Trường Đại học Thương Mại
Khoa Marketing
Môn: Nhập môn tài chính tiền tệ
GVHD: Lê Thu Huyền
Nhóm: 9
Lớp: 1202EFIN0112
Đề tài: Thực trạng việc áp dụng các nguyên tắc chi
ngân sách nhà nước trong hoạt động chi ngân sách nhà nước Việt
Nam. Đánh giá thực trạng và đưa ra các giải pháp để hạn chế thất
thoát nguồn ngân sách nhà nước Việt Nam hiện nay.
Phản biện đề tài: 02, 03
Nhập môn tài chính tiền tệ Nhóm 09
Hà Nội, 2012
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Độc lập- Tự do- Hạnh phúc
o0o
BIÊN BẢN HỌP NHÓM THẢO LUẬN
I, Thời gian: 15h ngày 02/05/2012
II, Địa điểm: phòng thảo luận V303a, trường ĐHTM
III, Thành phần
1,Nguyễn Thị Thịnh 4, Tạ Thúy Thúy 8, Lê Xuân Thuyết
2, Nguyễn Thị Thơm 5, Cao Thị Thùy 9, Nguyễn Văn Toàn
3, Nguyễn Thị Huyền Thu 6, Nguyễn Thị Thu Thảo 10, Đỗ Kim Thùy
7, Trương Thị Thu Thủy 11, Tạ Đình Thiện
IV, Nội Dung
Nhóm trưởng triển khai nội dung đề tài thảo luận cho cả nhóm, nhóm tiến hành
thảo luận để đưa ra dàn ý theo yêu cầu của đề tài
Nhóm đưa ra dàn ý và phân công nhiệm vụ như sau:
Nhập môn tài chính tiền tệ Nhóm 09
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Độc lập- Tự do- Hạnh phúc
o0o
BIÊN BẢN HỌP NHÓM THẢO LUẬN
I, Thời gian: 15h ngày 18/05/2012
II, Địa điểm: phòng thảo luận V303a, trường ĐHTM
III, Thành phần
1,Nguyễn Thị Thịnh 4, Tạ Thúy Thúy 8, Lê Xuân Thuyết
2, Nguyễn Thị Thơm 5, Cao Thị Thùy 9, Nguyễn Văn Toàn
3, Nguyễn Thị Huyền Thu 6, Nguyễn Thị Thu Thảo 10, Đỗ Kim Thùy
7, Trương Thị Thu Thủy 11, Tạ Đình Thiện
IV, Nội Dung
Nhóm cùng kiểm tra lại bản word của bài thảo luận.
- Tìm hiểu về đề tài mà nhóm được phân công phản biên
Biên bản kết thúc vào hồi 15h30 ngày 18 tháng 05 năm 2012
Thư ký Nhóm trưởng
Tạ Thúy Thúy Cao Thị Thùy
Page 4 of 30
Nhập môn tài chính tiền tệ Nhóm 09
BẢNG ĐÁNH GIÁ
STT Họ và tên Nhiệm vụ Đánh giá Ký tên
1 Nguyễn Thị
Thu Thảo
2 Tạ Đình Thiện
3 Nguyễn Thị Thịnh
4 Nguyễn Thị Thơm
5 Nguyễn Thị
nước đã ấn định các thứ thuế, bắt công dân phải đóng góp lập ra quỹ tiền tệ riêng _quỹ
ngân sách Nhà nước(NSNN)_để chi tiêu cho bộ máy nhà nước quân đội, cảnh sát,…
NSNN phản ánh các quan hệ kinh tế phát sinh gắn liền với quá trình tạo lập, phân phối và
sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước khi Nhà nước tham gia phân phối các nguồn
tài chính quốc gia nhằm thực hiện các chức năng của Nhà nước trên cơ sở luật định.
Cũng như các nhà nước khác, Nhà nước Việt Nam có quỹ tiền tệ riêng để duy trì và thực
hiện các chức năng của mình thông qua việc chi NSNN cho đầu tư, cho sự nghiệp kinh
tế, cho y tế, cho giáo dục đào tạo và nghiên cứu khoa hoc,…
Ngân sách quốc gia là công cụ điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế xã hội, định hướng phát triển
sản xuất, điều tiết thị trường, bình ổn giá cả, điều chỉnh đời sống xã hội và là công cụ
định hướng hình thành cơ cấu kinh tế mới, kích thích phát triển sản xuất kinh doanh và
chống độc quyền thông qua các chính sách chi NSNN.
Để tìm hiểu việc chi đó có mang lại hiệu quả và đạt được mục đich đã đề ra của
chính phủ hay không, chúng ta cần nắm vững lý luận chung về chi NSNN và phân tích,
đánh giá tình hình thực trạng chi NSNN ở nước ta hiện nay để từ đó đưa ra các giải pháp
khắc phục yếu kém, sai lầm.
Dựa trên cơ sở lý thuyết về chi NSNN, đồng thời kết hợp với việc tìm hiểu thực
trạng việc chi NSNN ở nước ta những năm gần đây, chúng tôi có đưa ra một số nhận xét
đánh giá và giải pháp nâng cao việc chi NSNN có hiệu quả. Bài thảo luận bao gồm 3 nội
dung chính:
A. Lý luận chung về chi NSNN.
B. Thực trạng chi NSNN.
. C. Giải pháp nâng cao hiệu quả và hạn chế thất thoát trong chi NSNN
A. Lý luận chung về chi NSNN.
I. Khái niệm, đặc điểm và nội dung chi NSNN:
Page 7 of 30
Nhập môn tài chính tiền tệ Nhóm 09
1. Khái niệm:
Chi NSNN là việc phân phối và sử dụng quỹ
NSNN nhằm đảm bảo thực hiện các chức năng
-Chi NSNN là một bộ phận cấu thành luồng vận động tiền tệ và nó gắn liến với sự
vận động của các phạm trù giá trị khác như giá cả, tiền lương, tín dụng, thuế, tỉ giá hối
đoái…
II.Phân loại chi Ngân sách Nhà nước.
-Căn cứ vào các lĩnh vực hoạt động
+) Chi đầu tư phát triển kinh tế: là khoản chi quan trọng thường chiếm tỷ trọng lớn
trong tổng chi của Ngân sách Nhà nước, có tác dụng tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật cho
nền kinh tế, tác động trực tiếp đến tăng trưởng kinh tế, làm tăng tổng sản phẩm quốc nội
và tạo điều kiện để tái tạo và tăng nguồn thu NSNN.
+) Chi phí phát triển sự nghiệp: là khoản chi của NSNN nhằm phát triển các lĩnh
vực, sự nghiệp trong xã hội.
+) Chi cho quản lý Nhà nước: là khoản chi nhằm đảm bảo duy trì và cải tiến sự
hoạt động của bộ máy Nhà nước.
+) Chi cho an ninh,quốc phòng: là khoản chi cho xây dựng duy trì và cải tiến sự
hoạt động của các lực lượng an ninh, quốc phòng nhằm đảm bảo sức mạnh chuyên chính
của Nhà nước, bảo vệ tổ quốc và duy trì trật tự trị an toàn cho xã hội.
+) Chi đảm bảo và phúc lợi xã hội: là khoản chi nhằm đảm bảo và nâng cao đời
sống về vật chất và tinh thần cho dân cư, đặc biệt là tầng lớp người nghèo trong xã hội.
- Căn cứ theo mục đích chỉ tiêu
+) Chi cho tích luỹ: là khoản chi NSNN nhằm mục đích làm tăng cơ sở vật chất và
tiềm lực cho nền kinh tế.
+) Chi cho tiêu dùng: là khoản chi NSNN không nhằm mục đích trực tiếp tạo ra
sản phẩm vật chất để tiêu dùng trong tương lai mà chỉ là tiêu dùng ở hiện tại.
Page 9 of 30
Nhập môn tài chính tiền tệ Nhóm 09
-Căn cứ vào tính chất các khoản chi
+) Chi thường xuyên
+) Chi không thường xuyên
III.Những nguyên tắc tổ chức chi NSNN.
Chi NSNN có vai trò quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của
5. Phân biệt rõ nhiệm vụ kinh tế - xã hội của các cấp chính quyền theo luật định để
bố trí các khoản chi chồng chéo, khó kiểm tra, giám sát, nâng cao trách nhiệm và
tính chủ động của các cấp.
6. Tổ chức chi NSNN trong sự phối hợp chặt chẽ với khối lượng tiền tệ, lãi suất, tỉ
giá hối đoái để tạo nên công cụ tổng hợp cùng tác động đến các vấn đề của kinh tế
vĩ mô.
IV. Các nhân tố ảnh hưởng đến chi NSNN.
- Bản chất chế độ xã hội.
- Sự phát triển của lực lượng sản xuất.
- Khả năng tích luỹ cuả nền kinh tế.
- Mô hình tổ chức bộ máy Nhà nước và những nhiệm vụ kinh tế, xã hội mà Nhà nước
đảm nhiệm trong từng thời kỳ.
- Một số nhân tố khác như: biến động kinh tế, chính trị, xã hội, giá cả, lãi suất, tỷ giá hối
đoái…
Page 11 of 30
Nhập môn tài chính tiền tệ Nhóm 09
V. Vai trò của chi NSNN.
1. Điều tiết nền kinh tế, thúc đẩy phát triển kinh tế.
Ngân sách quốc gia là công cụ định hướng
hình thành cơ cấu kinh tế mới, kích thích phát
triển sản xuất kinh doanh và chống độc quyền.
Trước hết, Chính phủ sẽ hướng hoạt động cuả
các chủ thể trong nền kinh tế đi vào quỹ đạo mà
Chính phủ đã hoạch định để hình thành cơ cấu
kinh tế tối ưu, tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển ổn định và bền vững. Thông qua
hoạt động chi NSNN, Nhà nước sẽ cung cấp kinh phí đầu tư cho cơ sở kết cấu hạ tầng,
hình thành các doanh nghiệp thuộc các ngành then chốt trên cơ sở đó tạo môi trường và
điều kiện thuận lợi cho sự ra đời và phát triển các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần
kinh tế (có thể thấy rõ nhất tầm quan trọng của điện lực, viễn thông, hàng không đến hoạt
động kinh doanh của các doanh nghiệp).
điều tiết của Chính phủ thông qua việc thực hiện một cách đồng bộ giữa các công cụ tài
chính, tiền tệ giá cả…trong đó công cụ ngân sách với các biện pháp như phát hành công
trái, chi trả nợ, các biện pháp chi tiêu dùng của Chính phủ cho toàn xã hội, đào tạo…
4. Tăng cường sức mạnh của bộ máy Nhà nước, bảo vệ đất nước và giữ gìn an
ninh.
NSNN là công cụ tài chính quan trọng nhất để cung ứng nguồn tài chính cho hoạt
động của bộ máy nhà nước từ trung ương đến xã, phường ở nước ta, nguồn NSNN hầu
như là nguồn duy nhất để phục vụ cho các hoạt động của bộ máy nhà nước đến các cơ
quan quyền lực,cơ quan hành chính Nhà nước đến các cơ quan tư pháp. NSNN còn cung
Page 13 of 30
Nhập môn tài chính tiền tệ Nhóm 09
ứng nguồn tài chính cho Đảng cộng sản lãnh đạo hoạt động, tài trợ cho các tổ chức xã hội
mà nguồn tài chính của các tổ chức này không đảm bảo. Như vậy chi NSNN có vai trò
quan trọng trong việc quản lý và duy trì hệ thống chính trị của nước ta.
B. Thực trạng chi NSNS năm 2011
I. Bảng chi NSNN
CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
CHI CÂN ĐỐI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
725,600 796,000 903,100
I Chi đầu tư phát triển 152,000 175,00
0
180,000
II Chi trả nợ và viện trợ 86,000 101,00
0
100,000
1 Trả nợ trong nước 66,300 79,300 77,850
2 Trả nợ ngoài nước 18,700 20,700 21,000
3 Chi viện trợ 1,000 1,000 1,150
Thực hiện Nghị quyết của Đảng, Quốc hội, Chính phủ đã tập trung chỉ đạo điều
hành NSNN năm 2011 theo nguyên tắc đảm bảo cân đối đủ nguồn để thực hiện các
nhiệm vụ chi theo dự toán Quốc hội, HĐND các địa phương đã thông qua. Yêu cầu các
Bộ, ngành và địa phương chủ động sắp xếp, bố trí trong phạm vi dự toán được giao để xử
lý các nhiệm vụ phát sinh đột xuất trong năm, trừ các trường hợp thực hiện theo chính
sách, chế độ mới ban hành và phòng chống, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh;
các địa phương phấn đấu tăng thu ngân sách, chủ động dành nguồn đối phó với thiên tai,
dịch bệnh và xử lý các nhu cầu cấp thiết về an sinh xã hội, quốc phòng, an ninh tại địa
phương.
Trong quá trình tổ chức thực hiện chi NSNN, các Bộ, cơ quan trung ương và địa
phương cũng đã nghiêm túc chấp hành kiểm soát chặt chẽ đầu tư công và tiết kiệm chi
tiêu thường xuyên, tăng cường kiểm soát chi để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ngân
sách; đã thực hiện rà soát, sắp xếp lại để điều chuyển khoảng 9.452 tỷ đồng vốn đầu tư từ
NSNN, trái phiếu Chính phủ và xổ số kiến thiết để tập trung vốn đẩy nhanh tiến độ các
công trình, dự án quan trọng, cấp bách, hoàn thành trong năm 2011. Số vốn cắt giảm nêu
trên được điều chuyển cho các dự án hoàn thành, cấp bách cần đẩy nhanh tiến độ. Nhờ
việc cắt giảm, điều chuyển, số dự án hoàn thành trong năm 2011 tăng thêm 1.053 dự án.
Ngoài ra, các bộ, ngành, địa phương cònthực hiện tiết kiệm thêm 10% chi thường xuyên
Page 15 of 30
Nhập môn tài chính tiền tệ Nhóm 09
của 9 tháng còn lại trong dự toán năm 2011 là 3.857,7 tỷ đồng để chi cho lĩnh vực an sinh
xã hội.
Số vượt thu NSTW, căn cứ quy định của Luật Ngân sách nhà nước, Nghị quyết
của Quốc hội, tình hình thực tế năm 2011 và yêu cầu bố trí dự toán NSNN năm 2012, sau
khi thưởng vượt thu, bù hụt thu cân đối do nguyên nhân khách quan (nếu có) và đầu tư
trở lại cho NSĐP theo chế độ, tăng chi cho các nhiệm vụ đã xác định từ nguồn tăng thu
viện trợ, Chính phủ trình Quốc hội tập trung sử dụng để: (1) giảm bội chi NSNN, (2) tăng
chi trả nợ, (3) chuyển nguồn đảm bảo cân đối NSNN năm 2012.
Số vượt thu NSĐP, theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước và Nghị quyết của
Quốc hội, phần vượt thu tiền sử dụng đất (khoảng 13.500 tỷ đồng) địa phương sử dụng để
trợ được giao; một số cơ quan, đơn vị ở Trung ương và địa phương còn chần chừ, thiếu
kiên quyết trong cắt giảm đầu tư công, khởi công dự án mới trái quy định
b) Chi trả nợ và viện trợ:
Dự toán chi 86.000 tỷ đồng, ước cả năm đạt 101.000 tỷ đồng, tăng 17,4% so với
dự toán, tăng 25,9% so với thực hiện năm 2010 đảm bảo thanh toán kịp thời các khoản
nợ đã cam kết và thực hiện nhiệm vụ đối ngoại của nhà nước.
Số chi vượt dự toán (15.000 tỷ đồng) nhằm đảm bảo tăng chi trả nợ ngoài nước do
biến động chênh lệch tỷ giá ngoại tệ và tăng trả nợ gốc đối với các khoản vay ngắn hạn
để giảm áp lực bố trí trả nợ các năm sau.
c) Chi thường xuyên (bao gồm cả chi cải cách tiền lương):
Dự toán chi 469.100 tỷ đồng. Trên cơ sở phân bổ sử dụng nguồn dự phòng ngân
sách đã bố trí đầu năm và dự kiến bổ sung thêm từ nguồn vượt thu NSNN năm 2011
cho chi thường xuyên, chủ yếu để khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh và bảo đảm an
sinh xã hội; ước thực hiện chi ngân sách cho lĩnh vực này cả năm đạt 491.500 tỷ đồng,
tăng 4,8% so với dự toán, tăng 17,5% so với năm 2010.
Trong chỉ đạo điều hành, Chính phủ đã tập trung kinh phí thực hiện các chính sách
an sinh xã hội và xác định đây là mặt công tác trọng tâm trong năm 2011. Bên cạnh việc
đảm bảo chi cho những chính sách đã được bố trí dự toán đầu năm
[6]
và thực hiện chi trả
tiền lương, lương hưu và trợ cấp xã hội theo mức tiền lương tối thiểu mới 830.000
đồng/tháng từ ngày 01/05/2011 theo đúng kế hoạch, Chính phủ đã ban hành và tổ chức
thực hiện một số chính sách mới, như: trợ cấp khó khăn đối với cán bộ, công chức, viên
chức, lực lượng vũ trang, người hưởng lương hưu có mức lương thấp, người hưởng trợ
cấp ưu đãi người có công và hộ nghèo đời sống khó khăn; hỗ trợ tiền điện cho hộ nghèo;
nâng mức cho học sinh sinh viên vay từ mức 900.000 đồng/người/tháng lên 1.000.000
đồng/người/tháng
III. Dự toán chi NSNN năm 2012
1. Dự toán chi NSNN năm 2012:
Thứ ba, bố trí chi dự phòng, dự trữ quốc gia hợp lý để chủ động phòng, chống,
khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh, ; bố trí đảm bảo chi trả nợ theo cam kết.
Thứ tư, dự toán chi cho các chương trình mục tiêu quốc gia với mức tăng tương
ứng hoặc cao hơn tốc độ tăng chi chung của các lĩnh vực chi.
Trên cơ sở các nguyên tắc như trên, dự toán chi NSNN năm 2012 là 903.100 tỷ
đồng, được bố trí cho các nhiệm vụ chính như sau:
a) Dự toán chi đầu tư phát triển: 180.000 tỷ đồng, tăng 18,4% (28.000 tỷ đồng)
so dự toán năm 2011, bằng 19,9% tổng chi NSNN (dự toán năm 2011 là 20,9%) để tập
trung ưu tiên đầu tư cho nông nghiệp nông thôn, các công trình giao thông cấp thiết; các
Page 18 of 30
Nhập môn tài chính tiền tệ Nhóm 09
công trình y tế, giáo dục phục vụ an sinh xã hội; các dự án phục vụ an ninh, quốc phòng
đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới trong đó tập trung đầu tư cho các công trình, dự án
lớn cần đẩy nhanh tiến độ đưa vào hoạt động nhằm mang lại hiệu quả đầu tư; chi cấp bù
chênh lệch lãi suất tín dụng đầu tư Nhà nước và chính sách tín dụng ưu đãi đối với hộ
nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số và đối tượng chính sách; cho vay ưu đãi theo chính sách
xã hội của nhà nước (người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số cải thiện nhà ở, phát triển
sản xuất, xuất khẩu lao động ); đầu tư thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia; chi
dự trữ quốc gia để ứng phó với diễn biến phức tạp của biến đổi khí hậu, thiên tai, bão
lũ,
Ngoài ra, năm 2012 dự kiến phát hành khoảng 45.000 tỷ đồng trái phiếu Chính
phủ để tiếp tục thực hiện các dự án giao thông, thuỷ lợi, y tế, giáo dục và các công trình
thuỷ điện. Tính cả nguồn trái phiếu Chính phủ và nguồn thu xổ số kiến thiết thì tổng chi
đầu tư phát triển năm 2012 bằng khoảng 25% tổng chi NSNN và 8,2%GDP (dự toán năm
2011 tương ứng là 26,3% và 9%).
b) Dự toán chi trả nợ và viện trợ: 100.000 tỷ đồng, tăng 14.000 tỷ đồng so với dự
toán năm 2011 để đảm bảo chi trả các khoản nợ trong và ngoài nước đến hạn. Đồng thời
vẫn phải thực hiện biện pháp phát hành để đảo nợ và giãn trả các khoản vay từ các quỹ
tài chính Nhà nước.
c) Dự toán chi thường xuyên: 542.000 tỷ đồng, bằng 60% tổng dự toán NSNN, tăng
trình định hướng nghề nghiệp - ứng dụng; chi thực hiện các chương trình mục tiêu quốc
gia theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền.
- Dự toán chi sự nghiệp y tế: 51.100 tỷ đồng, tăng 14,5% so dự toán năm 2011.
Cùng với chi đầu tư XDCB, chi từ nguồn thu xổ số kiến thiết, trái phiếu Chính phủ và chi
cải cách tiền lương (bao gồm cả chi thực hiện chế độ phụ cấp ưu đãi theo nghề đối với
công chức, viên chức công tác tại các cơ sở y tế công lập theo quy định tại Nghị định số
56/2011/NĐ-CP ngày 4/7/2011 của Chính phủ), đảm bảo tổng dự toán chi NSNN cho
lĩnh vực y tế tăng cao hơn so với tốc độ tăng chi chung của NSNN theo đúng Nghị quyết
số 18/2008/QH12 của Quốc hội về đẩy mạnh thực hiện chính sách, pháp luật xã hội hoá
để nâng cao chất lượng chăm sóc sức khoẻ nhân dân. Trong đó, tập trung đảm bảo chi
cho công tác khám chữa bệnh, chi phòng chống dịch bệnh, chi vốn đối ứng tiếp nhận các
dự án ODA; chi mua thẻ bảo hiểm y tế cho người nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi, hỗ trợ cá
nhân thuộc hộ gia đình làm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và diêm nghiệp, hỗ trợ
người cận nghèo, học sinh, sinh viên mua thẻ bảo hiểm y tế theo Luật Bảo hiểm y tế; dự
phòng kinh phí phòng, chống dịch; dự kiến chi bổ sung, sửa đổi chế độ phụ cấp đặc thù
đối với công chức, viên chức người lao động ngành y tế; chi thực hiện các chương trình
mục tiêu quốc gia theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền.
- Dự toán chi sự nghiệp khoa học và công nghệ: 7.160 tỷ đồng, tăng 10,4% so
dự toán năm 2011. Cùng với chi đầu tư XDCB và chi điều chỉnh tiền lương, đảm bảo
tổng dự toán chi NSNN cho khoa học và công nghệ bằng 2% tổng chi NSNN, đảm bảo
kinh phí thực hiện các đề tài, dự án của các chương trình khoa học và công nghệ cấp nhà
nước theo các quyết định của Thủ tướng Chính phủ; các đề tài, dự án khoa học và công
nghệ độc lập cấp nhà nước; Đề án khai thác quỹ gien; nghiên cứu cơ bản theo định hướng
ứng dụng; hợp tác theo Nghị định thư được ký kết giữa Chính phủ Việt Nam và Chính
phủ các nước; chi phát triển thị trường khoa học công nghệ; cấp vốn điều lệ cho Quỹ Đổi
mới công nghệ quốc gia,
- Dự toán chi lĩnh vực văn hoá: Cùng với chi XDCB, chi cải cách tiền lương bố
trí chi lĩnh vực văn hoá đạt trên 1,8% tổng chi NSNN. Trong đó:
Page 20 of 30
Nhập môn tài chính tiền tệ Nhóm 09
tượng do NSNN bảo đảm; chi trợ cấp ưu đãi cho người có công với cách mạng; chi trợ
cấp cho người tham gia kháng chiến chống Mỹ, tham gia chiến tranh bảo vệ tổ quốc và
làm nhiệm vụ quốc tế sau năm 1975; chi công tác tìm kiếm quy tập mộ liệt sỹ; chi mua
bảo hiểm y tế cho thân nhân của cán bộ, sỹ quan, chiến sỹ phục vụ trong lực lượng vũ
trang; chi thực hiện chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội; chi hỗ trợ người lao
động là người dân tộc thiểu số tại các doanh nghiệp quốc phòng, doanh nghiệp trên địa
bàn các tỉnh Tây Nguyên; chi thực hiện Luật Người cao tuổi và Luật Người khuyết tật;
chi bảo vệ và chăm sóc trẻ em; chi phòng chống các tệ nạn xã hội; chi NSNN hỗ trợ quỹ
Page 21 of 30
Nhập môn tài chính tiền tệ Nhóm 09
bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội; chi thực hiện các chương
trình mục tiêu quốc gia theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền.
- Dự toán chi sự nghiệp kinh tế: 49.488 tỷ đồng, tăng 15,3% so dự toán năm
2011. Ưu tiên bố trí kinh phí thực hiện các nhiệm vụ đặc thù như Chương trình phát triển
kinh tế xã hội 62 huyện nghèo; Chương trình bố trí dân cư các vùng thiên tai, đặc biệt
khó khăn, biên giới, hải đảo, di cư tự do, xung yếu và rất xung yếu của rừng phòng hộ,
khu bảo vệ nghiêm ngặt của rừng đặc dụng; chính sách hỗ trợ di dân thực hiện định canh,
định cư cho đồng bào dân tộc thiểu số đến năm 2012; chính sách khuyến khích, hỗ trợ
khai thác, nuôi trồng hải sản và dịch vụ khai thác hải sản trên các vùng biển xa; Đề án thí
điểm bảo hiểm nông nghiệp cho nông dân ở một số địa phương giai đoạn 2011-2013;
kinh phí thực hiện phân giới cắm mốc biên giới đất liền Việt Nam - Lào, Việt Nam -
Campuchia, ; chi thực hiện phòng, chống dịch lở mồm long móng, dịch cúm gia cầm;
kinh phí thực hiện kiểm kê rừng toàn quốc; tăng cường hỗ trợ địa phương thực hiện miễn
thuỷ lợi phí; tăng chi thực hiện công tác quy hoạch, chi thực hiện các nhiệm vụ đột xuất
tìm kiếm cứu nạn; tăng chi cho khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, khuyến công;
tăng kinh phí thực hiện nhiệm vụ quản lý và bảo vệ rừng, kinh phí thực hiện chương trình
giống; tăng chi duy tu, bảo dưỡng các công trình hạ tầng quan trọng: đê điều, cầu cống,
công trình thuỷ lợi, giao thông; tăng kinh phí nạo vét các tuyến đường sông, đường biển
huyết mạch; kinh phí thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia và Chương trình
hành động quốc gia. Tăng kinh phí thực hiện các nhiệm vụ đề án quan trọng về quản lý
cách hành chính; tăng kinh phí đóng niên liễm cho các tổ chức quốc tế (ADB, ); kinh
phí tổ chức các Hội nghị, Đại hội theo nhiệm kỳ.
- Dự toán chi trợ giá các mặt hàng chính sách: 1.820 tỷ đồng, tăng 9,6% so dự
toán năm 2011. Bố trí đảm bảo kinh phí thực hiện chính sách cấp không thu tiền một số
loại báo, tạp chí cho vùng dân tộc thiểu số và miền núi, vùng đặc biệt khó khăn; đảm bảo
trợ giá giống gốc, giá báo, tạp chí thường xuyên theo quy định; tài trợ báo, tạp chí, trợ
cước vận chuyển ấn phẩm văn hoá, sách báo ra nước ngoài; thực hiện chính sách hỗ trợ
trực tiếp cho người dân thuộc hộ nghèo ở vùng khó khăn để các đối tượng này chủ động
mua sắm nguyên liệu, vật tư phục vụ sản xuất và đời sống (giống cây trồng, giống vật
nuôi, thuốc thú y, muối iốt).
d) Dự toán chi thực hiện cải cách tiền lương:
Theo lộ trình cải cách tiền lương giai đoạn2008-2012 thì đến năm 2012, lương tối
thiểu sẽ được nâng lên mức 990 nghìn đồng/tháng. Trong bối cảnh nền kinh tế biến động,
giá cả tăng cao, đời sống của đại bộ phận cán bộ, công chức, viên chức và các đối tượng
hưởng lương hưu, người có công gặp nhiều khó khăn, việc điều chỉnh tiền lương tối thiểu
ở mức cao hơn là cần thiết. Căn cứ khả năng cân đối của NSNN năm 2012, thực hiện
điều chỉnh cải cách tiền lương từ 01/5/2012: (i) Điều chỉnh mức tiền lương tối thiểu
chung từ 830.000 đồng/tháng lên 1.050.000 đồng/tháng (tăng 220.000 đồng, tương ứng
tăng 26,5%); (ii) lương hưu và trợ cấp ưu đãi người có công tăng bằng tốc độ tăng lương
tối thiểu; (iii) Phụ cấp công vụ mức 25% (tăng thêm 15% so với năm 2011).
Sau khi thực hiện cơ chế tạo nguồn theo quy định, phần NSTW phải bố trí cho cải
cách tiền lương khoảng 43.300 tỷ đồng.
đ) Dự toán chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính địa phương: 100 tỷ đồng.
IV. Bội chi NSNN:
CÂN ĐỐI NG N S CH NH NÂ Á À ƯỚC
Page 23 of 30
Nhập môn tài chính tiền tệ Nhóm 09
Đơn vị: Tỷ
đồng
A
Ghi chú: (1) Dự toán năm 2012 đã bao gồm chi thực hiện cải cách tiền lương theo mức lương tối thiểu 830.000
đồng/tháng đủ 12 tháng; trong khi dự toán năm 2011 mới bố trí 8 tháng
Mức bội chi NSNN năm 2012 là 140.200 tỷ đồng, bằng 4,8%GDP. Nguồn bù đắp
bội chi: Vay trong nước: 115.500 tỷ đồng; vay nước ngoài: 24.700 tỷ đồng.
Với dự kiến vay nợ, trả nợ và huy động trái phiếu Chính phủ trong năm 2012 như
trên, đến 31/12/2012 dư nợ Chính phủ bằng 46,1%GDP, dư nợ quốc gia bằng 44,2%GDP
và dư nợ công bằng 58,4%GDP, ở mức đảm bảo an ninh tài chính quốc gia.
Page 24 of 30
Nhập môn tài chính tiền tệ Nhóm 09
Tồn tại chủ yếu trong công tác quản lý chi tiêu công vẫn còn bức xúc ở một số điểm
như thẩm quyền ban hành chính sách chế độ chi tiêu chưa rõ ràng, Luật NSNN quy định
cụ thể cơ quan được ban hành các chính sách chế độ về định mức phân bổ ngân sách, chế
độ chi tiêu ngân sách. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, một số bộ ngành vẫn thực
hiện hướng dẫn các định mức phân bổ, chế độ chi tiêu trái với quy định của Luật NSNN,
dẫn đến việc thực hiện ở các địa phương gặp rất nhiều khó khăn.
Việc quản lý vốn đầu tư phát triển dàn trải: Chưa quy định đầy đủ về quản lý vốn đầu
tư phát triển (lập dự toán, phân bổ vốn, thanh toán và quyết toán vốn, dự án đầu tư), trong
tổ chức thực hiện còn tình trạng bố trí vốn cho nhiều dự án chưa đúng với quy hoạch, kế
hoạch được cấp có thẩm quyền phê duyệt, chưa đủ thủ tục, chưa căn cứ vào nguồn lực và
còn dàn trải, làm cho dự án đầu tư triển khai chậm, kéo dài thời gian thực hiện, giảm hiệu
quả vốn đầu tư NSNN.
Vì thế các giải pháp nâng cao hiệu quả quản
lý chi tiêu công trong thời gian tới cần tập
trung vào một số việc như cần từng bước
hoàn thiện hệ thống luật pháp về quản lý tài
chính - NSNN nói riêng và hệ thống pháp
luật của Việt Nam nói chung nhằm phục vụ
mục tiêu phát triển nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà