BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM
TRẦN ANH ĐÀO
Chuyên ngành: THƯƠNG MẠI
Mã số: 60.34.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. TRIỆU HỒNG CẨM TP. Hồ Chí Minh - Năm 2009
- i -
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Quý Thầy, Cô Khoa Thương Mại Du Lịch
và Khoa Sau Đại học của trường Đại Học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh đã trang
bị cho tôi những kiến thức quý báu, giúp tôi tiếp cận tư duy khoa học để phục vụ tốt
cho công tác và cuộc sống.
Xin chân thành cảm ơn Tiến sĩ Triệu Hồng Cẩm đã tận tình hướng dẫn tôi thực hiện
luận văn này. Trong quá trình nghiên cứu thực hiện, dưới sự hướng dẫn khoa học
của Cô, tôi đã học hỏi được những kiến thức và phương pháp nghiên cứu khoa học
bổ ích.
Trần Anh Đào
Trần Anh Đào – Luận văn Thạc sỹ Kinh tế: Các giải pháp phát triển nghiệp vụ
bảo hiểm hàng hải cho các công ty bảo hiểm Việt Nam trong thời kỳ hậu WTO
- iii -
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
LỜI CAM ĐOAN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU viii
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ viii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT ix
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1. Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI 1
2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1
3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI ĐỀ TÀI 2
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2
5. TÍNH MỚI CỦA ĐỀ TÀI 2
6. BỐ CỤC 3
6.1 Chương 1: Lý thuyết về bảo hiểm hàng hải 3
6.2 Chương 2: Thực trạng và phân tích SWOT đối với công tác kinh
doanh bảo hiểm hàng hải tại các công ty bảo hiểm Việt Nam khi
Việt Nam gia nhập WTO 3
6.3 Chương 3: Đề xuất giải pháp và kiến nghị 3
CHƯƠNG 1: LÝ THUYẾT VỀ BẢO HIỂM HÀNG HẢI 4
1.1 LỊCH SỬ BẢO HIỂM HÀNG HẢI 4
1.2 VAI TRÒ CỦA BẢO HIỂM HÀNG HẢI 7
1.2.1 Bù đắp những thiệt hại mất mát vật chất cho người được bảo hiểm 7
1.7 KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM HÀNG HẢI Ở
MỘT SỐ NƯỚC 27
1.7.1 Lịch sử phát triển bảo hiểm hàng hải ở Trung Quốc 27
1.7.2 Lịch sử phát triển bảo hiểm hàng hải ở Ấn Độ 28
Trần Anh Đào – Luận văn Thạc sỹ Kinh tế: Các giải pháp phát triển nghiệp vụ
bảo hiểm hàng hải cho các công ty bảo hiểm Việt Nam trong thời kỳ hậu WTO
- v -
1.7.3
Kinh nghiệm phát triển của các công ty bảo hiểm nội địa Trung
Quốc và Ấn độ sau khi gia nhập WTO 29
1.7.4 Các bài học có thể áp dụng cho Việt Nam 33
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ PHÂN TÍCH SWOT ĐỐI VỚI CÔNG
TÁC KINH DOANH BẢO HIỂM HÀNG HẢI TẠI CÁC
CÔNG TY BẢO HIỂM VIỆT NAM KHI VIỆT NAM GIA
NHẬP WTO 37
2.1 KHÁI QUÁT VỀ THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM HÀNG HẢI CỦA VIỆT
NAM 37
2.1.1 Sự hình thành và phát triển 37
2.1.2 Thành phần tham gia thị trường bảo hiểm hàng hải: 38
2.1.3 Kết qủa kinh doanh của thị trường: 40
2.2 PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG BẢO HIỂM HÀNG HẢI CỦA VIỆT NAM 46
2.2.1 Tình hình kinh doanh bảo hiểm hàng hóa: 46
2.2.2 Tình hình kinh doanh bảo hiểm tàu biển: 50
2.3 PHÂN TÍCH SWOT ĐỐI VỚI CÁC CÔNG TY BH VIỆT NAM KHI
VIỆT NAM GIA NHẬP TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI (WTO) 56
3.4.2 Các công ty bảo hiểm cần hợp tác với nhau trong thị trường 93
3.4.3 Thực hiện các biện pháp đánh giá rủi ro và đề phòng hạn chế tổn
thất 93
3.4.4 Thành lập bộ phận dự báo, quản lý, đề phòng, hạn chế rủi ro 93
3.4.5 Thận trọng khi nhận bảo hiểm những mặt hàng có tỷ lệ tổn thất
cao 94
3.4.6 Tư vấn cho người được bảo hiểm 94
3.4.7 Phối hợp chặt chẽ hơn nữa với các công ty giám định 94
3.5 KIẾN NGHỊ 94
3.5.1 Về phía nhà nước 94
3.5.2 Về phía ngành 97
KẾT LUẬN 99
TÀI LIỆU THAM KHẢO xi
Trần Anh Đào – Luận văn Thạc sỹ Kinh tế: Các giải pháp phát triển nghiệp vụ
bảo hiểm hàng hải cho các công ty bảo hiểm Việt Nam trong thời kỳ hậu WTO
- vii -
PHỤ LỤC xiii
1. Phụ lục 1: Kết qủa kinh doanh bảo hiểm hàng hóa theo năm tài chính
2004-2008 xiii
2. Phụ lục 2: Top 7 về doanh thu bảo hiểm hàng hóa trong năm 2008 xiii
3. Phụ lục 3: Kết qủa kinh doanh bảo hiểm thân tàu và trách nhiệm dân sự
chủ tàu theo năm tài chính 2004-2008 xiv
4. Phụ lục 4: Top 5 về doanh thu bảo hiểm thân tàu và trách nhiệm dân sự
chủ tàu năm 2008 xiv
Bảng 2.1: Số lượng các doanh nghiệp bảo hiểm Phi nhân thọ trên thị trường
Việt Nam 78
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Đồ thị 1.1: Thị phần nghiệp vụ bảo hiểm năm 2006 27
Đồ thị 1.2: Cơ cấu doanh thu theo nghiệp vụ 2004 28
Đồ thị 2.1: Kết qủa kinh doanh bảo hiểm hàng hóa 2004-2008 tính theo
năm tài chính 41
Đồ thị 2.2: Top 7 về doanh thu bảo hiểm hàng hóa trong năm 2008 41
Đồ thị 2.3: Kết qủa kinh doanh bảo hiểm thân tàu và trách nhiệm dân sự
chủ tàu 2004-2008 theo năm tài chính 42
Đồ thị 2.4: Top 5 về doanh thu bảo hiểm Thân tàu và Trách nhiệm dân sự
chủ tàu năm 2008 43
Đồ thị 2.5: Thị phần phí bảo hiểm hàng hải của các công ty có vốn đầu tư
nước ngoài từ năm 2005-2008 44
Đồ thị 2.6: Tỷ trọng hàng hóa xuất nhập khẩu tham gia bảo hiểm trong
nước 46
Đồ thị 2.7: Số liệu về khai thác và bồi thường nghiệp vụ hàng hóa 2004-
2008 theo năm tài chính 47
Đồ thị 2.8: Số liệu về khai thác và bồi thường nghiệp vụ tàu thủy 2004-
2008 theo năm tài chính 51
Đồ thị 2.9: Số liệu về khai thác và bồi thường nghiệp vụ P&I 2004-2008
theo năm nghiệp vụ 52
của Hiệp hội các nhà bảo hiểm Luân Đôn.
MIA: Marine Insurance Act – Luật hàng hải Anh Quốc
MAR: Marine form – Mẫu đơn bảo hiểm hàng hải mới
P&I: Protection and Indemnity - Nhóm bảo vệ và bồi thường
S.G: The Ship and Goods Form – Mẫu hợp đồng bảo hiểm hàng - tàu
Trần Anh Đào – Luận văn Thạc sỹ Kinh tế: Các giải pháp phát triển nghiệp vụ
bảo hiểm hàng hải cho các công ty bảo hiểm Việt Nam trong thời kỳ hậu WTO
- x -
SWOT: Strength, weakness, opportunities, threat - Ma trận các điểm mạnh,
điểm yếu, cơ hội và nguy cơ
TLO: Institute Time Clauses – Hull Total Loss Only: Institute Time Clauses
– Hull: Điều khỏan bảo hiểm tổn thất tòan bộ thân tàu định hạn của
Hiệp hội các nhà bảo hiểm Luân Đôn.
WA: With Average – Bảo hiểm tổn thất riêng
WTO: World Trade Organization – Tổ chức thương mại Thế giới
XNK: Xuất nhập khẩu
VINARE: VietNam National Reinsurance Corporation - Tổng Công ty Cổ phần
Tái bảo hiểm Quốc gia Việt Nam
WOE: The West of England Ship Owners Mutual Insurance Association -
Hội bảo hiểm chủ tàu Miền Tây nước Anh
Trần Anh Đào – Luận văn Thạc sỹ Kinh tế: Các giải pháp phát triển nghiệp vụ
bảo hiểm hàng hải cho các công ty bảo hiểm Việt Nam trong thời kỳ hậu WTO
- 1 -
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI
Trong những năm qua, cùng với sự phát triển kinh tế vững mạnh của đất nước, hoạt
động kinh doanh bảo hiểm đã có sự phát triển vượt bậc với tốc độ nhanh chóng và
sự trưởng thành về nhiều mặt. Một trong những đóng góp đem lại sự thành công
cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm là sự phát triển của nghiệp vụ bảo hiểm hàng
hải.
+ Giữ vững thị trường
+ Mở rộng thị trường
trong thời kỳ mở cửa thị trường và hội nhập với nền kinh tế thế giới.
3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI ĐỀ TÀI
Đề tài nghiên cứu hoạt động bảo hiểm hàng hải tại thị trường Việt Nam từ năm
2004 đến 2008, chủ yếu là mảng nghiệp vụ bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu và
bảo hiểm tàu biển. Qua việc phân tích số liệu từ năm 2004-2008 của các công ty
bảo hiểm tại Việt Nam và tham khảo kinh nghiệm của một số nước trên thế giới để
đề ra giải pháp cho việc phát triển nghiệp vụ bảo hiểm hàng hải của các công ty bảo
hiểm Việt Nam.
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp nghiên cứu sử dụng chủ yếu là phương pháp phân tích định lượng,
định tính, phương pháp thống kê toán, phương pháp so sánh và tổng hợp số liệu,
phương pháp dự báo, phương pháp lôgic.
5. TÍNH MỚI CỦA ĐỀ TÀI
Nghiên cứu nghiệp vụ bảo hiểm hàng hải của thị trường bảo hiểm Việt Nam ở tầm
vĩ mô là một đề tài mới chưa được thực hiện trước đây.
Và hơn nữa thời kỳ Việt Nam gia nhập WTO sẽ tạo nên nhiều cơ hội và thách thức
cho hoạt động của các doanh nghiệp trong môi trường hội nhập, tất yếu sẽ tạo ra
nhiều nét mới trong việc kinh doanh nghiệp vụ bảo hiểm hàng hải. Đề tài này hy
vọng góp thêm một số kiến thức và kinh nghiệm vào việc xây dựng giải pháp phát
triển nghiệp vụ bảo hiểm hàng hải trong thời kỳ hội nhập.
Trần Anh Đào – Luận văn Thạc sỹ Kinh tế: Các giải pháp phát triển nghiệp vụ
bảo hiểm hàng hải cho các công ty bảo hiểm Việt Nam trong thời kỳ hậu WTO
- 3 -
6. BỐ CỤC
Nội dung của đề tài ngoài phần mở đầu và kết luận gồm có 3 chương:
6.1 Chương 1: Lý thuyết về bảo hiểm hàng hải
Chương này trình bày những phần lý thuyết có liên quan đến đề tài bao gồm các
của bảo hiểm. Sau đó để đối phó với những tổn thất nặng nề thì hình thức “cho vay
mạo hiểm”đã xuất hiện, theo đó trong trường hợp xảy ra tổn thất đối với hàng hóa
trong quá trình vận chuyển, người vay sẽ được miễn không phải trả khoản tiền vay
cả vốn lẫn lãi. Ngược lại họ sẽ phải trả một lãi suất rất cao khi hàng hóa đến bến an
toàn, như vậy có thể hiểu lãi suất cao này là hình thức sơ khai của phí bảo hiểm.
Song số vụ tổn thất xảy ra ngày càng nhiều làm cho các nhà kinh doanh cho vay
vốn cũng lâm vào thế nguy hiểm và thay thế nó là hình thức bảo hiểm ra đời.
Vào thế kỷ XIV, ở Floren, Genoa nước Ý, đã xuất hiện các hợp đồng bảo hiểm hàng
hải đầu tiên quy định rằng một người bảo hiểm để nhận một khỏan phí phải cam kết
với người được bảo hiểm sẽ bồi thường những thiệt hại về tài sản mà người được
bảo hiểm phải gánh chịu khi có thiệt hại xảy ra trên biển.
Hợp đồng bảo hiểm cổ xưa nhất mà người ta tìm thấy có ghi ngày 22/04/1329 hiện
còn được lưu giữ tại Floren. Sau đó cùng với việc phát hiện ra Ấn Độ Dương và tìm
ra châu Mỹ, ngành hàng hải nói chung và bảo hiểm hàng hải nói riêng đã phát triển
rất nhanh chóng.
Đến thế kỷ XVII, nước Anh đã chiếm vị trí hàng đầu trong buôn bán và hàng hải
quốc tế, với Luân Đôn là trung tâm phồn thịnh nhất. Tàu của các nước đi từ Châu
Á, Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Phi đều về cập bến hai bờ sông Thame của thành phố
Luân Đôn. Tiệm cà phê ở phố Great Tower, Luân Đôn được mở vào năm 1692 của
Edward Lloyd’s, một thuyền trưởng về hưu, là nơi gặp gỡ của các nhà buôn, chủ
ngân hàng, người chuyên chở, người bảo hiểm… để giao dịch, trao đổi, bàn luận
Trần Anh Đào – Luận văn Thạc sỹ Kinh tế: Các giải pháp phát triển nghiệp vụ
bảo hiểm hàng hải cho các công ty bảo hiểm Việt Nam trong thời kỳ hậu WTO
- 5 -
các thông tin về các con tàu viễn dương, về hàng hóa chuyên chở trên tàu, về sự an
toàn và tình hình tai nạn của các chuyến tàu…
Sau khi Edward Lloyd’s qua đời, người ta thấy rằng cần phải có một nơi tương tự
như vậy để các nhà khai thác bảo hiểm hàng hải tập trung đến giao dịch bảo hiểm
và năm 1770, “Society of Lloyd’s” với tư cách là một tổ chức tự nguyện đã thành
lập và thu xếp một địa điểm ở Pope’s Head Alley cho các thành viên của họ. Sau đó
bảo hiểm London (ILU) vào năm 1884. Năm 1912, ILU đã đưa ra hai qui tắc được
bổ sung vào mẫu hợp đồng S.G –Bảo hiểm Tổn Thất Riêng và Miễn Tổn Thất
Riêng (WA & FPA) – và tiếp theo đó vào năm 1950 là quy tắc về Bảo hiểm Mọi
Rủi Ro (AR), các quy tắc này đã nhanh chóng trở nên phổ biến nhất khi mậu dịch
quốc tế về hàng hóa tiêu dùng gia tăng.
Với sự hình thành ngày càng thêm nhiều quốc gia, đặc biệt là các nước trước đây là
thuộc địa sau Thế Chiến II, do yêu cầu khẩn thiết từ hội nghị Liên Hiệp Quốc về
Thương Mại Và Phát Triển đòi hỏi có kế hoạch đánh giá lại và vào năm 1982, hệ
thống bảo hiểm đã được hiện đại hóa để phản ánh tập quán thương mại đương đại.
Để thích ứng phần nào với điều 22 của MIA 1906, một mẫu hợp đồng cơ bản gọi là
MAR cũng đã được ban hành cùng các điều khoản mới có thể được đính kèm theo.
Mẫu hợp đồng hiện đang lưu hành được gọi là MAR 91. Trong hai thập niên kế đó,
các điều khoản đã được ILU xem xét lại và đưa ra những mẫu mới hơn.
Cho đến đầu thập niên 1990, vẫn chưa có nhiều công ty bảo hiểm tại thị trường
London, mà những công ty này thường là chi nhánh của các hãng tàu – các chi
nhánh của cùng một công ty mẹ liên quan đến môi giới bảo hiểm, chủ tàu, thuê tàu,
môi giới tàu, và trong một số trường hợp cũng liên quan đến các hoạt động thương
mại. Chỉ mới 20 năm gần đây thì những công ty thương mại cũ này với những
quyền lợi ở nhiều lĩnh vực khác nhau mới rút lui ra khỏi hầu hết những lĩnh vực này
để tập trung vào hoạt động có tầm quan trọng hàng đầu đối với các quyền lợi kinh
doanh của họ. Lẽ tất nhiên, điều này không có nghĩa rằng tất cả những nhà bảo hiểm
hoặc chủ tàu đều trở thành những nhà chuyên môn; nhiều vụ hợp nhất và tiếp quản
đã diễn ra gần đây, dẫn đến những tập đoàn bao gồm nhiều ngành công nghiệp
khác:Ví dụ: ngành công nghiệp nặng… Trong khi sự thay đổi sau này đã làm gia
tăng sức mạnh tài chính và sự ổn định của những nhà đầu tư nói chung, thì điều này
cũng cho thấy những dấu hiệu sự giảm sút quan niệm truyền thống của những nhà
Trần Anh Đào – Luận văn Thạc sỹ Kinh tế: Các giải pháp phát triển nghiệp vụ
bảo hiểm hàng hải cho các công ty bảo hiểm Việt Nam trong thời kỳ hậu WTO
- 7 -
đầu tư hàng hải đối với ngành vận tải biển. Vào năm 1998, ILU sáp nhập với một
bảo hiểm hàng hải cho các công ty bảo hiểm Việt Nam trong thời kỳ hậu WTO
- 8 -
tính toán được các chi phí và dự kiến được lợi nhuận thu được nhằm phục vụ cho
các phương án phát triển kinh doanh của mình. Bảo hiểm có tác dụng tạo tâm lý an
toàn cho người tham gia bảo hiểm nhằm giúp họ ổn định và phát triển họat động
kinh doanh.
1.2.3 Phát triển ngành ngoại thương và đóng tàu
Sự phát triển của bảo hiểm hàng hải luôn đi kèm với sự phát triển của ngành ngọai
thương và đóng tàu. Đây là 3 lĩnh vực có mối quan hệ rất chặt chẽ. Với việc phát
triển ngọai thương, nhu cầu về xuất nhập khẩu hàng hóa tăng cao thì việc phải có
bảo hiểm hàng hóa nhằm đảm bảo an toàn cho nhà xuất nhập khẩu là bắt buộc, và
ngược lại, có được bảo hiểm hàng hóa tốt thì sẽ tạo tâm lý an toàn và đảm bảo tài
chính cho nhà xuất nhập khẩu nhằm thúc đẩy họat động kinh doanh xuất nhập khẩu.
Đồng thời với việc tăng lượng hàng hóa xuất nhập khẩu thì cần phải có phương tiện
vận chuyển đảm bảo, các nhà xuất nhập khẩu thường mong muốn thuê được tàu tốt,
có chất lượng chở hàng cho mình, xuất phát từ nhu cầu này, ngành đóng tàu sẽ phát
triển theo nhằm cung cấp cho thị trường những con tàu mới, đạt chất lượng. Và để
giúp các chủ tàu có sự đảm bảo đối với tài sản của họ thì bảo hiểm tàu biển và bảo
hiểm đóng tàu là các nghiệp vụ cần thiết cho họ. Khi có các nghiệp vụ này, họ sẽ
yên tâm hơn trong kinh doanh
1.2.4 Tạo nguồn thu lớn để đầu tư sang lĩnh vực khác
Doanh thu bảo hiểm hàng hải thường chiếm tỷ trọng khá lớn (khoảng hơn 20%)
trong doanh thu bảo hiểm phi nhân thọ (doanh thu bảo hiểm phi nhân thọ của Việt
Nam năm 2008 là 10.879 tỷ đồng, trong đó doanh thu hàng hải là 2.240 tỷ). Các
công ty bảo hiểm thường tính toán phí bảo hiểm sao cho phí thu được ngoài việc chi
trả cho các tổn thất thuộc trách nhiệm bảo hiểm và các chi phí quản lý còn phải có
một khoản để đóng vào các quỹ dự phòng và để tái đầu tư. Các khoản phí thu được
này sẽ được các công ty bảo hiểm đem đầu tư lại nền kinh tế sang các lĩnh vực khác
như cho ngân hàng vay, mua trái phiếu, đầu tư vào các công ty kinh doanh khác,
đầu tư vào cơ sở hạ tầng, đầu tư tài chính, thành lập và quản lý các quỹ đầu tư….
giới mà còn cho những đại lý bảo hiểm ở khắp đất nước.
1.3 CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN CỦA BẢO HIỂM HÀNG HẢI
1.3.1 Hợp đồng bảo hiểm hàng hải
Theo Luật bảo hiểm Hàng hải Anh Quốc – MIA 1906, một đạo luật được nhiều
nước thừa nhận là tiêu chuẩn pháp lý quốc tế cho ngành bảo hiểm hàng hải trên thế
Trần Anh Đào – Luận văn Thạc sỹ Kinh tế: Các giải pháp phát triển nghiệp vụ
bảo hiểm hàng hải cho các công ty bảo hiểm Việt Nam trong thời kỳ hậu WTO
- 10 -
giới thì Hợp đồng bảo hiểm hàng hải được định nghĩa tại điều 1 là “Một hợp đồng
trong đó người bảo hiểm nhận bồi thường cho người được bảo hiểm theo cách thức
và mức độ đã được hai bên thỏa thuận trên hợp đồng về các tổn thất hàng hải,
nghĩa là, các tổn thất hậu quả của hành trình hàng hải”
Theo Luật Hàng hải Việt Nam 2005 điều 224 thì quy định:
“Hợp đồng bảo hiểm hàng hải là hợp đồng bảo hiểm các rủi ro hàng hải, theo đó
người bảo hiểm cam kết bồi thường cho người được bảo hiểm những tổn thất hàng
hải thuộc trách nhiệm bảo hiểm theo cách thức và điều kiện đã thoả thuận trong
hợp đồng.
Hợp đồng bảo hiểm hàng hải có thể mở rộng theo những điều kiện cụ thể hoặc theo
tập quán thương mại để bảo vệ quyền lợi của người được bảo hiểm đối với những
tổn thất xảy ra trên đường thủy nội địa, đường bộ hoặc đường sắt thuộc cùng một
hành trình đường biển.
Hợp đồng bảo hiểm hàng hải phải được giao kết bằng văn bản”
1.3.2 Rủi ro hàng hải
Rủi ro hàng hải được định nghĩa tại điều 3 của Luật Hàng hải Anh Quốc – MIA
1906 như sau: “Là các rủi ro hậu quả hay phụ thuộc vào hành trình trên biển, nghĩa
là các hiểm họa của biển cả, hỏa họan, rủi ro chiến tranh, cướp, cướp biển, trộm,
bắt, giữ, kiềm chế và giam hãm, vứt xuống biển, manh động của thuyền trưởng và
mọi rủi ro khác hoặc tương tự hoặc được quy định trong đơn bảo hiểm”
Luật bảo hiểm Việt Nam 2005, điều 224 cũng có định nghĩa tương tự: “Rủi ro hàng
hải là những rủi ro xảy ra liên quan đến hành trình đường biển, bao gồm các rủi ro
gồm giá trị của máy móc, trang thiết bị, phụ tùng dự trữ của tàu cộng với toàn bộ
phí bảo hiểm. Giá trị của tàu biển còn có thể bao gồm cả tiền lương ứng trước cho
thuyền bộ và chi phí chuẩn bị chuyến đi được thoả thuận trong hợp đồng.
1.3.4.1.2 Giá trị bảo hiểm của hàng hoá
Là giá trị hàng hoá ghi trên hoá đơn hoặc giá thị trường tại nơi và thời điểm xếp
hàng cộng với phí bảo hiểm, tiền cước vận chuyển và có thể cả lãi ước tính.
1.3.4.2 Số tiền bảo hiểm
1.3.4.2.1 Số tiền bảo hiểm hàng hóa
Trần Anh Đào – Luận văn Thạc sỹ Kinh tế: Các giải pháp phát triển nghiệp vụ
bảo hiểm hàng hải cho các công ty bảo hiểm Việt Nam trong thời kỳ hậu WTO
- 12 -
Là khỏan tiền mà người bảo hiểm khai báo để đề nghị được bảo hiểm cho hàng hóa
theo số tiền đó. Ngòai giá hàng ghi trên hóa đơn bán hàng, cước phí vận chuyển và
phí bảo hiểm, người mua bảo hiểm có thể tính gộp cả tiền lãi ước tính vào số tiền
bảo hiểm. Tuy nhiên khỏan tiền lãi ước tính được gộp vào số tiền bảo hiểm không
vượt quá 10% của tiền hàng cộng với cước phí vận chuyển và phí bảo hiểm (trị giá
CIF) của hàng hóa. Nói cách khác số tiền bảo hiểm tối đa có thể chấp nhận bảo
hiểm là 110% trị giá CIF.
1.3.4.2.2 Số tiền bảo hiểm thân tàu
Số tiền bảo hiểm thân tàu được xác định dựa trên cơ sở giá trị của đối tượng bảo
hiểm vào thời điểm giao kết hợp đồng bảo hiểm. Giá trị bảo hiểm thân tàu bao gồm
giá trị vỏ tàu, giá trị máy móc và trang thiết bị trên tàu. Số tiền bảo hiểm là giá trị
thỏa thuận giữa người bảo hiểm và người được bảo hiểm với điều kiện không vượt
quá giá trị thân tàu.
Hợp đồng bảo hiểm thân tàu có thể mở rộng với các bảo hiểm bổ sung như:
- Phí tổn điều hành, thù lao quản lý, lời lãi thặng dư hay gia tăng về giá trị thân
tàu và máy móc. Số tiền bảo hiểm của phần bổ sung này không được vượt quá
25% số tiền bảo hiểm thân tàu.
- Cước phí, tiền cước cho thuê tàu với điều kiện số tiền bảo hiểm của phần bảo
hiểm bổ sung này không vượt quá 25% số tiền bảo hiểm thân tàu trừ đi số tiền
hiểm nói chung và hợp đồng bảo hiểm hàng hải nói riêng
Theo định nghĩa của Luật Hàng hải Anh Quốc – MIA 1906 và Luật hàng hải Việt
Nam 2005 thì quyền lợi có thể bảo hiểm là:
“Một người có một quyền lợi có thể bảo hiểm trong một phiêu trình hàng hải khi họ
có bất kỳ quan hệ pháp lý và hợp lý với phiêu trình hoặc với bất kỳ tài sản nào có
thể bảo hiểm đang chịu rủi ro trong phiêu trình đó, và họ có thể hưởng lợi khi tài
sản đó về tới đích an toàn hoặc thích đáng, hay họ có thể bị phương hại bởi tài sản
đó bị tổn thất hoặc hư hỏng, hay bị cầm giữ hoặc có thể phải gánh chịu trách nhiệm
đối với tài sản đó”.
Trần Anh Đào – Luận văn Thạc sỹ Kinh tế: Các giải pháp phát triển nghiệp vụ
bảo hiểm hàng hải cho các công ty bảo hiểm Việt Nam trong thời kỳ hậu WTO
- 14 -
Như vậy, có thể nói rằng để có được một quyền lợi có thể bảo hiểm, một người phải
có quyền lợi trong chuyến phiêu trình trong phạm vi mà họ có thể phải gánh chịu
tổn thất do tai nạn xảy ra trong chuyến phiêu trình hay đối với đối tượng bảo hiểm,
hoặc họ phải gánh chịu trách nhiệm pháp lý liên quan đến đối tượng bảo hiểm.
Đối với các loại hình bảo hiểm khác người muốn tham gia bảo hiểm phải có một
quyền lợi có thể bảo hiểm vào thời điểm kết lập hợp đồng bảo hiểm, nhưng luật
pháp về bảo hiểm hàng hải không bắt buộc điều kiện như thế. Luật cho phép người
yêu cầu bảo hiểm ký kết một hợp đồng bảo hiểm hàng hải trước khi họ có quyền lợi
có thể bảo hiểm đối với đối tượng bảo hiểm, nhưng lại quy định rằng người được
bảo hiểm chỉ được khiếu nại đòi bồi thường theo hợp đồng bảo hiểm nếu họ có
quyền lợi có thể bảo hiểm tồn tại vào thời điểm xảy ra tổn thất.
Đối với bảo hiểm hàng hóa thì quyền lợi có thể bảo hiểm là quyền sở hữu hàng hóa,
là giá trị thực sự của hàng hóa bị rủi ro.Quyền lợi có thể bảo hiểm của chủ hàng có
thể bao gồm các quyền lợi bổ sung như:Chi phí vận tải, Phí bảo hiểm, Lãi ước tính,
Giá trị tăng thêm, … và các quyền lợi có thể bảo hiểm đối với các trách nhiệm mà
họ liên quan.
Đối với con tàu sẽ có các dạng quyền lợi có thể bảo hiểm:Quyền sở hữu con tàu,
Phí bảo hiểm, Quyền lợi của Người thuê tàu, Tiền thuê tàu của Người thuê tàu,