Tiểu luận
THỰC TRẠNG THU CHI NGÂN
SÁCH NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
TRONG GIAI ĐOẠN 2009-2011
LỜI MỞ ĐÂU
Trong lịch sử loài người, nhà nước ra đời trong cuộc đấu tranh của xã hội có giai cấp,
nó là sản phẩm của cuộc đấu tranh giai cấp, nhà nước xuất hiện với tư cách là cơ quan có
quyền lực công cộng để thực hiện các chức năng để thực hiện chức năng và nhiệm vụ về
nhiều mặt như quản lý hành chính, chức năng kinh tế, chức năng trấn áp và các nhiệm vụ
xã hội. Để thực hiện được chức năng và nhiệm vụ của mình nhà nước cần phải có nguồn
lực tài chính đó là cơ sở vật chất cho nhà nước tồn tại và hoạt động. Và do đó, ngân sách
nhà nước ra đời và tồn tại cùng với sự ra đời và tồn tại của nhà nước cũng như sự xuất
hiện của nền sản xuất hàng hóa. Ngân sách nhà nước đã trở thành một công cụ quan trọng
nhất được nhà nước sử dụng để khắc phục những khuyết tật của nền kinh tế thị trường,
huy động nguồn tài chính, điều tiết vĩ mô nền kinh tế cũng như điều tiết thu nhập nhằm
đảm bảo công bằng xã hội. Những việc đó được thực hiện thông qua hoạt động thu, chi
của ngân sách nhà nước. Thu để định hướng đầu tư, kích thích hoặc hạn chế sản xuất
kinh doanh… Chi để nâng cao chất lượng y tế, giáo dục, nâng cao đời sống nhân dân…
Tuy nhiên, trong điều kiện ngân sách nhà nước còn eo hẹp, thì việc thu, chi ngân sách thế
nào cho hiệu quả, tiết kiệm, tránh được tình trạng thất thoát, hạn chế thâm hụt ngân sách
luôn là bài toán khó đặt ra cho nước ta.
Với mục đích đi tìm hiểu về tình hình thực hiện nhiệm vụ thu và chi ngân sách nhà
nước ta hiện nay, em đã chọn đề tài: Thực trạng thu, chi ngân sách nhà nước Việt nam
trong giai đoạn 2009-2011 làm đề tài cho bài đề án môn học. Ngoài lời mở đầu và danh
mục tài liệu tham khảo, bài đề án kết cấu gồm hai phần:
Phần một: Những vấn đề cơ bản về thu, chi ngân sách nhà nước
Phần hai: Thực trạng thi, chi ngân sách nhà nước Việt nam trong giai đọng 2009-2011
I. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN THU CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
I.1. Ngân sách nhà nước
I.1.1. Khái niệm
Trong hệ thống tài chính thống nhất, NSNN là khâu tài chính tập trung giữ vị trí chủ
Mặt khác Ngân sách nhà nước còn phản ánh các quan hệ kinh tế giữa một bên là
nhà nước một bên là các chủ thể trong xã hội, phát sinh khi nhà nước tham gia phân
phối các nguồn tài chính theo nguyên tắc không hoàn trả trực tiếp là chủ yếu. Những
khoản thu nộp và cấp phát qua quỹ Ngân sách nhà nước là các quan hệ được xác định
trước, được định lượng và nhà nước sử dụng chúng để điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế.
I.1.2. Đặc điểm của ngân sách nhà nước
Trong hệ thống tài chính quốc gia cũng như trong khu vực tài chính nhà nước nói
riêng, Ngân sách nhà nước đóng vai trò quan trọng trong đảm bảo nguồn tài chính cho
sự tồn tại cũng như hoạt động của nhà nước. Ngân sách nhà nước bao gồm quan hệ tài
chính nhất định trong tổng thể các quan hệ tàI chính quốc gia, gồm các quan hệ sau:
-Quan hệ tài chính nhà nước với dân sự
-Quan hệ tài chính nhà nước với các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế
-Quan hệ tài chính nhà nước với các tổ chức xã hội
Các quan hệ trên mang bốn đặc điểm sau:
Thứ nhất: Tạo lập và sử dụng Ngân sách nhà nước gắn liền quyền lực với việc
thực hiện các chức năng của NN, đây cũng chính là điểm khác biệt giữa Ngân sách nhà
nước với các khoản tài chính khác. Các khoản thu Ngân sách nhà nước đều mang tính
chất pháp lý, còn chi Ngân sách nhà nước mang tính cấp phát “không hoàn trả trực tiếp”.
Do nhu cầu chi tiêu của mình để thực hiện nhiệm vụ kinh tế- xã hội nhà nước đã sử dụng
để quy định hệ thống pháp luật tài chính, buộc mọi pháp nhân và thể nhân phải nộp một
phần thu nhập của mình cho nhà nước với tư cách là một chủ thể.
Các hoạt động thu chi Ngân sách nhà nước đều tiến hành theo cơ sở nhất định đó là
các luật thuế, chế độ thu chi… do nhà nước ban hành, đồng thời các hoạt động luôn
chịu sự kiểm tra của các cơ quan nhà nước. Thực vậy khi nhà nước ban hành một loại
thuế mới hay sửa đổi phải được Quốc hội thông qua”.
Thứ hai: Ngân sách nhà nước luôn gắn chặt với nhà nước chứa đựng lợi ích chung
và công, hoạt động thu chi Ngân sách nhà nước là thể hiện các mặt kinh tế-xã hội của
nhà nước, dù dưới hình thức nào thực chất cũng là quá trình giải quyết quyền lợi kinh tế
giữa nhà nước và xã hội thể hiện qua các khoản cấp phát từ Ngân sách nhà nước cho các
mục đích tiêu dùng và đầu tư. Quan hệ kinh tế giữa nhà nước và xã hội, dó đó, thể hiện
có thể thấy điều đó thông qua các loại trợ giúp trực tiếp được dành cho những người có
thu nhập thấp hoặc có hoàn cảnh đặc biệt như chi trợ cấp giá cho các mặt hàng thiết yếu,
các khoản chi phí để thực hiện chính sách dân số, chính sách việc làm, các chương trình
quốc gia lớn về chống xóa mù chữ,…
Bên cạnh các khoản chi ngân sách nhà nước cho việc thực hiện các vấn đề xã hội,
thuế cũng được sử dụng để thực hiện vai trò tái phân phối thu nhập, đảm bảo công bằng
xã hội. Việc kết hợp giữa thuế trược thu và gián thu một mặt vừa tăng cường các khoản
thu cho ngân sách nhà nước, mặt khác vừa nhằm điều tiế thu nhập của tầng lớp có thu
nhập cao, điều tiết tiêu dùng, bảo đảm thu nhập hợp lý của tầng lớp lao động.
Góp phần ổn định thị trường giá cả, chống lạm phát (điều chỉnh trong lĩnh vực thị
trường)
Trong điều kiện kinh tế thị trường, gái cả phụ thuộc chủ yếu vào quan hệ cung cầu
hàng hóa trên thị trường. Do đó, để ổn định giá cả, chính phủ có thể tác động vào cung
hoặc cầu hàng hóa trên thị trường. Sự tác động này không chỉ được thực hiện thông qua
thuế mà còn được thực hiện thông qua chính sách chi tiêu của ngân sách nhà nước. Bằng
nguồn vốn cấp phát của chi tiêu ngân sách nhà nước hàng năm, các quỹ dự trữ nhà nước
vầ hàng hóa và tài chính được hình thành. Chính phủ có thể sử dụng ngân sách nhà nước
nhằm khống chế và đẩy lùi lạm phát một cách có hiệu quả thông qua việc thực hiện
chính sách tài khóa thắt chặt. Ngoài ra, việc Chính phủ phát hành các công cụ nợ để vay
nhân dân nhằm bù đắp thiếu hụt ngân sách nhà nước cũng góp phần to lớn vào việc làm
giảm tốc độ lạm phát trong nên kinh tế.
I.2. Những vấn đề về thu, chi ngân sách nhà nước
I.2.1. Thu ngân sách nhà nước
I.2.1.1. Khái niệm thu ngân sách nhà nước
Xét về mặt nội dung kinh tế, thu NSNN chứa đựng các quan hệ phân phối nảy sinh
trong quá trình Nhà nước dùng quyền lực chính trị để tập trung một bộ phần tổng sản
phẩm quốc dân để hình thành quỹ tiền tệ tập trung Nhà nước. Luật ngân sách nhà nước
ban hành năm 2002 quy định: Thu ngân sách nhà nước bao gồm các khoản thu từ thuế,
phí, lệ phí; các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước; các khoản đóng góp của
các tổ chức và cá nhân; các khoản viện trợ; các khoản thu khác theo quy định của pháp
quá các khoản thu trong cân đối của ngân sách nhà nước.
I.2.1.4. Nhân tố ảnh hưởng tới thu ngân sách nhà nước
Với sự phân loại trên, thu Ngân sách nhà nước phụ thuộc vào các yếu tố sau:
Mức độ phát triển của nền kinh tế: được đánh giá bằng tốc độ tăng trưởng và giá trị
tổng sản phẩm quốc nội giữa các thời kỳ. Một quốc gia có tốc độ tăng trưởng kinh tế
vững chắc, ổn định có số thu tương đối ổn định.
Thu nhập bình quân đầu người: chỉ tiêu thu nhập bình quân đầu người phản ánh mức
độ phát triển nền kinh tế và phản ánh khả năng tiết kiệm, tiêu dùng và đầu tư của một
nước. Mức độ phát triển nền kinh tế hàng hóa, tiền tệ luôn là nhân tố quan trọng nhất đối
với sự phát triển của mọi khâu tài chính, cho nên nhân tố này cũng là nhân tố quyết định
khách quan đến mức động viên của ngân sách nhà nước và cần phải xem xét nó trong
mối quan hệ với dân số. Nếu thoát li chỉ tiêu này khi ấn định mức động viên sẽ ảnh
hưởng tiêu cực đến vấn đề tiết kiệm, tiêu dùng , đầu tư của khu vực dân cư.
Tài nguyên thiên nhiên: một phần lớn nguồn thu của các quốc gia đang phát triển hiện
nay là thu từ bán tài nguyên. Bởi vậy, quốc gia có nhiều tài nguyên thiên nhiên thì cùng
với đó, thu ngân sách cũng sẽ tăng.
Tỷ suất sinh lời của nền kinh tế: Tỷ suất lợi nhuận phản ánh hiệu quả đầu tư của các
doanh nghiệp. Nếu khả năng huy động vào ngân sách càng cao. Dựa vào tỷ suất lợi nhuận
trong nền kinh tế để xác định tỷ suất thu sẽ tránh việc huy động của ngân sách gây khó
khăn cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Thời kỳ kinh tế suy thoái, Nhà nước có thể giảm thuế suất để khuyến khích đầu tư,
tiêu dùng, phát triển kinh tế. Ở những nước chưa phát triển có tỷ suất lợi nhuận thấp cũng
không nên huy động nhiều để bồi dưỡng nguồn thu.Thâm hụt ngân sách được giải quyết
bằng vay nợ.
Quan hệ đối ngoại của nhà nước: vấn đề liên quan đến việc nhận viện trợ từ nước
ngoài.
Hiệu quả của bộ máy thu ngân Ngân sách nhà nước: hiện tượng gian lận, hiệu quả thu
kém là một trong những nguyên nhân chính của việc thất thu ngân sách nhà nước. Nếu
công tác này được xem xét và cải thiện thì thu ngân sách nhà nước cũng sẽ tăng.
I.2.2. Chi ngân sách nhà nước
qua. Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền quyết định tổng số chi Ngân sách nhà nước
bao gồm chi ngân sách trung ương và chi ngân sách địa phương, tổng số chi và mức chi
từng lĩnh vực… Chi ngân sách nhà nước là một nội dung quan trọng quyết định đến hiệu
quả quản lý Nhà nước và bộ máy nhà nước vì vậy nó phải được thông qua theo nguyên
tắc tập thể, tập trung trí tuệ tập thể và một quy trình luật định nghiêm ngặt.
Chi ngân sách nhà nước là hoạt động được tiến hành bởi các chủ thể quyền lực gồm
hai nhóm:
Nhóm chủ thể đại diện cho Nhà nước thực hiện việc quản lý, cấp phát , thanh toán
các khoản chi ngân sách nhà nước. Đó là các cơ quan đại diện cho nhà nước thực thi
quyền hạn có liên quan tới việc xuất quỹ Ngân sách nhà nước cho các mục tiêu đã được
phê duyệt. Nhóm chủ thể này gồm Bộ tài chính, Sở tài chính tỉnh, thành phố trực thuộc
trung ương, Phòng tài chính quận, huyện, thị xã thuộc tỉnh, thành phố, Sở kế hoạch và
đàu tư và Kho bạc nhà nước.
Nhóm chủ thể sử dụng ngân sách nhà nước. Đây là nhóm chủ thể được hưởng kinh
phí từ ngân sách nhà nước để trang trải các chi phí trong quá trình thực hiện hoạt động
của mình. Nhóm chủ thể này rất đa dạng nhưng có thể phân thành ba loại chủ yếu: Các
cơ quan nhà nước, kể cả cơ quan hành chính thực hiện khoán biên chế và kinh phí quản
lý hành chính; Các đơn vị, kể cả đơn vị sự nghiệp có thu; Các chủ dự án sử dụng kinh phí
ngân sách nhà nước.
Mục tiêu cơ bản của chi ngân sách nhà nước là đáp ứng nhu cầu về tài chính cho sự
hoạt động của bộ máy nhà nước, bảo đảm cho nhà nước thực hiện được chức năng, nhiệm
vụ của mình. Chi ngân sách nhà nước luôn gắn kết với bộ máy nhà nước. Nhà nước thông
qua hoạt động chi ngân sách đảm bảo hoạt động của mình trên các lĩnh vực kinh tế, xã
hội, an ninh và quốc phòng. Ngoài ra, thông qua việc thể chế hóa bằng pháp luật đối với
hoạt động chi ngân sách, Nhà nước còn hướng dẫn những mục tiêu khác, trong đó, bao
gồm mục tiêu quản lý hiệu quả việc sử dụng công quỹ và tăng cường kỷ luật ngân sách,
đồng thời tạo cơ sở quản lý cho việc xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về ngân sách
nói chung và pháp luật về chi ngân sách nói riêng, góp phần hạn chế tình trạng tham
nhũng, lãng phí tài sản nhà nước.
I.2.2.3. Phân loại chi ngân sách nhà nước
sách nhà nước sẽ tăng lên khi đất nước rơi vào khủng hoảng kinh tế cần sự trợ giúp của
chính phủ để kích thích sự tăng trưởng và ổn định nền kinh tế.
Khả năng tích tụ và tích lũy của nền kinh tế: với một quốc gia, nếu khả năng này của
nền kinh tế tốt thì không những hạn chế được mức chi của ngân sách, ,mà còn cho thấy
sự hoạt động tốt của nền kinh tế, một đồng bỏ ra có hiệu quả cho tăng trưởng và phát
triển, không lãng phí.
Ảnh hưởng của các yếu tố tự nhiên, hạn hán, động đất, dịch bệnh: Chi ngân sách nhà
nước luôn đảm bảo vì lợi ích chung và đảm bảo sự công bằng cho một bộ phận những
người có hoàn cảnh đặc biệt. Khi quốc gia gặp thiên tai, thì việc tăng chi tiêu để trợ cấp
cho những gia đình gặp khó khăn, khắc phục hậu quả, giữ ổn định kinh tế là điều tất yếu
phải làm của chi ngân sách nhà nước. Và do đó, mức chi ngân sách cũng sẽ tăng.
Hiệu quả chi của bộ máy chi Ngân sách nhà nước: Cũng giống như thu ngân sách nhà
nước, bộ máy chi ngân sách nhà nước đạt hiệu quả tốt sẽ tránh được tình trạng lãng phí,
tham ô trong quá trình chi tiêu thì sẽ tiết kiệm được cho quốc gia một khoản chi lớn, số
chi vô ích sẽ giảm đi đáng kể.
II. THỰC TRẠNG THU CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VIỆT NAM NHỮNG
NĂM GẦN ĐÂY
II.1. Tình hình thực hiện thu, chi ngân sách nhà nước năm 2009
Năm 2009 là năm có nhiều khó khăn, thách thức lớn đối với nền kinh tế nước ta.
Khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu đã tác động trực tiếp đến kinh tế
trong nước, làm cho hoạt động sản xuất, kinh doanh và xuất khẩu giảm sút, ảnh
hưởng đến việc làm và đời sống nhân dân. Trong bối cảnh đó, Chính phủ đã đề ra
những giải pháp cấp bách nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế, duy trì tăng trưởng kinh
tế, bảo đảm an sinh xã hội. Cùng với sự nỗ lực của các ngành, các cấp, cộng đồng
doanh nghiệp và toàn thể nhân dân; các chính sách và giải pháp kích thích kinh tế đề
ra đã được thực hiện khẩn trương, đồng bộ và phát huy hiệu quả, giúp thực hiện thành
công mục tiêu ngăn chặn suy giảm kinh tế. Từ quý II/2009, tình hình kinh tế đã có
chuyển biến tích cực, tăng trưởng quý sau cao hơn quý trước, nâng mức tăng trưởng
GDP cả năm đạt 5,32%, góp phần duy trì ổn định kinh tế vĩ mô và bảo đảm an sinh xã
hội.
Hai là: Các địa phương đã chỉ đạo khai thác các nguồn thu có khả năng; tập trung đẩy
nhanh việc đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu dự án trong những tháng cuối năm 2009,
khi thị trường bất động sản phục hồi, qua đó góp phần đưa số thu tiền sử dụng đất năm
2009 đạt mức cao nhất trong những năm gần đây. Đồng thời, các địa phương cũng đã
tăng cường công tác quản lý thu, đôn đốc xử lý nợ đọng thuế.
Ba là: Số thu từ hoạt động xuất nhập khẩu những tháng cuối năm 2009 được cải thiện
đáng kể do kim ngạch xuất nhập khẩu gia tăng mạnh (do cả yếu tố tăng sản lượng và giá).
Cụ thể: Kim ngạch xuất, nhập khẩu quý IV/2009 tăng mạnh, với tổng giá trị đạt gần 37 tỷ
USD, bằng 30,7% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu cả năm và tăng gần 23,1% so với tổng
kim ngạch nhập khẩu bình quân 3 quý đầu năm. Bên cạnh đó, công tác đấu tranh chống
buôn lậu, gian lận thương mại đã được thực hiện quyết liệt, góp phần tăng thu cho Ngân
sách nhà nước.
II.1.2. Tình hình chi ngân sách nhà nước 2009
Chi Ngân sách nhà nước năm 2009 ước thực hiện 584.695 tỷ đồng, tăng 19,0% so với
dự toán đầu năm.
Trong tổ chức thực hiện, để hạn chế tác động không thuận của cuộc khủng hoảng tài
chính và suy thoái kinh tế toàn cầu đối với nền kinh tế, tại kỳ họp thứ 5 của Quốc hội
(tháng 5/2009), Chính phủ đã báo cáo Quốc hội nguyên tắc điều hành Ngân sách nhà
nước năm 2009 là không thực hiện cắt giảm tổng mức chi Ngân sách nhà nước, nhưng có
yêu cầu sắp xếp điều chỉnh các nhiệm vụ chi, đảm bảo hiệu quả, tiết kiệm, giảm những
khoản chi chưa thực sự cấp thiết; đồng thời sử dụng gói kích thích kinh tế nhằm mục tiêu
ngăn chặn suy giảm kinh tế, duy trì tăng trưởng hợp lý và bảo đảm an sinh xã hội. Trên
cơ sở kết quả thực hiện thu, đánh giá kết quả thực hiện chi Ngân sách nhà nước theo từng
lĩnh vực như sau:
Chi đầu tư phát triển: Ước đạt 179.961 tỷ đồng, tăng 59,5% so dự toán do được bổ
sung nguồn từ gói kích thích kinh tế, nguồn dự phòng Ngân sách nhà nước, nguồn được
sử dụng theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước và các văn bản hướng dẫn.
Trong quá trình thực hiện, quy trình kiểm soát, thanh toán vốn đầu tư đã được sửa đổi
từ thẩm tra trước sang kiểm tra sau để tạo điều kiện cho các chủ đầu tư đẩy nhanh tiến độ
giải ngân vốn Bên cạnh đó, qua chính sách kích cầu đầu tư, nhất là giải pháp hỗ trợ lãi
Dự toán bội chi NSNN năm 2009 là 4,82% GDP. Bước vào năm 2009, căn cứ tình
hình kinh tế thế giới và trong nước đang gặp rất nhiều khó khăn do khủng hoảng kinh tế
toàn cầu lan rộng, diễn biến phức tạp, khó lường và theo chiều hướng xấu, nguồn thu
NSNN gặp khó khăn, yêu cầu tăng chi là rất lớn để thực hiện các giải pháp kích thích
kinh tế và đảm bảo an sinh xã hội, do vậy Chính phủ đã báo cáo và được Quốc hội chấp
thuận tăng mức bội chi không quá 7%GDP.
Kết quả thực hiện bội chi NSNN năm 2009 ở mức 6,9% GDP, trong phạm vi Quốc
hội cho phép, được sử dụng toàn bộ cho đầu tư phát triển theo đúng quy định của Luật
Ngân sách nhà nước, tập trung cho các công trình, dự án kích thích kinh tế thực hiện
trong năm 2009.
II.2. Tình hình thực hiện thu chi năm 2010
II.2.1. Tình hình thu ngân sách nhà nước 2010
Dự toán thu cân đối ngân sách nhà nước là 461.500 tỷ đồng, kết quả thực hiện đạt
559.170 tỷ đồng, vượt 21,2% so với dự toán. Cụ thể như sau:
Thu nội địa từ hoạt động sản xuất - kinh doanh (không kể thu tiền sử dụng đất):Dự
toán thu 271.700 tỷ đồng, kết quả thực hiện đạt 312.709 tỷ đồng, vượt 15,1% so với dự
toán, tăng 34% so với thực hiện năm 2009.
Thực hiện Nghị quyết của Quốc hội, từ ngày 01/01/2010, Chính phủ đã dừng thực
hiện các chính sách miễn, giảm thuế và dừng hỗ trợ lãi suất cho vay vốn lưu động ngắn
hạn; thực hiện giãn thời hạn nộp thuế một quý đối với số thuế thu nhập doanh nghiệp của
các doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp sản xuất, gia công dệt may, da, giầy Chính
phủ cũng đã chỉ đạo các ngành, các cấp tăng cường công tác quản lý thu thuế ngay từ đầu
năm; tích cực đôn đốc thu nợ đọng, hướng dẫn các doanh nghiệp thực hiện nghiêm chế
độ kê khai, nộp thuế Nhờ vậy, mặc dù chịu nhiều tác động của các yếu tố không thuận
lợi, song kết quả thu ngân sách nhà nước nói chung và nhiều khoản thu quan trọng nói
riêng đạt khá so với dự toán. Trong đó:
Khu vực kinh tế quốc doanh: đạt 111.922 tỷ đồng, vượt 12,3% so với dự toán, tăng
33,5% so với thực hiện năm 2009.
Năm 2010, giá cả nhiều loại vật tư, nguyên nhiên liệu phục vụ sản xuất đã tăng hơn so
với năm 2009; bên cạnh đó, thời tiết khô hạn kéo dài dẫn đến thiếu điện cho sản xuất, chi
toán là 14,41 triệu tấn, giá bán 68 USD/thùng. Kết quả thực hiện đạt 69.170 tỷ đồng,
chiếm 12,4% tổng thu ngân sách nhà nước, vượt 4,3% so dự toán, tăng 14,3% so với thực
hiện năm 2009, trên cơ sở sản lượng thanh toán đạt xấp xỉ 13,8 triệu tấn và giá dầu thanh
toán cả năm đạt khoảng 79,7 USD/thùng, tăng 11,7 USD/thùng so với giá tính dự toán.
Thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất nhập khẩu: Dự toán thu 95.500 tỷ đồng,
trong đó thu từ hoạt động xuất nhập khẩu là 131.500 tỷ đồng, hoàn thuế giá trị gia tăng
hàng nhập khẩu là 36.000 tỷ đồng, tương ứng với kim ngạch xuất khẩu dự kiến tăng trên
6% và kim ngạch nhập khẩu dự kiến tăng 9%.
Năm 2010, nhiều cơ chế về quản lý xuất nhập khẩu đã được sửa đổi, bổ sung theo
hướng đẩy mạnh xuất khẩu, kiểm soát nhập khẩu, trước hết là đối với các mặt hàng trong
nước sản xuất được hoặc không khuyến khích nhập khẩu để hạn chế nhập siêu, như: bãi
bỏ quy định phân loại, áp dụng mức thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu theo
máy chính để khuyến khích doanh nghiệp sử dụng các thiết bị, máy móc trong nước đã
sản xuất được; ban hành khung thuế nhập khẩu ưu đãi mặt hàng xăng dầu tương ứng với
giá xăng dầu trên thị trường thế giới để các doanh nghiệp chủ động trong tổ chức sản xuất
- kinh doanh; rà soát, điều chỉnh tăng thuế nhập khẩu các mặt hàng không thiết yếu, hàng
tiêu dùng không khuyến khích nhập khẩu, trên cơ sở đó ban hành danh mục các mặt hàng
này để làm cơ sở giám sát và thực hiện các biện pháp chống bán phá giá, chống trợ cấp
và các hàng rào kỹ thuật phù hợp với thông lệ quốc tế và luật pháp Việt Nam; tiếp tục
thực hiện tạm hoàn 90% thuế giá trị gia tăng đầu vào đối với hàng hoá thực xuất khẩu
trong thời gian chưa được phía nước ngoài thanh toán qua ngân hàng Bên cạnh đó, đã
tổ chức theo dõi sát tình hình diễn biến thị trường để điều chỉnh kịp thời thuế nhập khẩu
đối với các nhóm mặt hàng cần kiểm soát (thủy sản, sữa và sản phẩm từ sữa, rau quả, lúa
mỳ, dầu mỡ động thực vật, ngũ cốc, thép ) và các nhóm hàng cần hạn chế nhập khẩu
(hàng tiêu dùng các loại, ô tô nguyên chiếc dưới 9 chỗ, linh kiện phụ tùng ô tô dưới 9
chỗ, xe máy nguyên chiếc và linh kiện phụ tùng xe máy ). Ngành Hải quan trong năm
2010 cũng đã tập trung đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính theo hướng đơn giản và cụ
thể hoá các quy định về thủ tục hải quan; tăng cường kiểm tra và giám sát hải quan đối
với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; ban hành quy trình nghiệp vụ quản lý hải quan đối
với hàng hóa gia công cho thương nhân nước ngoài, quy định về việc giám sát hải quan
phòng ngân sách nhà nước đã bố trí đầu năm và một phần nguồn vượt thu ngân sách nhà
nước so với dự toán năm 2010 (chủ yếu là nguồn vượt thu tiền sử dụng đất so với dự toán
của các địa phương theo chế độ quy định); được tập trung sử dụng cho các dự án quan
trọng, cấp bách có khả năng hoàn thành đưa vào sử dụng trong năm 2010 - 2011, các dự
án đầu tư nâng cấp công trình sạt lở đê kè cấp bách và giảm nhẹ tác hại thiên tai, bổ sung
tăng dự trữ quốc gia để bảo đảm an ninh lương thực và một số mặt hàng dự trữ quốc gia
khác
Trong tổ chức triển khai thực hiện, các Bộ, cơ quan trung ương và địa phương đã đảm
bảo hoàn thành công tác phân bổ kế hoạch vốn năm 2010 theo yêu cầu đề ra; đôn đốc các
chủ đầu tư đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án và tuân thủ quy trình kiểm soát, thanh
toán vốn đầu tư Bên cạnh nguồn vốn đầu tư bố trí cân đối ngân sách nhà nước, thực
hiện Nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ đã thực hiện huy động trái phiếu Chính phủ để
đầu tư các công trình giao thông, thuỷ lợi, y tế, giáo dục và nhà ở cho sinh viên; ước thực
hiện cả năm đạt 55.235 tỷ đồng, bằng 98,6% kế hoạch (56.000 tỷ đồng).
Với việc triển khai thực hiện nêu trên, nhiều dự án quan trọng từ nguồn vốn đầu tư
của Nhà nước năm 2010 đã hoàn thành và đưa vào sử dụng, phát huy hiệu quả, tạo thêm
năng lực mới cho nền kinh tế. Ước tính cả nước có trên 1.500 km đường giao thông các
loại, trên 1.000 km kênh mương được xây dựng mới và nâng cấp, cải tạo hoàn thành;
năng lực tưới tăng thêm 200 nghìn ha; hàng nghìn phòng học, nhà bán trú được xây mới;
các dự án phục vụ 1.000 năm Thăng Long Hà Nội, cầu Cần Thơ, cầu Hàm Luông, cầu
Thanh Trì, đường cao tốc Thành phố Hồ Chí Minh – Trung Lương, sân bay Cần Thơ đã
hoàn thành, đưa vào khai thác phục vụ phát triển kinh tế, xã hội.
Chi trả nợ và viện trợ: Dự toán chi 70.250 tỷ đồng, kết quả thực hiện đạt 80.250 tỷ
đồng, tăng 14,2% so với dự toán, đảm bảo thanh toán đầy đủ, kịp thời các nghĩa vụ nợ
đến hạn theo cam kết, kể cả yếu tố tác động tăng chi do biến động chênh lệch tỷ giá ngoại
tệ đối với các khoản trả nợ nước ngoài; đồng thời, trong năm đã bố trí hoàn trả một phần
các khoản vay ngắn hạn đến hạn thanh toán.
Chi phát triển các sự nghiệp kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý hành
chính (bao gồm cả chi điều chỉnh tiền lương đã phân bổ vào các lĩnh vực): Dự toán chi
362.282 tỷ đồng, kết quả thực hiện đạt 385.082 tỷ đồng, tăng 6,3% so với dự toán, tăng
lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội. Bên cạnh đó, có tác động của
một số yếu tố sau: (1) đà phát triển tốt của nền kinh tế trong những tháng cuối năm 2010,
tạo nguồn thu gối đầu cho NSNN năm 2011 đạt khá; (2) giá cả hàng hoá và dịch vụ tiêu
dùng tăng, nhất là giá một số mặt hàng nông, lâm thuỷ sản tăng lớn, cùng với việc thay
đổi tỷ giá ngoại tệ VND/USD, đã góp phần tăng thu ngân sách; (3) việc triển khai quyết
liệt công tác quản lý thu, tăng cường kiểm soát kê khai, đẩy mạnh thanh tra, kiểm tra và
đôn đốc thu nợ thuế, thu vào NSNN kịp thời các khoản thu theo kết luận của cơ quan
thanh tra, kiểm toán và kiểm tra quyết toán thuế,
Nhằm tháo gỡ khó khăn cho hoạt động sản xuất - kinh doanh, tạo điều kiện cho các
doanh nghiệp duy trì hoạt động sản xuất, ổn định đời sống người lao động, từ tháng
4/2011, Chính phủ đã gia hạn nộp thuế thu nhập doanh nghiệp trong thời gian 01 năm
cho một số doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động hoạt động
sản xuất, gia công, chế biến nông, lâm, thuỷ hải sản, dệt may, da giày, linh kiện điện tử,
xây dựng các công trình hạ tầng kinh tế xã hội và một số ngành nghề sản xuất kinh doanh
quan trọng, nhằm tạo điều kiện cho các doanh nghiệp này có thêm nguồn vốn để ổn định
và phát triển các hoạt động; ước tính có khoảng 303,2 nghìn doanh nghiệp nằm trong
diện được gia hạn nộp thuế, với tổng số thuế được gia hạn năm 2011 chuyển sang năm
2012 khoảng 6.900 tỷ đồng. Tiếp đó, Chính phủ đã trình Quốc hội cho phép giảm 30% số
thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp sử dụng
nhiều lao động trong một số lĩnh vực đặc thù; giảm 50% mức thuế khoán thuế giá trị gia
tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân đối với một số cá nhân, hộ