BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRẦN THỊ KIM ĐÀO CHO VAY KINH DOANH BẤT ĐỘNG SẢN
TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS. TS DƯƠNG THỊ BÌNH MINH
TP.HỒ CHÍ MINH – NĂM 2009LỜI CAM ĐOAN Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai
công bố trong bất kỳ hình thức, công trình nào khác
Các số liệu được trình bày trong luận văn là trung thực, và có nguồn trích dẫn
rõ ràng.
Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước nhà trường về sự cam đoan này.
Tp.Hồ Chí Minh, ngày ….tháng .… năm 2009 DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1. Vốn FDI đầu tư vào bất động sản Trang 27
Hình 2.2. Biểu đồ dư nợ bất động sản qua các năm Trang 30
Hình 2.3 Biểu đồ nợ xấu của các Ngân hàng thương mại qua các năm Trang 34
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1. FDI đầu tư vào bất động sản giai đoạn từ 1988-2008 27
Bảng 2.2. FDI đầu tư vào bất động sản giai đoạn từ 2006-T7/2009 28
Bảng 2.3 : Kết quả lợi nhuận một số doanh nghiệp ngành bất động sản 29
Bảng 2.4 : Dư nợ cho vay bất động sản của các ngân hàng thương mại 31
Bảng 2.5 Tỷ trọng dư nợ cho vay bất
động sản 31
Bảng 2.6 Số liệu cho vay kinh doanh bất động sản tại các NHTM 32 MỤC LỤC
1.3.2.1. Xây dựng mục tiêu phát triển tín dụng bất động sản phù hợp 20
1.3.2.2. Xây dựng các tiêu chí thẩm định cho vay kinh doanh bất độ
ng sản 20
1.3.2.3. Tổ chức quy trình nghiệp vụ tín dụng chặt chẽ 21
1.3.2.4. Hình thành cơ sở dữ liệu, dự báo thị trường bất động sản 22
1.4. Khái quát về kiểm soát rủi ro tín dụng đối với cho vay bất động sản và bài học
kinh nghiệm đối với Việt Nam 23
1.4.1. Khái quát về kiểm soát rủi ro đối với cho vay bất động sản tại Mỹ 23
1.4.2. Các bài học kinh nghiệm về kiểm soát rủi ro
đối với cho vay bất động sản từ
các ngân hàng Mỹ 25 Kết luận Chương I 26
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CHO VAY KINH DOANH BẤT ĐỘNG SẢN TẠI
CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
26
2.1. Thực trạng về thị trường bất động sản Việt Nam 26
2.1.1. Tiềm năng của thị trường bất động sản Việt Nam 26
2.1.2. Kết quả kinh doanh của một số doanh nghiệp bất động sản 28
2.2. Thực trạng cho vay kinh doanh bất động sản tại các Ngân hàng thương mại
Thành phố Hồ Chí Minh 30
2.2.1. Số liệu cho vay kinh doanh bất động sản tại các Ngân hàng thương mại 30
2.2.2. Nghiệp vụ cho vay kinh doanh b
ất động sản tại các Ngân hàng thương mại
TP Hồ Chí Minh 32
2.2.3. Thực trạng rủi ro tín dụng đối với cho vay kinh doanh bất động sản 35
2.2.3.1. Số liệu về nợ xấu của các ngân hàng thương mại 35
2.2.3.2. Rủi ro do thị trường bất động sản thiếu tính chuyên nghiệp 37
2.2.3.3. Rủi ro từ phía khách hàng vay 38
3.2.6. Quản lý cân đối thanh khoản 61
3.3. Các giải pháp kiểm soát rủi ro của Ngân hàng Nhà nước 62
3.3.1. T
ăng cường công tác quản lý, giám sát cho vay kinh doanh bất động sản 62
3.3.2. Phát triển thị trường vốn trung, dài hạn cho thị trường bất động sản 64
3.4. Các giải pháp vĩ mô của Nhà nước đối với cho vay kinh doanh bất động sản 64
3.4.1. Nhà nước cần tạo lập cơ sở pháp lý bảo vệ quyền chủ nợ của ngân hàng 64
3.4.2. Các biện pháp nhằm phát triển ổn định thị trường bất động sản 65
3.4.3. Xây dự
ng hệ thống thông tin bất động sản 67
KẾT LUẬN CHƯƠNG III 70
KẾT LUẬN
71
Trang 1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Bất động sản là hàng hoá đặc biệt, có giá trị rất lớn và ảnh hưởng trực tiếp đến
đời sống kinh tế- xã hội. Lĩnh vực kinh doanh bất động sản dù mang lại nhiều lợi
nhuận nhưng vẫn là một ngành kinh tế nhạy cảm và chứa đựng nhiều rủi ro tiềm ẩn,
mức độ rủi ro phụ thuộc nhiều vào sự biến động giá cả trên thị tr
ường bất động sản.
Đối với các ngân hàng thương mại trên thế giới, cho vay trong lĩnh vực bất
động sản hoặc cho vay thế chấp bằng bất động sản, nhìn chung là nghiệp vụ phổ
biến. Ở Việt Nam, do thị trường tài chính chưa phát triển nên nguồn vốn trong thị
trường bất động sản phụ thuộc hoàn toàn vào hệ thống ngân hàng thương mại. Tỷ
trọng dư nợ tín d
ụng đối với cho vay trong lĩnh vực bất động sản và cho vay có bảo
3. Đề tài giới hạn ở việc đề xuất những giải pháp để kiểm soát r
ủi ro mà không
đi sâu vào nghiên cứu các công cụ, kỹ thuật phòng chống rủi ro.
4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận theo chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch
sử để nhìn nhận sự việc theo sự vận động và phát triển.
- Phương pháp tổng hợp số liệu dựa trên: các báo cáo của các cơ quan chức
năng, tài liệu trên các phương tiện thông tin đại chúng: trên báo, tạp chí
chuyên ngành, Internet…
- Phương pháp thống kê so sánh: theo thời gian, theo chỉ tiêu…
- Tham khảo ý kiến các chuyên gia trong lĩnh vực bất động sản, ngân hàng;
các công trình tài liệu được công bố trên báo chí.
5. Nội dung nghiên cứu
Luận văn có khối lượng 70 trang, được trình bày với kết cấu như sau:
Chương
I: Cơ sở lý luận về kiểm soát rủi ro tín dụng đối với kinh doanh
bất động sản
Chương II
: Thực trạng kiểm soát rủi ro tín dụng đối với kinh doanh bất
động sản tại các Ngân hàng thương mại trên địa bàn TPHCM
Chương III:
Các giải pháp kiểm soát rủi ro tín dụng đối với kinh doanh
bất động sản tại các Ngân hàng thương mại trên địa bàn TPHCM
Do hạn chế về thời gian và tài liệu nghiên cứu, luận văn còn nhiều thiếu sót,
rất mong nhận được sự góp ý của Quý thầy cô và các bạn đọc quan tâm.
Trang 3
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHO VAY KINH DOANH
BẤT ĐỘNG SẢN
- Thị trường bất động sản dịch vụ
- Thị trường bất động sản văn phòng, cho thuê
- Thị trường bất động sản công nghiệp
- Thị trường bất động sản du lịch
¾ Phân loại theo trình tự tham gia thị trường
- Thị trường sơ cấp (Nhà nước giao đất, cho đất tạo nguồn cung đầu vào về đất
đ
ai bất động sản cho doanh nghiệp, người dân)
- Thị trường thứ cấp (nơi diễn ra các giao dịch của các bên về mua bán…)
¾ Phân loại theo mức độ đầu tư
- Bất động sản có đầu tư xây dựng gồm: bất động sản nhà ở, bất động sản nhà
xưởng và công trình thương mại- dịch vụ, bất động sản hạ tầng (hạ tầng kỹ
thuật, hạ tầng xã hội), bất động sản là trụ sở làm việc v.v Trong bất động sản có
đầu tư xây dựng thì nhóm bất động sản nhà đất (bao gồm đất đai và các tài sản
gắn liền với đất) là nhóm bất động sản cơ bản, chiếm tỷ trọng rất lớn, mang tính
chất phức tạp và chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố chủ quan và khách quan.
Nhóm này có tác động rất lớn đến quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước cũng như phát triển đô thị bền vững. Nhóm bất động sản này chiếm đại đa
số các giao dịch trên thị trường bất động sản.
- Bất động sản không đầu tư xây dựng: chủ yếu là đất nông nghiệp (dưới dạng tư
liệu sản xuất) bao gồm các lo
ại đất nông nghiệp, đất rừng, đất nuôi trồng thuỷ
sản, đất làm muối, đất hiếm, đất chưa sử dụng v.v
- Bất động sản đặc biệt là những bất động sản như các công trình bảo tồn quốc
gia, di sản văn hoá vật thể, nhà thờ họ, đình chùa, miếu mạo, nghĩa trang v.v
Đặc điểm của loại bất động sản này là khả năng tham gia thị trường rất thấp.
¾ Phân loại theo mục đích sử dụng:
- Bất động sản xây dựng cơ sở hạ tầng: bao gồm đầu tư các hạng mục cầu
đường
Đối với thị trường bất động sản thì vai trò quản lý nhà nước có tác động lớn hơn
nhiều so với nhiều thị trường khác và mang tính định hướng, thậm chí quyết định sự phát
triển của thị trường, thị trường phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố do các cơ quan quản lý
nhà nước quyết định như: hệ thống cơ sở hạ tầng: điện, đường, trường, trạm… ; các luật
liên quan đến chuyển nhượng, thuế và các chính sách tiền tệ…
Trang 6
Nhà nước tạo hành lang pháp lý cho sự vận hành của thị trường, quản lý điều
hành thị trường, điều tiết các chủ thể tham gia thị trường và định hướng phát triển
thị trường bất động sản phục vụ phát triển kinh tế và đảm bảo an sinh xã hội.
Ngoài ra, Nhà nước cũng có vai trò tham gia thị trường với tư cách là bên
cung và bên cầu trên thị trường bất động sản. Nhà nước tham gia cung đất đai và
một số bất động sản thiết yếu cho nhu cầu phát triển kinh tế mà thị trường không
muốn hoặc không đủ sức tham gia như hạ tầng kỹ thuật, nhà ở cho người thu nhập
thấp và cung ứng bất động sản để chủ động điều tiết thị trường Nhà nước cũng
đóng vai trò là bên cầu lớn của thị trường bất động sản như các công trình công
cộng, nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước…
Để thực hiện được các vai trò nói trên của mình, Nhà nước phải sử dụng một
hệ thống các công cụ quản lí vĩ mô để điều khiển, tác động vào thị trường bất động
sản như công cụ luật pháp, tài chính, thuế, quy hoạch, dịch vụ công v.v nhằm giải
quyết hài hoà các mối quan hệ kinh tế giữa các chủ thể tham gia hoạ
t động trên thị
trường bất động sản cũng như giải quyết được mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế
và đảm bảo công bằng xã hội, giữa tăng trưởng kinh tế với giữ gìn môi trường sinh
thái v.v
Giá cả trên thị trường bất động sản còn có quan hệ chặt chẽ với việc lập quy
hoạch của Nhà nước như: quy hoạch tổng thể phát triể
n kinh tế – xã hội, quy hoạch
phát triển ngành, quy hoạch giao thông vận tải, quy hoạch cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô
thị, quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch chi tiết kiến trúc
Bất động sản được xem như một phương tiện lưu trữ giá trị bên cạnh vàng và ngoại
t
ệ mạnh. Xu hướng tăng giá bất động sản cũng là động lực quan trọng khiến thị trường
này ngày một sôi động và lấn át các hình thức đầu tư và tiết kiệm truyền thống.
Là ngành hàng chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế, bất động sản có thể được
xem là hạ tầng của nền kinh tế, có tác động trực tiếp đến thị trường tài chính và chi
phối mạnh mẽ đến thị trường vốn và đời sống. Hầu hết các khoản thế chấp vay vốn
ngân hàng là bất động sản. Do đó thị trường bất động sản suy thoái sẽ là khởi đầu
tác động đến các ngành hàng quan trọng khác của nền kinh tế như ngành vật liệu
xây dựng: xi măng, thép, kính xây dựng, trang trí nội thất, đồ gỗ… và do đó có ảnh
hưởng lan toả tới sự phát triển
ổn định của nền kinh tế quốc dân
Trang 8
Thứ tư, giống như các loại thị trường hàng hoá khác, sự phát triển của thị
trường bất động sản cũng có tính chu kỳ
Giống như các loại thị trường hàng hoá khác, thị trường bất động sản cũng có
chu kỳ phát triển gồm 4 giai đoạn: hình thành, tăng trưởng, phát triển, suy thoái.
Do nền kinh tế các nước phát triển không giống nhau nên tần suất dao động
theo chu kỳ của thị trườ
ng bất động sản của mỗi nước cũng khác nhau.
Thứ năm, xét tổng quát, thị trường bất động sản hình thành và phát triển qua
03 cấp độ: tập trung hoá, tiền tệ hoá, và tài chính hoá
Cấp độ tập trung hoá: Là giai đoạn của các doanh nghiệp xây dựng. Trong
giai đoạn này, các doanh nghiệp xây dựng là nhân tố thúc đẩy sự hình thành và phát
triển dự án bất động sản. Trong cấp độ này, các chính sách về xây dựng và các
doanh nghiệp, cơ
quan quản lý xây dựng đóng vai trò quyết định.
Cấp độ tiền tệ hoá: Là giai đoạn của các ngân hàng thương mại. Với sự phát
triển mạnh mẽ của các doanh nghiệp kinh doanh bất động sản, nhưng do hạn chế về
Bất động sản còn là tài sản lớn của từng hộ gia đình, từng cá nhân. Trong điều
kiện nền kinh tế thị trường thì bất động sản ngoài chức năng là nơi ở của gia đình,
nơi tổ chức hoạt động kinh tế, mà còn là nguồn vốn để phát triển thông qua hoạt
động thế chấp.
Thị trường bất động sản có quan hệ trực tiế
p với các thị trường như thị trường
tài chính tín dụng, thị trường xây dựng, thị trường vật liệu xây dựng, thị trường lao
động Phát triển và điều hành tốt thị trường bất động sản sẽ có tác dụng thúc đẩy
tăng trưởng kinh tế thông qua các biện pháp kích thích vào đất đai, tạo lập các công
trình, nhà xưởng, vật kiến trúc để từ đó tạo nên chuyển dịch đáng kể và quan trọng
về cơ cấu trong các ngành, các vùng lãnh thổ và trên phạm vi cả nước.
Thị trường
bất động sản phát triển góp phần huy động vốn đáp ứng nhu cầu
phát triển kinh tế, và tăng nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước
Ở các nước phát triển, nguồn vốn ngân hàng cho vay qua thế chấp bằng bất
động sản chiếm trên 80% trong tổng lượng vốn cho vay. Vì vậy, phát triển đầu tư,
kinh doanh bất động sản đóng vai trò quan trọng trong việc chuyển các tài sản thành
nguồn tài chính dồi dào phục vụ cho yêu cầu phát triển kinh t
ế-xã hội đặc biệt là
đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng của nền kinh tế.
Do đó Nhà nước cần có các giải pháp hữu hiệu bảo đảm cho các bất động sản
có đủ điều kiện trở thành hàng hoá đúng tiêu chuẩn, từ đó tạo cho nền kinh tế có
Trang 10
nguồn huy động vốn để phát triển, và từ đó tăng nguồn thu cho Ngân sách nhà
nước.
Thu Ngân sách Nhà nước từ thị trường bất động sản gồm các mảng sau:
Thu thuế bất động sản gồm thuế thu nhập, thuế sử dụng đất, thuế nhà đất, thuế
chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
Thu phí và lệ phí từ giao dịch bất động sản
dụng khi người vay trả lãi - gốc không đúng hạn, hoặc khi tổ chức tài chính cần tiền
cho mục đích kinh doanh khác nhưng các khoản cho vay thì chưa đến hạn trả, khi
đó tổ chức tín dụng sẽ bị thiếu tiền mặt.
1.2.1.2. Thị trường cầm cố thứ cấp
Là thị trường mà tại đây, các t
ổ chức tín dụng có thể mua bán những khoản
cho vay cầm cố sơ cấp để tạo tính thanh khoản cho các khoản tín dụng này theo
hình thức chiết khấu và tái chiết khấu dựa trên các khoản lãi do cầm cố và thời gian
đáo hạn nợ cầm cố của người chủ tài sản. Thị trường cầm cố thứ cấp càng phát triển
thì nguồn tài chính dành cho vay đầu tư, kinh doanh và tiếp thị sản phẩm nhà ở càng
dồi dào.
1.2.1.3. Chứng khoán hóa các khoản tín dụng:
Ở mức độ tổ chức thị trường cao hơn, hệ thống tín dụng còn có thể chứng
khoán hoá các khoản tín dụng tại thị trường cầm cố sơ cấp, và giao dịch các chứng
khoán này trên thị trường tài chính tạo tính thanh khoản cho tín dụng cầm cố bất
động sản.
Chứng khoán hóa là một quá trình tài chính cơ cấu, tại đó các tài sản thế chấp
khác nhau của những người đi vay được tập hợp làm đảm bảo để phát hành các trái
phiếu (gọi chung là trái phiếu đảm bảo bằng tài sản). Tiền từ người mua các chứng
khoán này sẽ được chuyển đến các tổ chức tài chính cho vay thế chấp để các tổ
chức này cho người đem thế chấp tài sản vay tiền. Chứng khoán hóa chính là quá
trình đưa các tài sản thế chấp sang thị trường thứ cấp n
ơi mà chúng có thể trao đi
đổi lại. Nó đã biến các tài sản kém thanh khoản thành những chứng khoán thanh
khoản cao
Có 4 loại chủ thể kinh tế chủ yếu liên quan đến quá trình chứng khoán hóa, đó
là: 1) người thế chấp và đi vay, 2) tổ chức tập hợp một nhóm các tài sản thế chấp rồi
phát hành chứng khoán, 3) nhà đầu tư mua bán chứng khoán, và 4) tổ chức tín dụng
cho vay. Với 4 loại chủ thể kinh tế thay vì 2 loại chủ th
ể là người thế chấp - đi vay
đó sẽ tăng lên, tạo tiền đề cho sản xuất và phát triển nhà ở, và Nhà nước mới đủ
sức
giải quyết vấn đề nhà ở cho người dân.
Trang 13
1.2.2. Nghiệp vụ cho vay kinh doanh bất động sản của Ngân hàng thương mại:
1.2.2.1. Các tiêu chí thẩm định cho vay kinh doanh bất động sản:
Trên thế giới, nghiệp vụ cho vay bất động sản (cùng với nghiệp vụ cho vay
tiêu dùng) là những dịch vụ tài chính phổ biến nhất của ngân hàng. Những ngân
hàng có khả năng cho vay bất động sản thường là các ngân hàng có nguồn tiền gửi
dài hạn và có một đội ngũ nhân viên thông thạo trong việ
c đánh giá giá trị tài sản và
am hiểu luật pháp về bất động sản.
Khi thẩm định đối với các khoản cho vay bất động sản, ngân hàng thường dựa
trên các tiêu chí sau:
Đối tượng khách hàng: cá nhân, hộ kinh doanh, doanh nghiệp tư nhân, Công
ty, tổ chức…có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự, có uy tín trong kinh
doanh và trong lịch sử tín dụng (chưa từng phát sinh nợ quá hạn)
Mục đích vay vốn: nhằm bổ sung vốn kinh doanh, đầu tư dự án, hay cho vay
tiêu dùng hay cho các mục đích khác không trái với quy định của pháp luật. Đối với
các dự án đầu tư bất động sản, ngoài việc đáp ứng các quy định tín dụng ngân hàng,
dự án còn phải đáp ứng các quy định pháp luật về đất đai, đầu tư và xây dựng.
Hiệu quả của phương án/dự án vay vốn: Đây là nguồn trả nợ quan trọng của
dự án, ngân hàng chỉ xem xét cho vay đối với nh
ững kế hoạch kinh doanh khả thi,
các rủi ro ở mức có thể kiểm soát.
Khả năng tài chính hiện tại và trong tương lai của khách hàng. Mức độ ổn định
đầu tư khác
1.2.3. Rủi ro tín dụng đối với cho vay kinh doanh bất động sản
Về lý luận, rủi ro tín dụng, là khả năng khách hàng vay vốn không thực hiện,
hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đối với ngân hàng, gây tổn thất cho ngân
hàng. Hay nói cách khác, đó là khả năng khách hàng không trả hoặc trả không đầy
đủ, đúng hạn cả gốc và lãi cho ngân hàng.
Về cơ bản, rủi ro tín dụng xuất phát từ những nguyên nhân sau:
1.2.3.1. Rủi ro tín dụng do nguyên nhân khách quan
¾ Rủi ro do môi trường kinh tế không ổn định
Quá trình tự do hoá tài chính và hội nhập quốc tế có thể làm cho nợ xấu gia
tăng khi tạo ra một môi trường cạnh tranh gay gắt, làm cho doanh nghiệp - khách
hàng của ngân hàng phải đối mặt với quy luật cạnh tranh, và có nguy cơ thua lỗ.
Trang 15
Bên cạnh đó, bản thân các ngân hàng trong nước với hệ thống quản lý yếu kém gặp
phải nguy cơ rủi ro nợ xấu tăng lên bởi hầu hết các khách hàng có tiềm lực tài chính
lớn sẽ bị các ngân hàng nước ngoài thu hút.
Mặt khác, sự yếu kém trong quy hoạch kinh tế vĩ mô, phân bổ đầu tư không
hợp lý đã dẫn đến khủng hoảng thừa về đầu tư trong một số ngành. Mặc dù, nền
kinh tế thị trường thị trường tất yếu sẽ dẫn đến cạnh tranh, nguồn vốn đầu tư sẽ tự
điều tiết ở ngành nào có lợi nhất để đầu tư và sẽ từ bỏ những ngành không đem lại
lợi nhuận, và do đó có sự chuyển dịch vốn từ ngành này qua ngành khác và đây
cũng là một hiện tượng khách quan.
Chu kỳ kinh tế còn có mối quan hệ chặt chẽ với sự biến động giá bất động sản.
Trong thời kỳ hưng thịnh, sản xuất và tiêu dùng đều mở rộng, nguồn cung tiền dồi
dào và giá bất động sản tăng cao, các ngân hàng cũng mở rộng tín dụng bất động
sản. Ngược lại khi nền kinh tế phát triển quá nóng, Ngân hàng nhà nước thực hiện
thắt chặt tiền tệ thì bất động sản là thị trường đầu tiên bị ảnh hưởng, giá bất động
sản sụt giảm, tính thanh khoản hạn chế và khả năng trả nợ của các khoản vay gặp
khó khăn, đặc biệt là các khoản vay đầu cơ.
gia tăng nhanh chóng so với tư duy quản lý cũng là nguyên nhân dẫn đến sự phá sản
của các phương án kinh doanh đầy khả thi mà lẽ ra nó phải thành công trên thực tế.
Rủi ro do nguyên nhân từ phía ngân hàng cho vay
¾ Rủi ro do ngân hàng không chấp hành đầy đủ các nguyên tắc tín dụng
Rủi ro này xảy ra khi ngân hàng không thực hiện đúng quy trình, quy chế cho
vay, gia hạn nợ sai quy định, che dấu nợ quá hạn. Các khoản vay được cơ cấu
không phù hợp với tính chất của phương án vay, kế hoạch tr
ả nợ không căn cứ dòng
tiền của dự án, phương án sản xuất kinh doanh.
Các Ngân hàng không định giá khoản vay trên cơ sở đảm bảo lãi cho vay đủ
bù đắp chi phí biên của vốn, chi phí quản lý khoản vay, phần bù rủi ro và lợi nhuận
hợp lý cho Ngân hàng. Việc định giá khoản vay được thực hiện một cách cảm tính
hoặc cứng nhắc áp dụng chung cho tất cả mọi khách hàng; chứ không dựa vào việc
lượng hoá độ rủ
i ro của mỗi khách hàng, mỗi dự án.
¾ Bố trí cán bộ thiếu đạo đức và trình độ chuyên môn nghiệp vụ:
Công tác ngân hàng (đặc biệt là đối với hoạt động tín dụng) yêu cầu nguồn
nhân lực chất lượng cao vì ngân hàng là một doanh nghiệp đặc biệt, kinh doanh
trong lĩnh vực tiền tệ. Đối tượng khách hàng rất đa dạng, có quy mô, trình quản lý