Mỹ La tinh; nhưng ngay cả nếu như không dẫn tới khủng hoảng, thì nó
cũng sẽ ảnh hưởng bất lợi đến các nước châu Mỹ La tinh. Ngay cả nếu các nước
này có thể tiếp cận một cách hoàn hảo với các thị trường vốn, thì việc tăng lãi
suất cũng dẫn đến giảm thu nhập trọn đời của họ và vì thế sẽ làm giảm tiêu dùng
của họ; nhưng với những điểm không hoàn hảo của thị trường vốn, thu nhập của

Thêm một lập luận nữa của Stiglitz (2003) về những bất lợi của hội nhập
tài chính đó là tự do hóa thị trường vốn không dẫn đến tăng trưởng nhanh hơn
hay đầu tư cao hơn. Nếu tự do hoá thị trường vốn dẫn đến bất ổn sản lượng hay
tiêu dùng thì nó làm tăng khoản phí đền bù rủi ro mà doanh nghiệp đòi hỏi cho
hoạt động đầu tư của họ, do đó làm nản lòng các nhà đầu tư. Ngoài ra, trong
chừng mực mà đầu tư phụ thuộc vào dòng tiền và ảnh hưởng của bảng cân đối kế
toán, tình trạng sa sút kinh tế có thể có ảnh hưởng đặc biệt bất lợi đối với đầu tư.
Những khó khăn này càng thêm sâu sắc bởi sự biến động lãi suất cao hơn. Cả
biến động sản lượng và biến động lãi suất đều gây ra những giới hạn nghiêm
trọng đối với việc sử dụng nguồn huy động nợ, vốn có những ảnh hưởng bất lợi
lớn (đối với đầu tư), đặc biệt tại các nước đang phát triển với thị trường vốn kém
phát triển khiến cho việc phân bổ nguồn lực kém hiệu quả.
Đối diện với vấn đề này, đã có nhiều đề xuất các biện pháp giúp một quốc
gia mới hội nhập có thể tiếp cận dòng vốn quốc tế nhưng vẫn tránh được những
nguy hiểm do vấn đề hội nhập có khả năng gây ra. Theo Trần Ngọc Thơ (2006),
điều kiện tiên quyết để toàn cầu hóa tài chính thành công là phải có một khung
pháp lý tài chính lành mạnh, đặc biệt là một vị thế tài chính vững chắc; không có
những biến dạng lớn trong giá cả do chính sách bảo hộ quá mức; phải có một hệ
thống ngân hàng nội địa vững mạnh với khuôn khổ pháp lý và cơ chế giám sát
hữu hiệu; và có một cơ sở hạ tầng cho việc vận hành một thị trường vốn có hiệu
10

quả. Những điều kiện như thế là những nhân tố quyết định để hội nhập tài chính
thành công. Một số chính sách đối phó với những dòng chảy vốn nóng trong thời
kỳ hội nhập có thể được xem xét đến như: Kiểm soát dòng vốn, chính sách này
nếu được thiết lập phù hợp sẽ làm thay đổi một cách hợp lý kết cấu của dòng vốn
chảy vào đi theo định hướng của quốc gia như khuyến khích dòng vốn ngắn hạn
hay dài hạn; Một chính sách nữa là ngăn chặn sự đánh giá cao của đồng nội tệ, vì
nếu đồng nội tệ bị định giá quá cao sẽ dẫn đến thâm hụt cán cân mậu dịch; Chính
sách thứ ba có thể kể đến ở đây là chính sách kiểm soát cung tiền để kiểm soát

Hội nhập ở mức độ toàn cầu sẽ làm giảm ảnh hưởng từ những cú sốc của nền
kinh tế thế giới. Một quan điểm khác nữa từ nghiên cứu của Tschoegl (2004) cho
thấy rằng các chính sách của chính phủ nhằm hạn chế sự hội nhập tài chính thì
ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của hệ thống tài chính quốc gia mà dễ thấy nhật
là hệ thống ngân hàng vì hạn chế sự cạnh tranh của các ngân hàng nước ngoài
nên hệ thống ngân hàng trong nước khó cải thiện được chất lượng dịch vụ cũng
như hiệu quả hoạt động.
Một nghiên cứu khác của Rusek (2004) cho thấy rằng khi hệ thống tài
chính của một quốc gia phát triển và hội nhập, cùng với nền kinh tế, hệ thống
pháp luật, tổ chức hành chính được cải thiện sẽ làm gia tăng sản phẩm biên trong
nền kinh tế đồng thời làm giảm bớt rủi ro nhờ gia tăng các cơ hội đa dạng hóa tài
sản đầu tư. Pang (2013) lại có một cái nhìn khác. Ông cho rằng hội nhập tài
chính ở các nước đang phát triển có thể làm xuất hiện chi phí khi cố gắng giữ
cho tỷ giá hối đoái ổn định. Còn đối với các quốc gia công nghiệp phát triển, có
các chính sách hiệu quả để đạt được mức lạm phát mục tiêu, thì hội nhập tài
chính luôn luôn có lợi cho nền kinh tế.
Một lợi ích của vấn đề hội nhập tài chính được Gaspar và Pereira (1995)
nêu lên rằng hội nhập tài chính làm gia tăng khả năng vay nợ nước ngoài của
12

một quốc gia. Masten et al. (2008) kết luận rằng hội nhập tài chính quốc tế là có
lợi cho quốc gia và lợi ích này được nhìn thấy rõ hơn ở các nước có hệ thống tài
chính phát triển ở mức độ cao hơn.
Mougani (2012) phát biểu rằng hội nhập tài chính ảnh hưởng đến một số
khía cạnh của hiệu quả kinh tế, cụ thể là làm gia tăng mức đầu tư, chuyển giao
công nghệ, mở cửa thương mại, khuyến khích phát triển hệ thống tài chính nội
địa và tăng trưởng kinh tế. Bên cạnh đó, hội nhập tài chính cũng là một nguồn
gốc tiềm tàng dẫn đến sự bất ổn của kinh tế vĩ mô mà sự bất ổn này chủ yếu nằm
ở việc đầu tư vào các danh mục chứng khoán hơn là ở đầu tư trực tiếp.
Agénor (2003) đưa ra một đánh giá tổng quát hơn: Sự gia tăng mức độ hội

Juvenal (2014)
Hội nhập và toàn cầu hóa tài chính đi đôi với tăng trưởng cao hơn và
ít biến động hơn, ít rủi ro hơn, cũng không có một sự đánh đổi nào
giữa hội nhập và toàn cầu hóa tài chính với sự bất ổn trong kinh tế
vĩ mô.
2 Pang (2013) HNTC ở các nước đang phát triển có thể làm xuất hiện chi phí khi
cố gắng giữ cho tỷ giá hối đoái ổn định. Còn đối với các quốc gia
phát triển, có các chính sách hiệu quả để đạt được mức lạm phát
mục tiêu, thì HNTC luôn luôn có lợi cho nền kinh tế.
3 Mougani
(2012)
HNTC ảnh hưởng đến một số khía cạnh của hiệu quả kinh tế, cụ thể
là làm gia tăng mức đầu tư, chuyển giao công nghệ, mở cửa thương
mại, khuyến khích phát triển hệ thống tài chính nội địa và tăng
trưởng kinh tế. Bên cạnh đó, HNTC cũng là một nguồn gốc tiềm
tàng dẫn đến sự bất ổn của kinh tế vĩ mô mà sự bất ổn này chủ yếu
nằm ở việc đầu tư vào các danh mục chứng khoán hơn là ở đầu tư
trực tiếp.
4 Park và Lee HNTC nhìn từ góc độ thị trường cổ phiếu và trái phiếu ở mức độ
khu vực sẽ đem lại lợi ích cho nền kinh tế khu vực trong việc phân
14

(2011) b hiệu quả đầu tư và đa dạng hóa rủi ro. Hội nhập ở mức độ toàn
cầu sẽ làm giảm ảnh hưởng từ những cú sốc của nền kinh tế thế giới.

5 Masten et al.
(2008)
Hội nhập tài chính quốc tế là có lợi cho quốc gia và lợi ích này được
nhìn thấy rõ hơn ở các nước có hệ thống tài chính phát triển ở mức
độ cao hơn.

15

3. Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu
3.1. Dữ liệu
Bài nghiên cứu này sử dụng dữ liệu bảng theo năm của 12 quốc gia châu
Á (bao gồm 6 quốc gia phát triển: Australia, Japan, Hong Kong, Korea, New
Zealand, Singapore; và 6 quốc gia đang phát triển: China, India, Indonesia,
Malaysia, Philippines và Thailand) trong giai đoạn từ 1970 đến 2013. Dữ liệu
được thu thập từ các nguồn chính là GFD, World Bank và từ bộ dữ liệu có sẵn
của Lane và Milesi-Ferretti (2007) từ 1970 đến 2011 và cập nhật đến 2013 với
dữ liệu thu thập thêm từ GFD. Chi tiết được mô tả trong bảng 3.1 và phụ lục 1.
16

Bảng 3.1: Các nguồn dữ liệu
STT

4 Tốc độ tăng
trưởng GDP
Phần trăm tăng trưởng theo năm của
GDP được tính theo giá cố định
năm 2005, giai đoạn 1970-2013
World Bank
5 Tài sản của cư
dân trong nước
đầu tư ra nước
ngoài và tài sản
từ nước ngoài
đầu tư vào Việt
Nam
Dữ liệu có sẵn của Lane và Milesi-
Ferretti (2007) được tác giả cập nhật
đến năm 2011, dữ liệu của năm
2012 và 2013 được thu thập từ GFD
và tính toán cũng theo phương pháp
của Lane và Milesi-Ferretti (2007)
- Lane và Milesi-
Ferretti (2007):
1970-2011;
- GFD: 2012-
2013
17

3.2. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp hồi quy được sử dụng là GMM (Generalized Method of
Moments). GMM được Lars Peter Hansen trình bày lần đầu tiên vào năm 1982
trong bài viết “Large Sample Properties of Generalized Methods of

௧ାଵ

là tỷ suất sinh lợi vượt trội kỳ vọng thị
trường tại thời điểm t của quốc gia i trong N quốc gia; giả định rằng tỷ suất sinh
lợi này tuân theo mô hình CAPM và không có rủi ro tỷ giá. Trong trường hợp
hội nhập tài chính đầy đủ, cho mỗi quốc gia ݅∈ܰ,ܧ

ܴ
௧ାଵ

thỏa phương trình:
ܧ

ܴ
௧ାଵ



ܿ݋ݒ(ܴ
௧ାଵ


௧ାଵ

) (a)
Trong đó, ܴ
௧ାଵ

là tỷ suất sinh lợi danh mục đầu tư trung bình của N quốc
gia và ߣ




ߣ

ܿ݋ݒ൫ܴ
௧ାଵ


௧ାଵ

൯ + (1 − ߙ





ݒܽݎ(ܴ
௧ାଵ

) (c)
Trong đó, ߙ


∈[0;1] là một ước lượng likelihood về thị trường hội nhập.
Phương trình (c) không thể được xem như một ràng buộc cho tỷ suất sinh lợi kỳ
vọng trong một mô hình định giá tài sản riêng biệt. Nhưng theo Bekaert và
Harvey (1995) chỉ ra rằng phương trình (c) này lại có ý nghĩa trong việc tìm ra
một biến đo lường hội nhập tài chính. Nếu thông số ߙ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status