1
Luận Văn
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ HOẠT ĐỘNG DỊCH VỤ NGÂN HÀNG TẠI
SỞ GIAO DỊCH NHCT VIỆT NAM
hơn 10 năm xây dựng và trưởng thành, NHCTVN đã khẳng định được vai
trò, vị trí là một trong những ngân hàng thương mại hàng đầu ở Việt Nam, 3
không ngừng đổi mới bộ máy tổ chức và mạng lưới kinh doanh, góp phần
đắc lực thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước, thực
thi chính sách tiền tệ, kiềm chế đẩy lùi lạm phát, thúc đẩy tăng trưởng kinh
tế đất nước. Tính đến 31/12/1998 NHCTVN có đội ngũ cán bộ nhân viên
trên 11000 người có mạng lưới bao gồm: Trụ sở chính và hai Sở giao dịch,
65 chi nhánh phụ thuộc, 25 chi nhánh trực thuộc, 433 phòng giao dịch, quỹ
tiết kiệm, 86 cửa hàng vàng bạc đặt tại trung tâm kinh tế và các khu vực
công thương nghiệp phát triển trong cả nước. NHCTVN có quan hệ đại lý
với 435 ngân hàng và tổ chức tiền tệ của 40 nước và khu vực trên thế giới.
Ngoài ra NHCT còn có các đơn vị thành viên. Trung tâm đào tạo nghiệp
vụ, trung tâm công nghệ thông tin, công ty cho thuê tài chính, tham gia hai
liên doanh với nước ngoài là IWDOVINA BANK và công ty cho thuê tài
chính quốc tế (VILC)
2.2 Nguyên nhân 40 5 2-/ Những hoạt động cở bản của Sở giao dịch
2.1 Giới thiệu chung.
Sở giao dịch NHCTVN là một chi nhánh ngân hàng thương mại lớn.
Trong những năm từ 1988 đến tháng 7 năm 1993 Sở giao dịch có tên là
"Trung tâm giao dịch NHCT thành phố, từ 1/7/93 trung tâm giao dịch
NHCT thành phố giải thể và đổi thành Sở giao dịch NHCTVN.
Sở giao dịch một mặt có chức năng như một chi nhánh của NHCT
thực hiện đầy đủ các mặt hoạt động như một ngân hàng thương mại, mặt
khác có vai trò quan trọng hơn các chi nhánh khác. Đây là nơi đầu tiên
nhận các quyết định chỉ thị, thực hiện thí điểm các chủ trương chính sách
của NHCTVN, đồng thời được NHCTVN uỷ quyền làm đầu mối cho các
chi nhánh phía Bắc trong việc thu chi ngoại tệ mặt, séc du lịch, visacard,
trị như các doanh nghiệp khác.
- Phòng tổ chức cán bộ: Quản lý cán bộ và tiền lương, tham mưu cho
ban lãnh đạo về xét tuyển, đề bạt cán bộ.
- Phòng ngân quỹ: Thực hiện thu chi tiền mặt đối với khách hàng và
bản thân ngân hàng.
- Phòng kiểm soát: Thực hiện kiểm soát nội bộ các nghiệp vụ của Sở
giao dịch.
- Phòng điện toán: Quản lý dữ liệu, thông tin quản lý, in kết quả kinh
doanh, các mẫu biểu báo cáo của Sở giao dịch.
- Phòng kinh doanh đối ngoại: Thực hiện các nghiệp vụ về thanh toán
quốc tế, kinh doanh ngoại tệ và hạch toán kế toán các nghiệp vụ bằng
ngoại tệ. Làm đầu mối thanh toán séc du lịch visacard, và tiền mặt ngoại tệ 7
cho các chi nhánh NHCT ở phía Bắc, thực hiện giải ngân một số dự án
ODA mà ngân hàng Công thương được chỉ định thực hiện.
Tất cả các phòng có mối liên hệ chặt chẽ với nhau để thực hiện chức
năng, nhiệm vụ của một ngân hàng thương mại. Cơ cấu tổ chức được đổi
mới theo hướng gọn nhẹ, hiệu quả, tránh cồng kềnh và chồng chéo. Và Sở
giao dịch đang tiến tới xây dựng một mô hình ngân hàng thương mại đa
năng, hiện đại, hướng tới sản phẩm mới, thị trường mới, tăng cường sức
cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường.
Từ khi thành lập đến nay Sở giao dịch luôn luôn là một trong những
chi nhánh đứng đầu trong hệ thống các chi nhánh của NHCTVN. Do Sở
giao dịch vừa là chi nhánh trực tiếp kinh doanh vừa làm đầu mối một số
công việc cho các chi nhánh ngân hàng Công thương phía Bắc. Với các ưu
thế về địa lý, cơ sở vật chất kỹ thuật cũng như bề dày hoạt động mà Sở
Giao dịch luôn nổi trội hơn các chi nhánh khác và chiếm vị trí chủ lực
Nguồn vốn dồi dào giúp Sở chủ động trong kinh doanh và ít bị lệ
thuộc vào NHCTVN. Tuy nhiên tiền gửi doanh nghiệp chiếm tỷ trọng lớn
nhưng trong đó đó tiền gửi không kỳ hạn cũng tăng tương ứng qua các năm
(chiếm từ 65 - 70% tổng nguồn). Đây cũng là điểm bất lợi của Sở vì doanh
nghiệp có thể rút vốn bất kỳ lúc nào gây bị động về vốn.
Các nguồn vốn trung dài hạn hiện nay ở Sở giao dịch chủ yếu là
nguồn vốn tài trợ uỷ thác đầu tư hoặc dưới dạng phát hành kỳ phiếu.
Qua số liệu trên ta cũng thấy được Sở giao dịch luôn coi trọng công
tác cải tiến hình thức, liên tục đa dạng hoá cũng như tạo ra các tiện ích cho
người gửi tiền với lãi suất luôn linh hoạt và phù hợp với thị trường. Đồng
thời áp dụng các hình thức ưu đãi lãi suất cho khách hàng thường xuyên có
số dư tiền gửi cao.
Nhờ nâng cao chất lượng phục vụ và biết khai thác yếu tố tâm lý của
người gửi tiền mà nguồn vốn huy động của Sở giao dịch ngày càng tăng
trưởng nhanh và ổn định cả về đồng nội tệ và ngoại tệ.
Tóm lại, nguồn vốn huy động lớn, dồi dào, tăng trưởng ổn định là điều
kiện cơ bản để Sở giao dịch có thể chủ động trong kinh doanh và tạo điều
kiện để phát triển các nghiệp vụ và các dịch vụ của ngân hàng. Đồng thời
giúp NHCTVN trong việc điều hoà vốn toàn hệ thống ngân hàng Công
thương.
BIỂU 1 - TÌNH HÌNH HUY ĐỘNG VỐN CỦA SỞ GIAO DỊCH
Đơn vị: Tỷ đồng 9
Năm 1996 Năm 1997 Năm 1998
Chỉ tiêu
Số tiền
+ Tiền gửi có kỳ hạn 939 30 1.207 30 2.091 38
III. Phân theo đơn v
ị
tiền tệ
- Tiền gửi bằng VNĐ
2.987 94 3.392 84 3.967 71
- Ti
ền gửi bằng ngoại
tệ
189 6 650 16 1.605 29
Nguồn báo cáo của Sở giao dịch NHCTVN năm 1996, 1997, 1998.
b. Sử dụng vốn
Trong 10 năm qua, hoạt động đầu tư và cho vay không ngừng được
mở rộng góp phần thúc đẩy tăng trưởng, phát triển và đổi mới kinh tế của
đất nước. Tính đến 31/12/1998 dư nợ cho vay đạt 875 tỷ tăng 19,5% so với
cùng kỳ năm 1997. Cơ cấu tín dụng được đổi mới và chuyển dịch theo
hướng mở rộng cho vay tất cả các thành phần kinh tế và dân cư, mọi ngành
nghề kinh doanh được Nhà nước cho phép đồng thời chú ý tới việc tăng tỷ
trọng cho vay trung và dài hạn và thực hiện tăng trưởng tín dụng đối với
các thành viên là các tổng công ty 90, 91. Mở rộng tín dụng tài trợ xuất
nhập khẩu, tín dụng bảo lãnh, các chương trình tín dụng bằng các nguồn 10
vốn của các tổ chức quốc tế đầu tư trên thị trường liên ngân hàng, đầu tư
trái phiếu
Trong khi nguồn vốn tăng nhanh trung bình từ 25 đến 27%/năm thì dư
- Tổng dư nợ 678 100 732 100 107,9
875 100 119,5
I. Phân theo th
ời
hạn
1. Ngắn hạn 540 79,5 585 78 108,3
380 43,4 64,9
2. Dài hạn 138 20,4 147 22 106,5
495 56,6 336,7
II. Theo thành ph
ần
KT
1. Quốc doanh 586 86,7 539 73,6 92 793 90,6 147
2. Ngoài qu
ốc
doanh
92 13,6 193 26,4 209,7
82 9,4 42,4
III. Theo đơn v
ị
T.tệ
41,3 264 36 94,3 262 29,9 99,2
5. Khác 58 8,6 133,9
18,1 230,8
10,4 2,1 7,7
V. Phân theo ch
ất
lượng
- Trung hạn 630 93 706 96 112 774 88 109,6
- Quá hạn 47,9 7 26,5 6 55,3 95 12 358,4
+ Quá hạn dư
ới 6
tháng
27 20 73
+ Quá hạn từ 6-
12
tháng
11 3,5 2,7
+ Quá hạn tr
ên 12
tháng
9,7 3 19,3
Nguồn báo cáo của Sở giao dịch NHCTVN 1996, 1997, 1998.
c. Nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ : (Xem biểu 3 trang 32) .
Nhờ kinh doanh ngoại tệ mà Sở giao dịch đa dạng hoá các nghiệp vụ
của Ngân hàng giúp cho thuận lợi, nhanh chóng thực hiện các nhu cầu của
tăng thêm mối quan hệ với các ngân hàng đại lý, tăng thêm thu nhập cho
NHCTVN và bản thân Sở giao dịch.
Doanh số mua bán ngoại tệ của Sở giao dịch luôn chiếm khoảng 10%
doanh số mua bán của toàn hệ thống NHCT. Để hoạt động kinh doanh
ngoại tệ ngày càng có hiệu quả, sớm làm quen và hoà nhập với các ngân
hàng khu vực và trên thế giới về kinh doanh ngoại tệ, từ năm 1995 NHCT
đã nối mạng với hãng Reuters, telerate để thường xuyên theo dõi sự biến
động của tỷ giá các loại ngoại tệ trên thị trường quốc tế. Đã sử dụng
Dealing Services để giao dịch trực tiếp với các ngân hàng nước ngoài. Đối
với hoạt động tín dụng ngoại tệ của Sở giao dịch, kinh doanh ngoại tệ góp 13
phần thực hiện việc vay, trả của các doanh nghiệp vay vốn của sở được
thực hiện nhanh chóng thuận lợi.
Nếu một ngân hàng chỉ có huy động, cho vay, thanh toán và làm các
dịch vụ có liên quan đến ngoại tệ mà không có bộ phận kinh doanh ngoại
tệ thì mọi hoạt động này khó có thể tiến hành được. Đặc biệt trong những
thời kỳ khó khăn do tỷ giá thường xuyên biến đổi, để đảm bảo an toàn vốn
cho vay nhằm thu nợ gốc và lãi vay ngoại tệ. Sở giao dịch đã chịu lỗ trong
kinh doanh ngoại tệ, bán ứng ngoại tệ cho các doanh nghiệp để hoàn trả
vốn vay cho Ngân hàng. Đây là biện pháp tình thế cấp bách nhưng rất cần
thiết.
Đứng trên tổng thể hoạt động của một ngân hàng thì việc lỗ ở nghiệp
vụ này để lãi ở nghiệp vụ khách và kết quả cuối cùng là thu lợi nhuận cao
thì điều đó thể hiện tính linh hoạt trong kinh doanh của Sở giao dịch. Qua
đó Sở giao dịch vừa giữ được khách hàng truyền thống vừa đảm bảo an
toàn vốn trong hoạt động tín dụng. Qua đây cũng bộc lộ sự phụ thuộc lẫn
nhau giữa hoạt động kinh doanh ngoại tệ và hoạt động tín dụng.
% so
97
I. Doanh số mua
149,05
9
100
110,17
1
100 73,9 87,860
100 79,7
1. Phân theo ngo
ại
tệ
- USD
142,15
2
95,4
99,461
90,3 81,534
92.8
- Các lo
ại Ntệ khác
quy đổi USD
6,907 4,6 10,711
131 23,259
21,1 41,443
47,2
- Tại SGD I
II. Doanh số bán
149,05
9
100
111,27
9
100 74,6 88,516
100 79,5
1. Phân theo ngo
ại
tệ
- USD
141,01
0
94,6
100,48
1
90,3 82,192
92,8
10 16,090
14,5
-
Bán cho
NHCTVN
2,000 1,3
III. Lỗ lãi KDNT
(Đơn v
ị: triệu
VNĐ)
2,453 449 18,3 - 4,063Nguồn Báo cáo của Sở giao dịch NHCTVN năm 1996, 1997, 1998.
2.2 Kết quả kinh doanh (Xem biểu 4 trang 33)
Trong những năm qua Sở giao dịch luôn hoàn thành vượt mức kế
hoạch của NHCT giao, nộp đủ cho ngân sách Nhà nước, và có lợi nhuận
đứng đầu trong các chi nhánh của hệ thống ngân hàng Công thương. Lợi
nhuận 1997 bằng 154% năm 1996 và năm 1998 bằng 122,18% so với
1997. Và tổng thu nhập của năm 1998 tăng do những nguyên nhân sau:
- Thu lãi cho vay tăng do dư nợ tăng trong khi đó lãi suất bình quân
năm 1998 vẫn bằng năm trước là 0,87%.
- Thu phí dịch vụ tăng.
- Đặc biệt thu lãi điều hoà tăng 27% so với năm 1997.
Qua phân tích khái quát hoạt động kinh doanh ta thấy Sở giao dịch đã
chú trọng khơi tăng nguồn vốn. Dư nợ có tăng nhưng chậm và chưa tương
xứng với tốc độ tăng của nguồn vốn và không ổn định. Đồng thời dư nợ
hầu hết tập trung vào số tổng công ty lớn như Tổng công ty Bưu chính viễn
121,7
- Thu lãi 102.928
76.614
74,4
85.426
111,5
- Tiền gửi TCTD
29.447
13.996
47,5
18.730
133,8
- Dịch vụ 8.331
7.247
87
289.942
121,6
- Trả lãi 222.931
224.300
100,6
269.768
120,2
-
Chi phí nhân
viên
5.903
7.672
130
7.443
97
- Chi phí khác 11.514
Để đảm bảo nguồn vốn huy động tăng hàng năm 25% mà NHCTVN
đã đề ra. Sở giao dịch đã phấn đấu để chủ động về nguồn vốn và cân đối
ngay tại Sở giao dịch, chủ động khai thác mọi nguồn vốn trong nền kinh tế
bằng nhiều hình thức. Trong đó có hình thức thu hút khách hàng đến mở tài
khoản và giao dịch với thủ tục đơn giản và thuận tiện. Tính đến tháng 6 năm
1999 đã có 4.093 tài khoản được mở trong đó có 1.972 tài khoản doanh
nghiệp và 2.121 tài khoản cá nhân.
Với bề dày hoạt động, hơn 10 năm qua Sở giao dịch đã tạo được niềm
tin với khách hàng vì vậy số khách hàng đến với ngân hàng ngày càng
tăng. Trong đó có mối quan hệ truyền thống với một số doanh nghiệp lớn
như Tổng công ty Bưu chính viễn thông, Tổng công ty điện lực, xí nghiệp
liên hợp đường sắt, tính đến tháng 6/1999: tổng nguồn vốn huy động xấp xỉ
6.358 tỷ tăng 14,10% so với 31/12/1998 và tăng 50,95% so với cùng kỳ
năm trước. Với kết quả này Sở giao dịch luôn là đơn vị đi đầu về công tác
huy động vốn trong toàn hệ thống và là đơn vị có nguồn vốn huy động lớn
nhất trên địa bàn thành phố Hà Nội (chiếm tỷ trọng 14%)
Về cơ cấu nguồn vốn huy động thì tiền gửi doanh nghiệp là 3.385 tỷ
chiếm tỷ trọng 61,2% trong tổng nguồn vốn so với đầu năm tăng 14% so
với cùng kỳ năm trước tăng 46,6%. Tiền gửi tiết kiệm là 2.473 tỷ chiếm tỷ
trọng 38,8% trong tổng nguồn vốn. So với đầu năm tăng 20,4% so với
cùng kỳ năm trước tăng 46% nguồn vốn tăng trưởng nhanh, ổn định và
vững chắc. Số dư bình quân hàng năm tăng 20-27%.
Việc huy động tiền gửi dân cư được thực hiện tại 6 quỹ tiết kiệm với
nhiều hình thức phong phú như phát hành kỳ phiếu nội tệ, ngoại tệ, tiền gửi
không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn trả lãi định kỳ, trả lãi trước, trả lãi sau với
lãi suất linh hoạt mềm dẻo, tạo điều kiện thu hút khách hàng đến với ngân
hàng.
2-/ Dịch vụ thanh toán.
2.1 Dịch vụ thanh toán chuyển tiền trong nước.
lại phát triển thêm một bước mới đó là thanh toán liên hàng bằng máy vi
tính truyền qua MODEM thoại thay cho việc chuyển giấy báo liên hàng
qua bưu điện. Kết quả đó không những thu hút khách hàng đến với NHCT
ngày càng nhiều mà còn nâng cao uy tín của NHCT tạo tiền đề cho những
bước phát triển cao hơn nữa của NHCTVN vào những năm sau này. 19
Để mở rộng và cải tiến thanh toán không dùng tiền mặt đáp ứng yêu
cầu phát triển kinh tế, ổn định giá trị đồng tiền. Chính phủ đã ra Nghị định
91/CP ngày 25/11/1993 về tổ chức thanh toán không dùng tiền mặt và
thống đốc ngân hàng Nhà nước ra quyết định số 22/QĐ - NH ngày
21/2/1994 ban hành thể lệ thanh toán không dùng tiền mặt đã làm thay đổi
cơ bản về phạm vi cũng như phương tiện thanh toán trong nền kinh tế. Tạo
điều kiện cho các TCTD trong nước mở rộng đổi mới phương thức thanh
toán nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh.
Không thoả mãn và dừng lại ở đó trong khi nền kinh tế thị trường
ngày càng mở rộng, công nghệ thông tin bùng nổ, nhu cầu về thanh toán và
quản lý vốn tập trung đặt ra cấp thiết nhằm tăng nhanh vòng quay của đồng
vốn đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng vốn của các tài chính
kinh tế nói chung và đối với NHCTVN đó là mục tiêu cấp bách đã được
Hội đồng quản trị điều hành thống nhất phương hướng chỉ đạo nghiên cứu
soạn thảo quy trình nghiệp vụ thanh toán điện tử trong hệ thống NHCT và
Sở giao dịch đã được NHCT chọn làm thí điểm. Sau thời gian thử nghiệm
ngày 1/7/1996 thanh toán điện tử đã chính thức được áp dụng trong nội bộ
NHCT.
Việc triển khai nhanh chóng thanh toán điện tử trong hệ thống NHCT
không chỉ nâng cao uy tín với khách hàng mà còn nâng cao vị trí của
NHCTVN lên hàng đầu hệ thống ngân hàng Việt Nam trong lĩnh vực hiện
Năm 1996 Năm 1997 Năm 1998
Chỉ tiêu
S.Mó
n
T.số tiền
Tỷ
trọng
S.Mó
n
T.số tiền
Tỷ
trọng
% so 96
S.Mó
n
T.số tiền
Tỷ
trọng
% so 97
I. Phân lo
ại theo c.cụ
t.toán
- N.phiếu thanh toán
2460
6
3171.132 21340
2319368
23900
2604989B.Thanh toán không
dùng TM
2890
78
168763.6
31
95,2
26544
3
1507180
38
94,3
26157
3. Séc chuyển tiền 321
71.162 352
72384
232
48296
22
4. Séc cá nhân 41
97 10
113
-
-5. Uỷ nhiệm thu
4042
1
8. Loại khác
1450
74
129009.1
98
97369
6777169
2
88328
1091713
80Tổng cộng
3562
07
177272.1
94
qua Sở giao dịch nhưng thực tế theo số liệu thống kê của ngân hàng Nhà
nước thì tỷ lệ thanh toán tiền mặt trong dân cư hiện nay vẫn chiếm tới 30 -
35% trong tổng doanh số thanh toán của nền kinh tế.
Mặc dù việc triển khai thanh toán không dùng tiền mặt trong dân cư từ
lâu là mối quan tâm của cả hệ thống ngân hàng thể hiện:
Ngày 19/8/1993 Thống đốc ngân hàng Nhà nước đã ban hành quyết
định 160/QĐ - NH 2 và thể lệ mở và sử dụng tài khoản tiền gửi của doanh
nghiệp tư nhân và cá nhân trong đó đã hướng dẫn cụ thể và tạo điều kiện
thuận lợi để cho các doanh nghiệp và cá nhân mở tài khoản và thanh toán
qua ngân hàng. Từ đó đến nay ngân hàng Nhà nước cùng với các ngân
hàng thương mại thực hiện chủ trương mở rộng công tác thanh toán không
dùng tiền mặt trong dân cư bằng nhiều biện pháp khuyến khích như miễn
phí mở tài khoản, phát hành và sử dụng séc cá nhân, ngân hàng cũng
không thu phí.
Tại Sở giao dịch tính đến tháng 6/1999 đã có 2121 tài khoản cá nhân
được mở nhưng chỉ có 1.011 tài khoản hoạt động và số tài khoản hoạt động
thường xuyên chỉ chiếm 30 - 50% tổng số tài khoản cá nhân, số dư tiền gửi
bình quân chỉ chiếm từ 0,2 - 0,35% tổng số dư tiền gửi thanh toán và séc cá 24
nhân được sử dụng trong thanh toán cũng rất hạn chế chỉ chiếm từ 0,4 -
0,6% so với tổng doanh số thanh toán qua tài khoản cá nhân (Xem biểu 6
trang 40).
Nghị định số 30 CP ngày 9/5/96 ban hành quy chế phát hành và sử
dụng séc đã tạo những thuận lợi cho người dùng séc song cũng nảy sinh
những phức tạp. Tại chương III điều 12 Nghị định 30/CP ghi "chủ tài
khoản được phép uỷ quyền cho người khác ký phát hành séc thay mình và
người phát hành séc có quyền hạn và nghĩa vụ như chủ tài khoản trong
851 642 1.011
+ S
ố T.khoản: ít hoặc
738
881 1.278 1.110
25
không hoạt động
2. Số dư tiền gửi b
ình
quân
40.200
25.700 12.050 10.600
3. D.số T.toán qua t
ài
khoản cá nhân
226.716
257.045 265.472 137.978
a. T.toán b
ằng uỷ
mặt, NFTT
+ Số món 3.721
5.237 6.050 3.034
+ Số tiền 152.753
206.700 195.360 101.669
Nguồn báo cáo tình hình mở và sử dụng tài khoản cá nhân tại Sở giao
dịch năm 1996, 1997, 1998.
- Đối với dịch vụ chuyển tiền cá nhân: Do quán triệt được tinh thần
đẩy mạnh công tác dịch vụ chuyển tiền trong dân cư không chỉ đơn thuần
là thu dịch vụ phí mà nó còn mang ý nghĩa quan trọng thu hút được lượng
tiền mặt vào ngân hàng, thúc đẩy công tác thanh toán không dùng tiền mặt
trong khu vực dân cư, tiết kiệm chi phí lưu thông và ngân hàng sẽ thực
hiện được vai trò trung tâm thanh toán của nền kinh tế. Nên Sở giao dịch
đã tổ chức tốt dịch vụ chuyển tiền cá nhân với các hình thức chuyển tiền
nhanh hoặc chuyển bình thường theo yêu cầu của khách hàng.
Đến tháng 8/1999 thực hiện công văn 2098/CV - NHCT 10 ngày
9/8/1999 của NHCTVN "hướng dẫn bổ xung chuyển tiền cá nhân" Sở đã
thực hiện chi trả tiền đến tận nhà nếu khách hàng yêu cầu. Vì vậy khách
hàng không phải thường xuyên gọi điện đến Ngân hàng để hỏi gây mất
thời gian và phiền hà cho khách. Dịch vụ chuyển tiền cá nhân của Sở giao
dịch đã tăng nhanh qua các năm.