BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC
KHOA
Luận văn
Thực trạng và giải pháp
nhằm hoạch định chiến lược
kinh doanh tại Công ty xi
măng và xây dựng công
trình Lạng Sơn Luận văn tốt nghiệp
LỜI NÓI ĐẦU
Ở nước ta, từ khi chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế kế hoach hoá tập
trung sang cơ chế thị trường, các doanh nghiệp đã rất lúng túng trong công tác
hoạch định chiến lược. Các doanh nghiệp cần thiết phải hoạch định và triển
khai một công cụ kế hoạch hoá mới có đủ tính linh hoạt để ứng phó với
những thay đổi của thị trường. Chiến lược kinh doanh được xây dựng trên cơ
sở phân tích và dự đoán các cơ hội, nguy cơ, điểm mạnh, điểm yếu của doanh
nghiệp, giúp cho doanh nghiệp có được những thông tin tổng quát về môi
nhà nước thành lập vào tháng 10 năm 1960 lấy tên là xí nghiệp Vôi Phai
Duốc trực thuộc Ty kiến trúc Tỉnh Lạng Sơn (Sở Xây Dựng). Nhiệm vụ là sản
xuất vôi với quy mô nhỏ, số lượng công nhân viên chỉ có vài chục người.
Đến năm 1972 Ty kiến trúc tỉnh Lạng Sơn quyết định sáp nhập xí
nghiệp với đội cơ giới đá Hồng Phong lấy tên là “Xí Nghiệp Vôi Đá”, lúc này
ngoài nhiệm vụ sản xuất vôi , xí nghiệp còn sản xuất đá các loại , số lượng
công nhân viên đã tăng lên trên 100 người.
Đầu năm 1978 Tỉnh uỷ, UBND Tỉnh Lạng Sơn có chủ trương mở rộng
mặt bằng xí nghiệp, lập dự án xây dựng một phân xưởng sản xuất xi măng lò
đứng P300. Cuối năm 1978 “Xí Nghiệp Vôi Đá” được đổi tên thành “Xí
Nghiệp Sản Xuất Vật Liệu Xây Dựng”.
Năm 1991 “Xí Nghiệp Sản Xuất Vật Liệu Xây Dựng” được đổi tên thành
“Nhà Máy Xi Măng Lạng Sơn”. Sản lượng sản xuất xi măng ngày một tăng
và trở thành sản phẩm chủ đạo của đơn vị.
Tháng 5 năm 2002, công ty đã đổi tên thành “Công ty xi măng và xây
dựng công trình Lạng Sơn”. Lúc nay nhiệm vụ của công ty là sản xuất sản
phẩm xi măng và các sản phẩm khác đồng thời tham gia xây dựng các công
trình trong toàn tỉnh.
Tên giao dịch: Công ty Xi măng và Xây dựng công trình Lạng Sơn.
Trụ sở: Thành Phố Lạng Sơn - Tỉnh Lạng Sơn.
Điện thoại: 025.878.425
2. Chức năng, nhiệm vụ của Công ty :
Công ty có các chức năng, nhiệm vụ cụ thể sau:
Luận văn tốt nghiệp
3
- Thực hiện chế độ hạch toán độc lập tự chủ về tài chính.
- Xây dựng và tổ chức thực hiện có hiệu quả các kế hoạch của Công ty.
- Quản lý và sử dụng vốn kinh doanh đúng chế độ chính sách hiện hành
- Phòng kỹ thuật KCS: Thực hiện công tác quản lý kỹ thuật sản xuất,
giám sát kỹ thuật, kiểm tra chất lượng NVL đầu vào và quản lý chất lượng sản
phẩm đầu ra của nhà máy.
- Phòng kế toán tài vụ: Quản lý công tác tài chính đảm bảo tiền vốn một
cách kịp thời phục vị sản xuất kinh doanh, hạch toán kế toán chính xác kết
quả kinh doanh của đơn vị.
- Phân xưởng liệu: Có nhiệm vụ sản xuất bột phối liệu.
- Phân xưởng lò: Có nhiệm vụ sản xuất clinke- nửa thành phẩm.
- Phân xưởng khai thác đá: Có nhiệm vụ sản xuất đá hộc, đá dăm , là
nguyên liệu cho sản xuất xi măng.
- Phân xưởng thành phẩm: Có nhiệm vụ sản xuất xi măng rời và xi măng bao.
- Phân xưởng cơ điện: Có nhiệm vụ sửa chữa, kiểm tra, bảo dưỡng thiết
bị sản xuất toàn nhà máy.
- Phân xưởng gạch bê tông: Có nhiệm vụ ssản xuất gạch bê tông, cột
điện. Tình hình tổ chức bộ máy của công ty được thể hiện ở sơ đồ 2.
Báo cáo thực tập Công ty Xi măng và Xây dựng công trình
Lạng Sơn
5
SƠ ĐỒ 1 : CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA CÔNG TY XI MĂNG VÀ XDCT LẠNG SƠN
PX
Khai
thác
đá
PX
lò
PX
Liệu
PX bê
Tông
đúc
sẵn
PX
Thành
Phẩm
PX
Cơ
điện
Luận văn tốt nghiệp
3.2. Cơ cấu lao động
Nói chung lực lượng lao động của Công ty Xi măng và Xây dựng công
trình Lạng Sơn trong nhiều năm gần đây có xu hướng giảm dần về mặt số
lượng và cơ cấu cũng có những thay đổi theo một chiều hướng nhất định.
Một số bảng cấu lao động của Công ty Xi măng và Xây dựng công
trình Lạng Sơn như sau:
+ Theo tính chất lao động :
Bảng 1. Phân loại lao động theo tính chất
Tiêu thức Năm 2002 Năm 2003 Năm 2004
Lao động trực tiếp 525
THCN 35
18
11
Cao đẳng, ĐH và
trên đại học
115
118
121
( Nguồn: Phòng tổ chức - hành chính )
Qua đây ta thấy rằng trình độ lao động chủ yếu trong công ty là CNKT
chiếm số đông, số lượng lao đông trình độ THCN chiếm số lượng ít, và đều
đang ở xu hướng giảm dần qua từng năm với mức ổn định. Bên cạnh đó
lượng lao động ở trình độ Cao đẳng, ĐH và trên ĐH ngày càng tăng điều này
thể hiện mức độ cải tạo cơ cấu trình độ cán bộ công nhân viên chức trong
công ty. Lực lượng này tăng đều tương ứng với tăng lao động gián tiếp. Tuy
vậy mặt bằng chung về trình độ lao động của công ty là tương đối thấp, hầu
Luận văn tốt nghiệp
hết là những CNKT. Điều này thể hiện tính chất công việc không đòi hỏi cao
trong sản xuất kinh doanh, những người có trình độ cao thường trong tổ chức
bộ máy quản lý của công ty.
Tóm lại, tình trạng lao động của công ty hiện nay đang có xu hướng
giảm đó là do công ty đang có chiến lược mới trong kinh doanh nên từng
bước giảm dần lực lượng lao động gián tiếp thay vào những lao động trực
414,67
606,35
+33,35
+8,75
+191,68
+46,2
3. Thu nhập bình quân
(người/tháng/ngàn đồng) 900
1000
1200
+100
+11,1
+200
+20,0
4. Lợi nhuận (tỷ đồng) 1,372
1,482
So sánh 03/02
So sánh 04/03
Luận văn tốt nghiệp
đồng/người/tháng thì đến năm 2004 đã là 1200 nghìn đồng/người/tháng. Qua
số liệu về lợi nhuận của công ty ta thấy chỉ tiêu này cũng tăng cụ thể năm
2003 tăng 0,11 tỷ đồng so với năm 2002 tương ứng với 8,01%, lợi nhuận năm
2004 tăng 0,7 tỷ đồng so với năm 2003 tương ứng 47,2%. Điều đó chứng tỏ
công ty đang từng bước đi vào phát triển mạnh, đời sống người lao động được
nâng cao.
II. MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ - KỸ THUẬT ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG TÁC
HOẠCH ĐỊNH VÀ THỰC HIỆN CHIẾN LƯỢC CỦA CÔNG TY XI MĂNG VÀ
XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH LẠNG SƠN
1. Đặc điểm tổ chức sản xuất.
Công ty Xi Măng và XDCT Lạng Sơn là đơn vị sản xuất công nghiệp,
sản phẩm của nhà máy mang hình thái vật chất cụ thể. Trong đó sản phẩm
chính là xi măng, sản phẩm phụ gồm: vôi cục, ngói xi măng, gạch lát, bê tông,
gạch bê tông, gạch 30*30, đá xây dựng.
Trong công ty ngoài bộ máy quản lý còn có các phân xưởng sản xuất
như: phân xưởng liệu, phân xưởng lò, phân xưởng thành phẩm, phân xưởng
cơ điện, phân xưởng khai thác đá, và phân xưởng sản xuất bê tông.
Đối với phân xưởng liệu có nhiệm vụ sản xuất bột phối liệu, số người
trong phân xưởng khoảng 50 người.Trong đó có một quản đốc phân xưởng,
hai phó quản đốc phân xưởng, hai thống kê và ba tổ trưởng, làm ba ca liên
tục.
Đối với phân xưởng lò có nhiệm vụ sản xuất clinke, số người trong phân
xưởng khoảng 53 người. Trong đó có một quản đốc phân xưởng, ba phó quản
đốc phân xưởng, một thống kê và sáu tổ trưởng, làm ba ca liên tục.
Sơ đồ 2: Sơ đồ quy trình công nghệ sản xuất xi măng
ở công ty xi măng và XDCT Lạng Sơn Vê viên nung Đo Đập Silô Silô VL Silô
Trộn ẩm clinke Lường Clinke Clinke hỗn hợp thạch cao
Đất sét
Si lô
than
Si lô
đ
ấ
t
sét
Qu
ặ
ng ba
rít
Ph
ố
i li
ệ
u b
ằ
ng cân
đ
i
ệ
n t
ử
t
ử
Gầu
nâng
14,5 tấn / giờ máy và 2 cái năng suất thiết kế 16 tấn / giờ máy.
- 3 Máy nghiền đóng bao năng suất 34 tấn / giờ máy.
- Phương tiện vận tải :
- 3 Máy cán đá trong đó : 2 cái với công suất 40 tấn / giờ cái và 1 cái
80 tấn giờ cái
- 2 Máy xúc
- Cầu trục 10 tấn x 9 cái
-
Cần trục 10 tấn x 2 cái
Nhìn chung, hệ thống máy móc thiết bị trong Công ty đa dạng về chủng
loại, đầy đủ về số lượng đảm bảo cho vận hành dây chuyền sản xuất 85.000
tấn xi măng một năm.
4. Đặc điểm về nguyên vật liệu
Đối với Công ty Xi măng và Xây dựng công trình Lạng Sơn , sản xuất
theo công qui trình công nghệ khép kín do đó yêu cầu thời gian sản xuất liên
tục suốt ngày đêm, chỉ khi nào thiết bị trong dây chuyền công nghệ bị sự cố
hoặc dừng sửa chữa theo định kỳ thì mới ngừng hoạt động.
Chủng loại vật tư phục vụ sản xuất xi măng bao gồm :
- Nguyên vật liệu chính :
+ Đá vôi; Đất sét ; Quặng sắt; Quỳ khê; Phụ gia; Thạch cao;
- Nguyên vật liệu phụ :
Luận văn tốt nghiệp
+ Gạch ngoại; Gạch nội; Gạch Cao nhuôm;Bi đạn dùng cho máy
nghiền; Vỏ bao ; Dầu nhờn, mỡ máy
- Nhiên liệu : Than cám Hòn Gai; dầu MFO ; dầu Diezel ; xăng
- Năng lượng : Điện
- Các thiết bị phụ tùng thay thế và các chủng loại vật tư dùng trong
có thể dễ dàng thấy rằng thị trường chính của công ty là những thị trường
truyền thống mà công ty có sự uy tín, trách nhiệm cao.
Bảng 5: Bảng phân phối sản phẩm ra thị trường theo địa lý như sau
Các sản phẩm chủ yếu
Thị trường tiêu thụ
1. Xi măng đen
Lạng Sơn, Thái bình và 6 tỉnh phía bắc (Vĩnh
phúc, Phú thọ, Yên bái, Lào cai, Hà Giang và
Luận văn tốt nghiệp
Tiên quang.)
3. Clinker Lạng Sơn, Thái bình, Hà nội, …
(Nguồn: Phòng kinh doanh)
Có thể nói thị trường tiêu thụ xi măng Lạng Sơn là trung bình, chủ yếu
là thị trường truyền thống của công ty. Thị trường này tiêu thụ gần 80% tổng
sản phẩm của công ty sản xuất ra trong đó riêng thị trường Lạng Sơn và một
số vùng lân cận chiếm gần 60%. Chính từ đặc điểm của thị trường phân phối,
ta thấy lượng khách hàng tiêu dùng sản phẩm xi măng Lạng Sơn chủ yếu là
những khách hàng quen thuộc.
7. Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh thông qua một số chỉ tiêu tổng hợp
Để đánh giá một cách chính xác toàn diện về thực trạng kinh doanh của
công ty ta phải đi sâu phân tích một số chỉ tiêu tài chính của công ty từ đó tìm
ra nguyên nhân giải pháp hữu hiệu để nâng cao hiệu quả kinh doanh của công
ty. Sau đây ta đi đánh giá chỉ tiêu về: Tỷ suất lợi nhuận theo doanh thu
Tỷ suất lợi nhuận theo doanh thu =
îc®t¹®thuDoanh
nhuËnLîi
Chỉ tiêu này cho biết cứ một đồng doanh thu có thể mang lại bao nhiêu
đồng lợi nhuận. Tỷ suất lợi nhuận càng cao thì hiệu quả kinh doanh của doanh
+0,700 +47,2
Tỷ suất Lợi nhuận/Doanh thu
0,089
0,084
0,091 -0,005 -5,6 +0,007
+8,3
Theo bảng trên ta thấy năm 2004 là năm có tỷ suất lợi nhuận theo
doanh thu cao nhất và năm 2003 là thấp nhất. Cụ thể năm 2002 công ty giữ
Luận văn tốt nghiệp
được 0,091 tỷ đồng, năm 2003 công ty còn giữ được 0,084 tỷ đồng và đến
năm 2004 công ty đã giữ được 0,091 tỷ đồng. Qua phân tích như trên ta thấy
chỉ tiêu này của công ty biến đổi thất thường. Chứng tỏ công ty vẫn chưa có
phương án sử dụng vốn lưu động một cách hợp lý dẫn tới hiệu quả sinh lời
thấp nó phụ thuộc quá nhiều vào các yếu tố khách quan, luôn biến động với
cường độ khá lớn. Công ty cần có những biện pháp hợp lý để ổn định tốc độ
tăng trưởng của chỉ tiêu này.
III. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÂY DỰNG VÀ THỰC HIỆN CHIẾN LƯỢC
CỦA CÔNG TY XI MĂNG VÀ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH LẠNG SƠN
1. Xác định mục tiêu
Sau khi dựa vào các căn cứ trên, phòng kế hoạch đưa ra các mục tiêu,
nhiệm vụ phải thực hiện. Các mục tiêu được cụ thể hoá bằng hệ thống các chỉ
tiêu: Doanh thu, sản lượng, lợi nhuận, nộp ngân sách
Tại Công ty có 3 loại mục tiêu là: Mục tiêu dài hạn, trung hạn và ngắn hạn
Mục tiêu chiến lược của Công ty đến năm 2015
- Phát triển quy mô sản xuất lên 3 triệu tấn xi măng một năm, tiếp tục phát
triển công ty thành một tập đoàn kinh tế đủ sức vửân xuất xi măng, vừa thực
2005
2010
2015
1. Tổng doanh thu :
13
45
50
Sản xuất
10
40
45
Dịch vụ
Tỷ VND
3
5
5
2. Sản phẩm chủ yếu
2.000
3.000
+ Vật liệu xây dựng Triệu
VND 1.000
2.500
3.500
3. Tổng số lao động:
Người
600
1000
1.100
- Trực tiếp
500
800
850
- Gián tiếp
Luận văn tốt nghiệp
- Xây dựng cơ bản
- Đầu tư KHKT
1.000
900
2.000
800
2.000
800
( Nguồn: Phòng kế hoạch - kỹ thuật )
Như vậy, Công ty đã xác định mục tiêu phát triển đến năm 2015. Trong
đó nêu rõ các mục tiêu về sản lượng, doanh thu, lao động, đầu tư Đây chỉ là
các mục tiêu đề ra, để thực hiện được các mục tiêu này, Công ty cần phải phân
tích rõ môi trường kinh doanh, các nguồn lực hiện có, và xu hướng phát triển.
Từ đó, Công ty lập chiến lược và kế hoạch hành động cụ thể.
2. Phân tích môi trường
2.1. Phân tích môi trường bên ngoài
2.1.1. Môi trường quốc tế:
Ngày nay, xu hướng hội nhập (toàn cầu hoá, khu vực hoá) là xu hướng
chung của toàn thế giới. Sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia nói chung và
mỗi doanh nghiệp nói riêng đều có ít nhiều chịu ảnh hưởng của môi trường
và 40,29 USD
B
Singapre 37,00 USD
R
Đài Loan 47,33 USD
R
và 54,50 USD
B
Thái Lan 66,16 USD
R
và 69,59 USD
B
Luận văn tốt nghiệp
Việt Nam 50-52 USD
RB
và 60-62 USD
B
( Nguồn: Tạp chí xây dựng số 12/2004)
-( 1 USD = 8,3 NDT; USD
R
giá xi măng rời; USD
B
giá xi măng bao)
Đây là yếu tố bất lợi khi nước ta bước vào hội nhập khu vực và thế giới.
nghiệp vật liệu xây dựng tăng trưởng hàng năm từ 21% đến 23% ( giá trị sản
xuất công nghiệp vật liệu xây dựng năm 2001 là 27.212 tỷ đồng và dự kiến
năm 2002 là 33.076 tỷ đồng). Trong đó, xi măng tăng từ 11,8 triệu tấn (1999)
lên 16,18 triệu tấn (2001) và 17,61 triệu tấn (2002).
Dựa trên chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2001 - 2010, Nhà
nước đã xây dựng các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội như sau:
- Đưa GDP năm 2005 lên gấp đôi năm 1995 và GDP năm 2010 tăn gấp đôi
năm 2000, trong đó giá trị tăng thêm của công nghiệp và xây dựng tăng bình
quân 10-10,5%
- Đảm bảo tích luỹ nội bộ nền kinh tế đạt trên 30% GDP.
- Tỷ trọng trong GDP của công nghiệp là 38 - 39% vào năm 2005 và 40 -
41% vào năm 2010.
- Tỷ trọng lao động công nghiệp trong tổng số lao động tăng lên 20 - 21%
vào năm 2005 và 23 - 24% vào năm 2010.
Theo đó, nhu cầu về xi măng đến năm 2005 sẽ là 29,1 triệu tấn và đến 48,6
triệu tấn vào năm 2010. Nhu cầu về xi măng tăng kéo theo nhu cầu về phụ gia
xi măng cũng tăng.
Song việc Việt Nam kí kết Hiệp định thương mại Việt - Mỹ và tham
gia vào các thoả thuận khu vực thương mại tự do theo lộ trình CEPT/AFTA
sẽ gây cho ngành công nghiệp phụ gia xi măng nói chung và Công ty Khoáng
sản-Xây dựng-Phụ gia xi măng Thanh Hoá nói riêng không ít khó khăn. Theo
đúng lộ trình, đến năm 2006, ngành công nghiệp xi măng phải hội nhập
AFTA. Bên cạnh sự cạnh tranh về chất lượng sản phẩm thì giá thành xi măng
của ta cũng cao hơn nhiều nước trong khu vực. Do đó, để cạnh tranh các
doanh nghiệp sản xuất xi măng phải tìm cách giảm giá thành. Điều này sẽ kéo
theo giá phụ gia xi măng cũng phải giảm.
Như vậy, với tình hình kinh tế vĩ mô hiện nay và xu hướng trong tương
lai thì vừa đem lại những cơ hội, thuận lợi cho ngành công nghiệp phụ gia xi
măng nói chung và Công ty xây dựng công trình Lạng Sơn nói riêng: nhu cầu
Luận văn tốt nghiệp
Luận văn tốt nghiệp
giàu có, đi trước thiên hạ Ngày nay, truyền thống Đại gia đình không còn
nhiều, hầu hết con cái sau khi lập gia đình đều không muốn ở chung với bố
mẹ. Do đó, nhu cầu về nhà ở tăng lên. Như vậy, sự thay đổi truyền thống này
sẽ kích cầu tiêu thụ sản phẩm của Công ty.
Cùng với sự phát triển của xã hội, trình độ dân trí của Việt Nam ngày
một được nâng cao hơn. Điều này sẽ tạo điều kiện cho Công ty có nguồn lao
động có trình độ quản lý, kỹ thuật, có đội ngũ công nhân có trình độ bậc thợ
cao
* Các yếu tố kỹ thuật - công nghệ
Ngày nay, yếu tố công nghệ có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự phát
triển của mỗi quốc gia, mỗi doanh nghiệp. Công nghệ có tác động quyết định
đến 2 yếu tố cơ bản tạo nên khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp: chất
lượng và chi phí cá biệt của sản phẩm, dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp cho
thị trường. Song để thay đổi công nghệ không phải dẽ. Nó đòi hỏi doanh
nghiệp cần phải đảm bảo nhiều yếu tố khác như: trình độ lao động phải phù
hợp, đủ năng lực tài chính, Với Công ty Xi măng và Xây dựng công trình
Lạng Sơn, đây vừa là điều kiện thuận lợi vừa tạo ra những khó khăn: sự phát
triển của công nghệ giúp Công ty có điều kiện lựa chọn công nghệ phù hợp để
nâng cao chất lượng sản phẩm, năng suất lao động, nhưng khó khăn cho Công
ty là hầu hết lao động của Công ty đều là lao động phổ thông, trình độ thấp.
Mặt khác, khi áp dụng công nghệ mới, sử dụng máy móc thì lượng lượng lớn
của Công ty hiện nay sẽ giải quyết như thế nào? Vì vậy, khi hoạch định chiến
lược kinh doanh Công ty cần phải chú ý đến vấn đề này.
* Yếu tố tự nhiên
Yếu tố tự nhiên bao gồm: vị trí địa lý, khí hậu, thời tiết Yếu tố này ảnh
hưởng đến chất lượng các mỏ đá bazan, quặng sắt. Các mỏ ở vị trí địa lý khác
nhau sẽ có thành phần hoá học trong quặng sắt, đá bazan không giống nhau.
Mặt khác, thời tiết cũng ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm. Chẳng hạn,
khác nhau dang khan hiếm. Do vậy đây là một thị trường rất thu hút, tỷ suất
lợi nhuận cao. Do vậy, nhiều doanh nghiệp đang muốn gia nhập thị trường
này. Các doanh nghiệp muốn gia nhập thị trường này chủ yếu là những doanh
nghiệp trong lĩnh vực xây dựng muốn thực hiện chiến lược hội nhập dọc một
chiều để chủ động xi măng cho quá trình sản xuất. Các đối thủ này phải có
Luận văn tốt nghiệp
các lợi thế là ở gần các nguồn nguyên liệu đá, vôi Các đối thủ tiềm ẩn có thể
là Công ty Coma, Công ty Vinaconex ngoài ra là những Công ty đã được
chính phủ cho phép đầu tư xây dựng khác.
Bảng 9: Các nhà máy được Chính Phủ phê duyệt cho phép đầu tư xây dựng
Tên nhà máy
Công suất thiết kế
( tấn clinker/ngày)
Xi măng Sông Giang 4.000
Xi măng Thái Nguyên 4.000
Xi măng Hạ Long 5.500
Xi măng Thăng Long 6.000
Xi măng Cẩm Phả 6.000
Xi măng Bình Phước 5.500
Xi măng Hoàng Thạch III 4.000
( Nguồn: Tạp chí xây dựng số 1/2003)
Cần lưu ý rằng, đối với các thị trường xa (Xi măng Hải Phòng, )
cước vận chuyển sẽ làm đội giá thành phụ gia xi măng. Vì vậy, để thâm nhập
thị trường này Công ty cần phải có biện pháp hạ giá thành sản phẩm.
2.2.4. Đối thủ cạnh tranh
Công ty là một trong số ít các công ty trong nước sản xuất và cung cấp xi
măng trắng. Đến nay, Công ty đã phải cạnh tranh với nhiều đối thủ. Các đối
thủ trong cùng ngành của Công ty bao gồm: Xi măng Bút sơn, Hoàng Thạch,
Hải Phòng, Chinfon,
Hiện nay, Công ty không có bộ phận marketing. Các hoạt động
marketing đều do phòng kế hoạch - kỹ thuật đảm nhận. Song các hoạt động
này hiện nay còn rất yếu. Các hoạt động nghiên cứu thị trường (tìm hiểu các
chính sách, chiến lược của đối thủ cạnh tranh; nhu cầu khách hàng ), xúc tiến
bán hàng hầu như là không có. Việc chăm sóc khách hàng không thường
xuyên. Công ty đã để mất dần uy tín đối với khách hàng truyền thống và để
cho đối thủ cạnh tranh xâm nhập vào. Việc tìm kiếm khách hàng mới, mở
rộng thị trường cũng không được xem xét nhiều. Nhìn chung, hoạt động
marketing của Công ty chưa được quan tâm nhiều, yếu kém.
3. Phân tích môi trường theo SWOT
Để hình thành các ý tưởng chiến lược trên cơ sở cơ hội, nguy co, mạnh,
yếu cần sử dụng ma trận cơ hội - nguy cơ - điểm mạnh - điểm yếu ( SWOT ).
Ma trận SWOT là một ma trận mà trục tung mô tả các điểm mạnh, điểm yếu
và trục hoành mô tả các cơ hội, nguy cơ đối vơi hoạt động kinh doanh của