CHÍNH SÁCH TÍN DỤNG ĐỐI VỚI HỌC SINH, SINH VIÊN - Pdf 15

CHÍNH SÁCH TÍN DỤNG ĐỐI VỚI HỌC SINH - SINH VIÊN.
NỘI DUNG CHÍNH
I. Cở sở lý luận và thực tiễn 2
1.1. Cở sở lý
luận
2
1.2. Cở sở thực
tiễn
4
1.2.1. Bối cảnh thế
giới
4
1.2.2. Bối cảnh trong
nước
6
II. Phấn tích chính sách tín dụng cho HSSV ở Việt Nam 7
2.1. Phân tích nội dung chính
sách
7
2.1.1. Một số văn bản quy
định
7
2.1.2. Nội dung chính sách 8
2.2. Những mục tiêu của chính sách 10
2.3. Đánh giá chính
sách
13
III. Một số kiến nghị. 20
Kết
luận
24


phát
triển giáo dục nói chung, trong đó có những
chính sách đào tạo và phát triển nguồn nhân lực nói riêng. Trên tinh thần đó, trong
những năm qua Đảng và nhà nước luôn có những chính sách chăm lo và đầu tư
cho giáo dục nói chung và những chính sách hướng vào học sinh, sinh viên-
nguồn nhân lực
trong tương lai. Cũng vì vậy trong nhiều nghị sự chính sách của nhà nước, vần
đề tín dụng đối với HSSV do nhà nước hỗ trợ ngày càng được thảo luận nhiều.
Chương trình cho vay là mối quan tâm đặc biệt của các nhà hoạch định
chính sách bởi vì nó có thể góp phần giải quyết một loạt những vấn đề chính
sách căng thẳng của chính phủ. Việc cho vay và được vay giữ một vai trò trung
tâm thúc đẩy đối thoại chính sách và chia sẻ tri thức. Việc hỗ trợ cải cách thông
qua chương trình và dự án cho vay khuyến khích phát triển các hoạt động văn
hóa, xã hội, kinh tế. Nó góp phần đào tạo và phát triển nguồn nhân lực với
trình độ cao nhằm đáp ứng nhu cầu về nguồn nhân lực cho nền kinh tế. Đồng thời
đó là sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với một bộ phận dân cư vì lẽ này
hay lẽ khác mà trong cuộc sống có những khó khăn không đủ điều kiện cho con
em mình được học tập. Tạo điều kiện cho các con em gia đình chính sách để các
em có trình độ và kiến thức, được thụ hưởng chính sách giáo dục của Nhà nước
ta, thụ hưởng chính sách đào tạo nguồn nhân lực, đào tạo nhân tài cho đất nước.
Thụ hưởng thành quả trong công cuộc
xây

dựng
và phát triển giáo dục nhằm tạo
sự công bằng xã hội để mọi người nhận được sự công bằng xã hội trong giáo
dục và đào tạo, có công ăn việc làm, từng bước thoát nghèo. Vì vậy, tín dụng đối
với HSSV là chính
sách

Ngày nay, dường như bất cứ quốc gia nào trên thế giới đều nhận thức rõ
rằng nhân tố con người hay nguồn nhân lực con người là nhân tố quyết định đến
sự phát triển kinh tế-xã hội của mỗi quốc gia.
Trong xu thế toàn cầu hóa, cùng với chính sách mở cửa về kinh tế, thu
hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài và chuyển giao công nghệ. Hầu hết các nước
trên thế giới đều chú trọng phát triển giáo dục và đào tạo
để

nâng
cao mặt bằng
dân trí , đào tạo nguồn nhân lực lao động kỹ thật đáp ứng nhu cầu phát triển kinh
tế theo hướng hiện đại. Đầu tư cho giáo dục nhằm phát triển nguồn nhân lực
trong tương lai, vấn đề tín dụng cho HSSV do nhà nước hỗ trợ ngày càng được
thảo luận nhiều trong chương trình nghị sự chính sách của nhiều nước. Chương
trình tín dụng đối với HSSV đã có mặt ở hơn 50 nước trên khắp thế giới và hầu
hết đều dành cho giáo dục trung học chuyên nghiệp, dạy nghề, cao đẳng và đại
học. Điển hình ở Châu Á,
nơi được mệnh danh là “thiên đường của giáo dục đại học”, chương trình này
đã được thiết lập ở một số quốc gia như: Úc, Trung Quốc, Hồng Kông, Ấn Độ,
Nhật Bản, Hàn Quốc, Malaixia, Mông Cổ, Philippin, Pakixtan, Singapo, Việt
Nam, Thái Lan, Xrilanka,…
 Trung Quốc.
Trung Quốc từ lâu được biết đến là một trong những nước có nền văn hóa
đồ sộ và lâu đời nhất thế giới. Ngày nay, Trung Quốc lại được nhiều người biết
đến như một nền kinh tế trên đà phát triển mạnh mẽ và một nền giáo dục chất
lượng cao. Trong hơn 50 năm qua, chính phủ Trung Quốc vẫn tiếp tục phát huy
truyền thống chú trọng phát triển giáo dục từ ngàn xưa. Mỗi năm ngân sách tài
chính được cấp cho ngành giáo dục chiếm gần 14% tổng chi tiêu nhà nước,
tương đương gần
3% GDP. Chương trình cho sinh viên vay lần đầu tiên xuất hiện ở Trung Quốc

n
ƣ
ớc.
Theo thống kê của tổng cục thống kê, số lượng HSSV đều tăng qua mỗi
năm. Về số lượng sinh
đại

học,
cao đẳng cụ thể tăng như sau: Năm 2000 có 899,5
nghìn sinh viên đên năm 2007 là 1,6 triệu sinh viên và năm 2009 là 1,796 triệu
sinh
viên
Thực tế hiện nay có rất nhiều sinh viên gặp khá nhiều khó khăn trong
học tập trong đó có vấn đề học phí phải nộp và các chi phí khác trang trải, phục vụ
cho học tập như tiền ăn học, tiền sách, tiền thuê nhà(đối với nhưng sinh viên từ
nơi khác đến theo học).
HSSV là đối tượng nhạy cảm hơn ai hết với tác động của những khó khăn
do giá cả nhiều mặt hàng thiết yếu tăng cao trong thời gian qua. Theo thống kê
của ngành giáo dục thì chi phí cho một sinh viên trong
một

năm
còn nhiều hơn cả
học phí phải đóng hàng năm. Nếu nhìn một cách tổng thể, số sinh viên xuất thân
từ các vùng quê chủ yếu là thu nhập của gia đình từ nông nghiệp thì khả năng chu
cấp của gia đình cho sinh viên gặp rất nhiều khó khăn, chưa kể các sinh viên ở
vùng sâu, vùng xa, biên giới hải đảo….Sẽ là một sự thiệt hại lớn nếu như gần
67% sinh viên có nhu cầu vay vốn nhưng không được đáp ứng sẽ phải nghỉ học.
Hiện nay, nhu
cầu vay vốn của HSSV vẫn tiếp tục tăng cao, chương trình tín dụng này đã và


Q

u y ế

t

đ

ịnh

s



2077/Q
Đ

-

T T

g về điều chỉnh mức cho vay đối với học sinh, sinh viên.
2.1.2. Nội dung chương trình
 . Đối tượng được vay vốn
Theo điều 2 của quyết định số 157/2007 QĐ-TTg quyết định về đối tượng được
vay vốn là học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn theo học tại các trường
đại học (hoặc tương đương đại học), cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp và tại
các cơ sở đào tạo nghề được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật
Việt Nam, gồm:

3. Đối với học sinh, sinh viên từ năm thứ hai trở đi phải có xác nhận của nhà
trường về việc đang theo học tại trường và không bị xử phạt hành chính trở lên
về các hành vi: cờ bạc, nghiện hút, trộm cắp, buôn lậu.
2.2. Những mục tiêu của
ch
ƣ
ơng
trình cho sinh viên vay
vốn
Chương trình cho sinh viên vay vốn trên thế giới rất đa dạng. Nói về mục tiêu
thì có thể phân thành 5 mục
tiêu


bản sau đây:
Thứ nhât, mục tiêu xã hội (bình đẳng/ cơ hội tiếp cận cho người
nghèo)
- Các khoản vay nhằm vào đối tượng sinh viên có nhu cầu.
- Trợ cấp chéo: hỗ trợ sinh viên có nhu cầu bằng nguồn thu từ mức học phí
cao hơn.
- Tăng cơ hội tiếp cận giáo dục đại học, đảm bảo công bằng xã hội trong
giáo dục đại học.
Thứ hai, hỗ trợ sinh viên.
- Giảm bớt khó khăn về tài chính cho sinh viên trong quá trình học.
- Tăng cường trách nhiệm của sinh viên.
- Mang lại sự độc lập về tài chính cho sinh viên.
Thứ ba, mục tiêu ngân sách ( tạo thu nhập từ học phí)
- Tạo nguồn thu nhập cho các trường đại học công lập (do có thể tăng mức
học phí), nhằm đảm bảo mức chi phí đào tạo cho sinh viên trong một
năm tăng lên để duy trì chất lượng đào tạo.

t

i

ê u chính :
- Tăng cơ hội tiếp cận giáo dục đại học cho người nghèo, đảm bảo công bằng xã
hội trong giáo dục đại học. (mục tiêu thứ nhất)
- Đóng góp nhu cầu về nguồn nhân lực (mục tiêu thứ
năm)
Ở Việt Nam, chương trình hỗ trợ vốn cho học sinh, sinh viên được triển
khai từ năm 2007 với mục tiêu là không để học sinh, sinh viên nào bỏ học vì
không có tiền đóng học phí. Sau hơn 3 năm triển khai, hơn 2 triệu học sinh, sinh
viên con em gia đình khó khăn đã được vay vốn để tiếp tục học tập. Đây là một
chủ trương lớn, có ý nghĩa nhân văn sâu sắc góp phần tích cực cho việc đào tạo
nguồn nhân lực cho đất nước. Chương trình
sinh

viên
ở Việt Nam, qua chỉ thị số
21/2007/CT-TTg, mục tiêu chính là mục tiêu thứ nhất, tăng cơ hội tiếp cận giáo
dục đại học cho người nghèo, đảm bảo công bằng xã hội trong giáo dục đại học.
phụ :
Chương trình cho sinh viên vay vốn của Việt Nam, còn có cả mục tiêu
thứ hai, thứ ba ( tuy nó không phải là mục tiêu chính ), nghĩa là có cả “mục tiêu
chia sẻ chi phí”, chuyển bớt gánh nặng tài chính sang
cho

sinh
viên và gia
đình họ. Chương trình sinh viên vay vốn của Việt Nam hiện nay tương tự như
chương trình của Anh và Úc cách đây 10-15 năm, có mục đích thay đổi “cơ cấu
chia sẻ chi phí”
, và tạo điều kiện thuận lợi cho việc tăng học phí, tăng chi phí đơn vị ( chi phí đào
tạo 1 sinh viên trong thời gian học) để nâng cao chất lượng đào tạo.
2.3 Đánh giá
ch
ƣ
ơng
trình
 Những kết quả đạt
đ
ƣ
ợc.
Ngày 10/3/2011, tại Hà Nội, Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Thiện
Nhân đã chủ trì Hội nghị trực tuyến với 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
sơ kết ba năm thực hiện Chương trình tín dụng đối với học sinh, sinh viên (thực
hiện theo Quyết định số 157/2007/QĐ-TTg ngày 27 tháng 9 năm 2007 của Thủ
tướng Chính phủ).
Theo báo cáo, đến nay đã có hơn 2 triệu học sinh, sinh viên thuộc 1,8

phương đến học. Theo thống kê của ngành giáo dục thì chi phí cho một sinh viên
một năm học còn nhiều hơn cả học phí phải đóng hàng năm. Nếu nhìn một cách
tổng thể, số sinh viên xuất thân từ các vùng quê chủ yếu là thu nhập của gia đình
từ nông nghiệp thì khả năng chu cấp của gia đình cho sinh viên gặp rất nhiều khó
khăn, chưa kể các sinh viên ở vùng
sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo,…Nhờ chính sách tín dụng cho học sinh sinh
viên của Chính phủ, đã làm giảm bớt những khó khăn cho những trường hợp
này. Bên cạnh đó, chính sách này cũng giúp hạn chế được dịch vụ cho vay nặng
lãi phục vụ cho việc nhập trường hiện nay ở nông thôn và kể cả thành thị.
- Ngoài ra, chính sách này đã có những sự thay đổi, bổ sung, điều chỉnh
phù hợp và có lợi hơn cho các đối tượng được thụ hưởng.
+ Từ năm học này, về cơ bản chính sách không có nhiều thay đổi mà được
bổ sung thêm một số điều theo hướng giúp đỡ được đông đảo HSSV hơn. Cụ
thể, đối tượng được cho vay sẽ được mở rộng thêm các thành phần bộ đội phục
viên và HSSV nông thôn học nghề (trung cấp, cao đẳng nghề). Ngoài ra, những
trường hợp khó khăn về tài chính đột xuất sẽ được xem xét để vay trong vòng 12
tháng thay vì việc vay kéo dài từ khi khó khăn đến hết khi học như trước. Đồng
thời, trong chính sách năm nay cũng có những điểm mới như sau: Những hộ

nhu
cầu hoàn lại vốn, ngân hàng sẽ sẵn sàng phục vụ, thay vì phải chờ hết 4 năm
học như quy định
trước đây.
+ Theo quy định trước đây, HSSV ra trường sau một năm sẽ bắt đầu phải
thực hiện nghĩa vụ trả
lãi


trả dần gốc các khoản vay. Từ năm học này, đối
với trường hợp HSSV học xong đi thực hiện nghĩa vụ quân sự sẽ không bị tính

+ Thủ tục hành chính còn rườm rà, đòi hỏi nhiều loại giấy tờ từ phía nhà
trường và địa phương.
Sự

xác
nhận của các trường đại học, cao đẳng cũng vấp
phải những yêu cầu từ phía ngân hàng quá khắt khe,
những

nội
dung yêu cầu xác
nhận có khi ngoài tầm của trường đại học, cao đẳng, thí dụ: Xác nhận sinh viên
không nghiện hút, cờ bạc,…trong khi nhà trường không thể biết đầy đủ thông tin
này, đặc biệt là thông tin đối với các sinh viên hệ vừa làm vừa học (hệ tại
chức). Do vậy,
một số trường đại học, cao đẳng đã từ chối khéo việc cấp giấy xác nhận, đẩy
sinh viên vào tình trạng không thể vay vốn được vì không có chứng nhận của
trường.
+ Ngoài ra, mẫu giấy xác nhận cần thiết để vay vốn cũng không thống nhất
giữa các địa phương. Mẫu giấy xác nhận vay vốn được áp dụng theo quy định
của Bộ GD-ĐT, có kèm theo giấy cam kết trả nợ. Nhưng một số địa phương lại
không chấp nhận mẫu giấy xác nhận này, đồng thời họ còn quy định theo một
mẫu xác nhận khác của Ngân hàng Chính sách. Điều này khiến cho sinh viên
phải năm lần bảy lượt chạy đi chạy lại xin
làm

xác
nhận, nhiều trường hợp thủ
tục quá rườm rà và khắt khe khiến người vay nản nên bỏ luôn việc vay vốn.
- Thứ hai, công tác quản lý và thu hồi vốn còn gặp nhiều khó khăn.

khó khăn cho sinh viên, điều này sẽ gây cho ngân hàng chính sách xã hội những
áp lực khi thu hồi vốn và lãi. Số dư nợ từng người đối với ngân hàng là không
lớn, nhưng vì nhiều người vay, do vậy tổng dư nợ sẽ tăng, càng làm cho khả năng
thu hồi vốn của
ngân

hàng
bị hạn chế. Hơn nữa, nếu người vay không trả được
nợ do sự di chuyển địa chỉ nơi cư trú, do chưa tìm kiếm được việc làm để có
thu nhập trả nợ…cũng sẽ làm tăng những khó khăn cho các ngân hàng.
- Thứ ba, còn tình trạng cho vay không đúng đối tượng.
Đối tượng thụ hưởng của Chương trình cho vay học sinh, sinh viên theo
Quyết định 157/2007/QĐ-TTg trải rộng đã dẫn đến những khó khăn nhất định
trong việc xác định hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ gia đình có hoàn cảnh khó khăn
về tài chính của Ủy ban Nhân dân địa phương. Mặc dù cơ chế dân chủ
(cho

dân
bình bầu hộ nghèo) nhưng một số địa phương triển khai chưa đến nơi đến chốn,
dẫn đến việc xác định đối tượng chưa chính xác. Đặc biệt, việc xác định đối
tượng nghèo và cận nghèo mang tính định tính, nên một số địa phương làm tắt
theo kiểu tạo điều kiện cho tất cả sinh viên đều được vay. Trái lại, một số địa
phương chạy theo bệnh thành tích, nên mỗi địa phương chỉ đưa ra một số hộ
nghèo nhất định, khiến nhiều học sinh, sinh viên không được vay vốn mặc dù
gia đình có hoàn cảnh khó khăn và thuộc diện được vay vốn. Điều đó chưa phù
hợp với những chính sách của Nhà nước và cũng làm cho các đối tượng được thụ
hưởng chính sách này chưa được xác định đúng.
- Thứ tư, nguồn vốn cho vay còn thiếu.
Mức độ cho vay trong chính sách này phụ thuộc phần lớn vào mức độ
hoàn vốn của nó, vì nguồn vốn bổ sung hầu như rất ít hoặc không có. Tuy nhiên,


óm
lại:
Sau một thời gian triển khai và thực hiện, mặc dù còn có những khó khăn
và hạn chế nhất định, song chính sách tín dụng đối với HS, SV đã thực sự là
chính sách đầu tư có chiều sâu, dài hạn, có hiệu quả để phát triển nguồn nhân lực,
đào tạo
nhân tài. Trong thời gian tới, cần có những giải pháp để chính sách này phát
huy được nhiều tác dụng hơn


hạn
chế được những nhược điểm vẫn còn tồn tại.
III. CÁC KIẾN NGHỊ CHO CHÍNH SÁCH TÍN DỤNG ĐỐI VỚI HỌC
SINH, SINH VIÊN.
1.Triển khai cho vay vốn đi du học nước ngoài
Cùng với chính sách cho học sinh, sinh viên vay vốn học tập trong nước,
Nhà nước cần sớm triển khai cho vay vốn đi du học ở nước ngoài. Mức vay có
thể bằng 40% - 100% nhu cầu đóng học phí tại nước đi du học. Việc cho vay gắn
với trách nhiệm gia đình tại Việt Nam và trách nhiệm của sinh viên sau khi hoàn
thành khóa học đối với đất nước, không nhất thiết người đi du học sau khi tốt
nghiệp phải về nước làm việc ngay mà có thể được phép làm việc ở nước ngoài
khoảng 3 – 5 năm.
Nhà nước có thể dành mỗi năm khoảng 500 – 800 chỉ tiêu được vay vốn
đóng học phí và hỗ trợ chi phí đi học ở nước ngoài cho những học sinh đạt
điểm cao trong các kỳ thi tuyển sinh đại học ở tất cả các khối đào tạo theo
những quy định cụ thể. Phần hỗ trợ chi phí đó không phải trả lãi, có thể phải
hoàn lại
hoặc không
phải hoàn lại phù hợp với các tiêu chí được đưa ra từ đầu.

khác, của chính phủ các nước, tạo nguồn vốn cho Ngân hàng chính sách xã hội
thực hiện chính sách tín dụng học tập. Công tác trên cần được hỗ trợ bằng việc
tăng cường đào tạo tiếng Anh, trợ giúp sinh viên học tiếng Anh, nhất là sinh viên
các gia đình có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, đáp ứng yêu cầu của các nước tiếp
nhận sinh viên đến học tập.
4. Điều chỉnh mức vay phù hợp với tình hình thực tế và với từng đối tượng sinh
viên
Về mức vay, hiện nay mức vay đối với sinh viên đã được nâng lên
900.000 đồng/người/tháng, tăng hơn so với mức vay bình quân 860.000 đồng của
năm học
2009 – 2010 và tăng mạnh hơn so với mức được vay trước đây (300.000
đồng/tháng). Tuy nhiên, mức vay mới đó vẫn rất thấp so với chi phí thực tế,
phổ biến của sinh viên, nhất là đối với sinh viên học tại Hà Nội và Thành phố
Hồ Chí Minh. Việc điều chỉnh mức cho vay cũng cần phù hợp với mức học phí
được điều chỉnh theo nhóm ngành học. Đồng thời, Nhà nước nên mở rộng sang
các đối tượng có thu nhập trung bình, có nhu cầu vay vốn học tập, miễn là số
tiền đó được chia đều cho các kỳ đóng tiền và chuyển thẳng cho cơ sở đào tạo.
Mức vay đối với các gia đình nghèo, gia đình cận nghèo, gia đình không thuộc
diện trên nhưng có hoàn cảnh khó khăn hay có nhu cầu vay, cũng cần có sự
khác nhau. Số tiền giải ngân mỗi đợt cũng cần phù hợp với từng đối tượng.
Thực tế hiện nay, nhiều gia đình được xếp loại trung bình, nhưng khi có
1 hay 2 người con học đại học, cao đẳng và dạy nghề, thì lại rơi vào hoàn cảnh
hết sức khó khăn. Khó khăn về tài chính dễ buộc con em họ phải thôi học. Theo số
liệu của NHCSXH, từ năm 2008 đến tháng 6-2009, đối tượng gặp khó khăn đột
xuất về tài chính chiếm 15% trong tổng số sinh viên được vay vốn ưu đãi học tập,
tỷ lệ này hiện nay khoảng 20%. Song, thiết nghĩ nên mở rộng tỷ lệ này, đơn
giản hơn nữa thủ tục cho vay đối với những gia đình có con em đi học gặp khó
khăn về tài chính, kéo dài hơn thời gian cho vay tín dụng học tập (không chỉ quy
định là 12 tháng mà cần tăng lên 24 tháng hay đến khi tốt nghiệp).
5. Mở rộng phạm vi chính sách nhằm hỗ trợ các trường đại học nâng cao điều kiện

n
Có thể khẳng định chính sách tín dụng cho học sinh – sinh viên là một
kênh đầu tư vốn ngân sách nhà nước có hiệu quả kinh tế – xã hội rộng lớn. Song,
thông qua chính sách tín dụng này ngân sách nhà nước không bao cấp cho cả
người vay lẫn Ngân hàng chính sách xã hội. Bởi vì người vay vốn vẫn phải có
trách nhiệm trả nợ cả gốc và lãi sau khi đã tốt nghiệp, đi làm việc có nguồn thu
nhập, đồng thời để có nguồn vốn tiếp tục cho sinh viên khác vay. Tuy nhiên,
chính sách này có ưu đãi về lãi suất và thời gian ân hạn về trả nợ. Phù hợp với
diễn
biến

của
thực tế, chính sách tín dụng học tập và các giải pháp tài chính khác
đi kèm cần được tiếp tục hoàn thiện, bổ
sung
để đạt được các mục tiêu trước mắt
cũng như lâu dài như đã đề cập.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status