Luận văn
Nghiên cứu ảnh hưởng của
MgSO4 đến sinh trưởng,
năng suất và chất lượng
của hai giống chè Shan
Chất Tiền và LDP1 tại Phú
Thọ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là
hoàn toàn trung thực, chưa hề sử dụng cho bảo vệ một học vị nào. Mọi sự giúp
đỡ cho hoàn thành luận văn đều đã được cảm ơn. Các thông tin, tài liệu trình bày
trong luận văn này đã được ghi rõ nguồn gốc.
Tác giả Hà Thị Thanh Đoàn Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt
Danh mục các bảng và đồ thị
STT
Nội dung
Trang
PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1
1.1
Tính cấp thiết của đề tài………………………………………………………
3
1.2
Mục đích của đề tài
4
1.3
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
4
1.3.1
Ý nghĩa khoa học
4
1.3.2
Ý nghĩa thực tiễn
4
1.4
Phạm vi nghiên cứu
4
Phương hướng phát triển ngành chè
22
2.3
Tình hình nghiên cứu về phân bón cho chè trên thế giới và ở Việt Nam
25
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
2.3.1
Nhu cầu dinh dưỡng của cây chè
25
2.3.1.1
Phân bón hữu cơ cho chè
25
2.3.1.2
Dinh dưỡng nitơ đối với chè
25
2.3.1.3
Dinh dưỡng lân đối với chè
26
2.3.1.4
Dinh dưỡng kali đối với chè
26
2.3.1.5
Dinh dưỡng khác
27
2.3.2
Tình hình nghiên cứu về phân bón cho chè trên thế giới
29
2.3.3
Tình hình nghiên cứu về phân bón cho chè ở Việt Nam
3.3.3.2
Hiện trạng đất đai trước khi tiến hành thí nghiệm
43
3.4
Phương pháp nghiên cứu
43
3.4.1
Phương pháp điều tra, thu thập số liệu
43
3.4.2
Phương pháp bố trí thí nghiệm
44
3.4.3
Đo đếm thí nghiệm
45
3.4.4
Phương pháp phân tích và sử lý số liệu
45
3.4.5
Các chỉ tiêu theo dõi
46
3.4.5.1
Các chỉ tiêu khí hậu
46
3.4.5.2
Các chỉ tiêu phân tích
46
3.4.5.3
Đặc điểm hình thái
46
Ảnh hưởng của liều lượng bón MgSO
4
đến sinh trưởng, phát triển
54
4.3.1.1
Ảnh hưởng của liều lượng bón MgSO
4
đến chiều cao cây
55
4.3.1.2
Ảnh hưởng của liều lượng bón MgSO
4
đến độ rộng tán
57
4.3.1.3
Ảnh hưởng của liều lượng bón MgSO
4
đến đường kính gốc
60
4.3.2
Ảnh hưởng của liều lượng bón MgSO
4
đến các yếu tố cấu thành năng suất chè
62
4.3.2.1
Ảnh hưởng của liều lượng bón MgSO
4
đến mật độ búp chè
63
4.3.2.2
4.5.1
Ảnh hưởng của liều lượng bón MgSO
4
đến hàm lượng Mg trong búp chè
78
4.5.2
Ảnh hưởng của liều lượng bón MgSO
4
đến chất lượng búp chè
79
4.6
Ảnh hưởng của liều lượng bón MgSO
4
đến năng suất búp chè
84
4.7
Ảnh hưởng của liều lượng bón MgSO
4
đến thành phần cơ giới đất
87
4.8
Sơ bộ hoạch toán kinh tế biện pháp bón MgSO
4
cho chè
89
PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
5.1
Kết luận
Tổ chức Nông nghiệp và lương thực Thế giới
KHKT
Khoa học kỹ thuật
PTNT
Phát triển nông thôn
TX
Thị xã
TT
Trung tâm
USD
Đô la Mỹ
WTO
Tổ chức Thương mại Thế giới Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
29
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1
Một số chỉ tiêu hóa tính đất trước khi bố trí thí nghiệm
49
4.2
Diễn biến thời tiết khí hậu tại thị xã Phú Thọ năm 2008
51
4.3
Sinh trưởng của nương chè trước khi tiến hành thí nghiệm
53
4.4
Ảnh hưởng của liều lượng bón MgSO
4
đến chiều cao cây
56
4.5
Ảnh hưởng của liều lượng bón MgSO
4
đến độ rộng tán
58
4.6
Ảnh hưởng của liều lượng bón MgSO
4
đến đường kính gốc
61
4.7
Ảnh hưởng của liều lượng bón MgSO
chất khô của các giống chè tham gia thí nghiệm
77
4.13
Ảnh hưởng của liều lượng bón MgSO
4
đến hàm lượng Mg trong
búp chè
78
4.14
Ảnh hưởng của liều lượng bón MgSO
4
đến hàm lượng tanin và các
chất hòa tan trong búp chè
80
4.15
Ảnh hưởng của liều lượng bón MgSO
4
đến thử nếm cảm quan chè
82
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
đen giống chè Shan Chất Tiền
4.6
Ảnh hưởng của liều lượng bón MgSO
4
đến thử nếm cảm quan chè
xanh giống chè LDP
1
83
đến năng suất
giống chè Shan Chất Tiền
86
4.3
Đồ thị ảnh hưởng của liều lượng bón MgSO
4
đến năng suất
giống chè LDP
1
86
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1
PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Chè là cây công nghiệp dài ngày, có nguồn gốc nhiệt đới và á nhiệt đới,
sinh trƣởng, phát triển tốt trong điều kiện khí hậu nóng ẩm, tập trung chủ yếu
ở châu Á và châu Phi. Tuy nhiên hiện nay nhờ sự tiến bộ của khoa học kỹ
thuật, cây chè đã đƣợc trồng ở nhiều nƣớc trên thế giới, từ 33
0
vĩ Bắc đến 49
0
Strontium đã bị hấp thu trƣớc khiến nó không vào kịp tới tủy xƣơng, uống chè
có thể chống đƣợc sự nhiễm phóng xạ, vì vậy nƣớc chè là một loại nƣớc uống
của thời đại nguyên tử [41], [42].
Chè là cây công nghiệp dài ngày có giá trị kinh tế và giá trị sử dụng
cao. Sản xuất chè cần nhiều lao động, góp phần thu hút lao động dƣ thừa và
thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn, đặc biệt là nông
thôn vùng Trung du và miền núi. Khả năng về phát triển cây chè của nƣớc ta
là rất lớn, không chỉ trong hiện tại mà cả trong tƣơng lai.
Để đạt đƣợc các mục tiêu trên đây, một loạt các vấn đề về kỹ thuật đã
và đang đƣợc quan tâm, đó là vấn đề áp dụng kỹ thuật gieo trồng, kết hợp với
các biện pháp kỹ thuật canh tác tiên tiến. Trong các biện pháp kỹ thuật thì vấn
đề quản lý dinh dƣỡng cây trồng là một khâu quan trọng trong việc xây dựng
hệ thống nông nghiệp bền vững. Việc sử dụng phân bón là một trong những
biện pháp làm tăng sản lƣợng và chất lƣợng búp chè. Tác dụng của phân bón
không những tăng cao đƣợc sản lƣợng nguyên liệu chè mà còn nâng cao đƣợc
chất lƣợng của nó. Nếu bón phân không cân đối nhƣ bón đơn độc nitơ mà
thiếu kali và phospho sẽ gây ảnh hƣởng xấu đến chất lƣợng chè. Ngoài các
loại phân đa lƣợng, thì phân vi lƣợng cũng có ảnh hƣởng đến năng suất và
chất lƣợng búp chè, chủ yếu ảnh hƣởng đến hoạt tính của men [16]. Trong đó
Mg là nguyên tố ảnh hƣởng đến năng suất, chất lƣợng nguyên liệu chè vì nó
tham gia vào quá trình hình thành diệp lục tố.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
3
Đối với nhiều quá trình sinh hoá do men điều khiển, Mg cũng đóng một
vai trò quan trọng. Việc hình thành ra Protein trong trƣờng hợp thiếu Mg sẽ bị
hạn chế. Sự hình thành các sắc tố của lá trong trƣờng hợp thiếu Mg cũng bị
ảnh hƣởng [40]. Ngoài ra Mg còn ảnh hƣởng đến màu sắc chè thành phẩm.
Qua điều tra cho thấy, đất trồng chè vùng Phú Hộ, Phú Thọ có hàm
lƣợng Mg thấp, điều đó ảnh hƣởng rất lớn đến năng suất, chất lƣợng nguyên
1.3.1. Ý nghĩa khoa học
- Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp các dẫn liệu khoa học
nghiên cứu về dinh dƣỡng khoáng cho chè, tác động của dinh dƣỡng tới năng
suất, chất lƣợng búp chè.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
4
- Làm cơ sở bƣớc đầu xây dựng quy trình bón phân cân đối, bón bổ
sung MgSO
4
cho giống chè Shan Chất Tiền và LDP
1
trong điều kiện tỉnh
Phú Thọ.
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Nghiên cứu ảnh hƣởng của MgSO
4
đến năng suất, chất lƣợng của hai
giống chè Shan Chất Tiền và LDP
1
. Từ đó đƣa ra các mức bón hợp lý và
khuyến cáo sử dụng nhằm nâng cao năng suất, chất lƣợng chè cho vùng chè
Phú Thọ.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
5
PHẦN 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài
lƣợng qua lá để bón bổ sung Mg [32].
Đất trồng chè vùng Phú Hộ thuộc loại đất Mica và Gnai, là vùng đất
luôn thiếu hụt Mg do quá trình Feralit và môi trƣờng chua [38]. Đất ở đây đã
đƣợc sử dụng để trồng chè qua nhiều năm (trên 20 năm). Đất có độ dốc, xảy
ra hiện tƣợng rửa trôi, làm cho hàm lƣợng Mg trong đất càng giảm vì vậy để
nâng cao năng suất, chất lƣợng chè nguyên liệu cần bón bổ sung Mg cho đất
trồng chè. Từ thực tế trên chúng tôi tiến hành đề tài bón bổ sung Mg cho đất
trồng chè vùng thấp Phú Hộ dƣới dạng MgSO
4
.
Mỗi một loại cây trồng, một giống khác nhau có yêu cầu về phân bón
khác nhau. Ở Việt Nam, giống chè Shan Chất Tiền là giống có năng suất cao,
chất lƣợng khá. Song do đặc điểm màu sắc lá chè Shan Chất Tiền có màu
vàng khá rõ do đó ảnh hƣởng rất lớn đến chất lƣợng chè thành phẩm (mặt chè
vàng) không đáp ứng đƣợc nhu cầu thị hiếu ngƣời tiêu dùng. Mặt khác cần cải
thiện hơn nữa, hƣơng vị của sản phẩm chè từ nguyên liệu giống chè Shan
Chất Tiền trồng ở vùng thấp [20], [22], [24].
Giống LDP
1
là giống có tiềm năng năng suất cao, đƣợc trồng nhiều ở
vùng trung du miền núi phía Bắc. Búp có màu xanh, mật độ búp dày, khối
lƣợng búp lai nhỏ thích hợp cho chế biến mặt hàng chè xoăn nhỏ đƣợc thị
trƣờng ƣa chuộng [16].
Với mục đích bổ sung phân Mg làm thay đổi diệp lục tố, làm tăng
phẩm chất chè nguyên liệu góp phần nâng cao đƣợc chất lƣợng chè thành
phẩm. Từ đó sẽ tăng đƣợc hiệu quả kinh tế trong sản xuất chè hiện nay tại
vùng chè Phú Thọ.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
7
nhƣ tấm lòng vị tha bác ái của Đức Phật Bà Quan Âm. Trà Thiết Quan Âm ra
đời từ đó [46].
Nhƣng đó chỉ là huyền thoại, thật ra theo Trung Hoa sử hiện nay, thì
ngƣời Trung Quốc chính thức biết uống chè vào thời Tam Quốc, nhƣng mãi
cho tới thời nhà Đƣờng, chè vẫn chƣa đƣợc trồng và chế biến, thứ chè uống
chỉ là loại chè mọc hoang trong rừng núi, thuần khiết vẫn đƣợc coi nhƣ một vị
thuốc Bắc để trị bệnh. Do vậy chè mới lƣu hành trong giới thƣợng lƣu mà
thôi, còn hạng bình dân hầu nhƣ chƣa mấy ai biết tới. Về cách uống cũng
khác biệt, giữa hai bờ Đại Giang và nhất là dân du mục ngoài Trƣờng Thành
thì uống trà pha sữa trâu bò, dê ngựa [56].
Năm 1606 trƣớc Công Nguyên, Chu Vũ Vƣơng đời nhà Tấn đem quân
đi trừng phạt vua Trụ tại Ba Thục (Tứ Xuyên) đã lấy sơn đỏ, chè, mật ong
làm lễ vật cống nạp triều đình. Năm 760 đời nhà Đƣờng, Lục Vũ – ngƣời
huyện Thiên Môn, tỉnh Hồ Bắc đã biên soạn cuốn sách Trà Kinh - một cuốn
chuyên khảo đầu tiên về chè trên thế giới [29].
Năm 1753, Carl Van Linnacus, nhà thực vật học Thụy Điển lần đầu
tiên trên thế giới đã xác định Trung Quốc là vùng nguyên sản của cây chè và
định tên khoa học của cây chè là Thea sinensis, phân thành 2 thứ: Thea bohea
và Thea viridis [28].
Theo Daraselia, Gruzia (1989) thì các nhà khoa học Trung Quốc nhƣ
Schenpen, Jaiding… đã giải thích sự phân bố cây chè mẹ ở Trung Quốc nhƣ
sau: Tỉnh Vân Nam là nơi bắt đầu của hàng loạt con sông lớn đổ về những
con sông ở Việt Nam, Lào, Campuchia, Mianma. Đầu tiên cây chè mọc ở Vân
Nam, sau đó hạt chè di chuyển theo nguồn nƣớc đến các vùng nói trên và lan
dần sang các khu vực khác. Cũng theo Daraselia dựa trên cơ sở học thuyết “
Trung tâm khởi nguyên cây trồng” của Vavilop thì cây chè có nguồn gốc ở
Trung Quốc, nó phân bố ở các khu vực Đông Nam, men theo cao nguyên Tây
Tạng [18], [26].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Angiospermae
Dicotyledonae
Theales
Theaceae
Camellia (Thea)
Sinensis
Cây chè đƣợc chia làm nhiều thứ nhỏ (Varietas). Căn cứ vào đặc điểm
sinh lý, sinh hóa và tính chống chịu có nhiều cách phân loại chè khác nhau
nhƣng bảng phân loại đƣợc nhiều ngƣời công nhận nhất là bảng phân loại của
nhà bác học Hà Lan Cohen Stuart (1919) [18].
Cohen Stuart chia cây chè làm 4 thứ chính:
- Chè Trung Quốc lá nhỏ (Camellia sinensis var. Bohea).
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
10
- Chè Trung Quốc lá to (Camellia sinensis var. Macrophylla).
- Chè Shan (Camellia sinensis var. Shan).
- Chè Ấn Độ (Camellia sinensis var. Assamica)
2.3. Tình hình sản xuất và tiêu thụ chè trên thế giới và ở việt nam
2.3.1. Tình hình sản xuất và tiêu thụ chè trên thế giới
2.3.1.1. Tình hình sản xuất
Chè là cây trồng có lịch sử lâu đời (trên 4000 năm). Lúc đầu chè chủ
yếu đƣợc dùng làm dƣợc liệu, sát trùng, rửa các vết thƣơng. Ngày nay chè là
thứ nƣớc uống phổ biến và chủ yếu với những sản phẩm chế biến đa dạng và
phong phú. Ngoài việc thỏa mãn nhu cầu về giải khát, dinh dƣỡng, thƣởng
thức chè ở nhiều nƣớc đã đƣợc nâng lên tầm văn hóa với cả những nghi thức
trang trọng và thanh cao của trà đạo.
Từ Trung Quốc chè truyền bá ra khắp năm châu: đầu tiên sang Nhật
Bản do các vị hòa thƣợng mang về, sau này phát triển thành trà đạo; sang
vùng Ả Rập, Trung Đông bằng con đƣờng tơ lụa; sang Châu Âu, Anh, Pháp,
Năng suất
(tạ khô/ha)
Sản lƣợng (1000
tấn)
1
1954
83,20
8,97
74,63
2
1964
101,60
10,00
101,60
3
1974
189,71
7,73
146,61
4
1984
240,32
9,13
219,41
5
1994
243,00
10,23
248,70
6
2006
Thế giới
2981,4
3035,6
3196,881
3526,3
3645,2
Châu Phi
470,0
478,3
510,9
506,1
487,4
Kenya
293,4
295,9
328,8
332,7
313,0
Châu Mỹ La Tinh
85,5
85,3
82,4
88,8
92,9
Argentina
67,1
67,3
69,0
73,0
945,3
Sri Lanka
303,9
304,8
309,1
317,2
312,0
Việt Nam
83,7
88,6
93,9
104,0
133,0
Nguồn theo thống kê của FAO, tháng 5/2008
Mặc dù có tới 58 quốc gia trồng chè trên thế giới với quy mô khác
nhau, phân bố khắp 5 châu: Châu Á (20 nƣớc), Châu Phi (21 nƣớc), Châu Mỹ
(12 nƣớc), Châu Đại Dƣơng (3 nƣớc), Châu Âu (Liên Xô (cũ) và Bồ Đào
Nha). Tuy nhiên sản xuất chè của thế giới chỉ tập trung ở một số nƣớc nhƣ:
Trung Quốc, Ấn Độ, Kenya, Srilanka, Nhật Bản, chiếm trên 60% tổng sản
lƣợng chè thế giới [16]. Cuối thể kỷ XX, nƣớc chè là một loại nƣớc uống bảo
vệ sức khỏe lý tƣởng của 50% dân số thế giới, tiêu dùng rất phổ biến chỉ xếp
sau nƣớc [29].
Dƣới đây là diện tích, sản lƣợng một số nƣớc trồng chè chính năm
2004 đƣợc thể hiện ở bảng 2.3.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
13
Bảng 2.3: Diện tích, năng suất, sản lƣợng chè của thế giới và một số nƣớc
trồng chè chính năm 2004
140,000
20,714
290,000
6
Việt Nam
119,000
9,510
97,000
7
Indonexia
116,200
13,670
158,843
8
Các nƣớc khác
487,082
-
779,038
Nguồn theo thống kê của FAO năm 2005
Trung Quốc là quốc gia đứng đầu thế giới về diện tích đạt 943,100
nghìn ha, chiếm 37,96% diện tích chè thế giới, tuy nhiên năng suất chè Trung
Quốc không cao, chỉ đạt 8,7 tạ khô/ha, cho nên sản lƣợng chè Trung Quốc chỉ
đứng thứ 2 trên thế giới (sau Ấn Độ) đạt 821 nghìn tấn, chiếm 25,68% sản
lƣợng chè thế giới.
Ấn Độ có diện tích chè đứng thứ 2 thế giới, nhƣng có năng suất chè khá
cao (18,98 tạ khô/ha), nên sản lƣợng chè Ấn Độ cao nhất thế giới đạt 845
nghìn tấn, chiếm 26,43% sản lƣợng chè toàn thế giới.
Kenya đứng thứ 4 về diện tích chè đạt 140 nghìn ha, nhƣng là nƣớc có
năng suất chè cao nhất (20,71 tạ khô/ha), đạt sản lƣợng 290 nghìn tấn, chiếm
9,07% sản lƣợng chè toàn thế giới.
nháp từng ngụm trà thơm ngát, nóng hổi, trong khi bên ngoài giá lạnh mƣa rơi
trùng trùng [29].
Tại Morocco, Châu Phi: theo quan niệm, chè ở đây có tác dụng cầm
chân khách trong các dịp có cơ hội gần gũi hay quây quần bên nhau. Hầu nhƣ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
15
ngƣời Morocco thƣờng uống một loại chè xanh thƣợng hạng và theo tập quán,
thì ngƣời con trai trong gia đình phụ trách việc pha chế chè ngoại trừ có
trƣờng đặc biệt, vợ của chủ nhà vì tình thân của bè bạn, mới trực tiếp tự
tay pha trà đãi khách. Thƣờng thì phải có hai bình chè sẵn sàng. Pha chè
bằng ba loại nƣớc với độ sôi khác nhau và đƣợc rót trong những chén nhỏ
xinh sắn, đặt trên chiếc khay bằng kim loại có chạm khắc nhiều hình ảnh
rất đẹp. Theo nghi thức địa phƣơng, chè đƣợc châm đến tuần thứ ba thì
chấm dứt buổi tiệc [29].
Tại Anh: theo sử liệu, thì chính Nữ Công Tƣớc Bedford, tác giả quyển
"Năm giờ uống trà" rất đƣợc ngƣời Anh ƣa thích. Bà cũng là ngƣời đã tạo ra
phong trào uống trà vào buổi chiều tại xứ sƣơng mù. Ngày nay tới nhà bất cứ
một ngƣời Anh nào, đặc biệt là giới trung và thƣợng lƣu trí thức, ai cũng phải
lóe mắt trƣớc sự khéo tay và vô cùng thẩm mỹ của các bà nội trợ, trong việc
trang trí bàn uống trà với khăn phủ bàn có bình hoa tƣơi và bộ bình trà làm
bằng bạc và sứ men Trung Hoa. Ngƣời Anh từ lâu có tập quán đãi khách loại
trà sữa hay trà chanh. Cũng theo sử liệu, thì vào thế kỷ XVIII, khi Anh chiếm
Hồng Kông và nhiều thành phố lớn khác tại Trung Quốc nhƣ Thiên Tân,
Thƣợng Hải, Quảng Châu đã du nhập tập tính uống trà của ngƣời Trung Hoa
về bản quốc. Hằng tháng để kịp có chè, nhiều cuộc đua gọi là đua trà, bằng
thuyền buồm, chở các loại chè quý từ Trung Hoa sang Luân Đôn rất hào hứng
[29], [55].
Tại Hoa Kỳ: hằng năm theo thống kê, thì dân chúng tiêu thụ cả chục
triệu tấn chè, bằng mọi hình thức nhƣ uống nóng, lạnh, chè nguyên chất hay