ĐỀ TÀI : “TĂNG CƯỜNG VAI TRÒ CHỦ ĐẠO CỦA
THÀNH PHẦN KINH TẾ NHÀ NƯỚC
TRONG NỀN KINH TẾ
NHIỀU THÀNH PHẦN Ở NƯỚC TA HIỆN NAY”
dân.
Nước ta đang trong thời kỳ quá độ đi lên CNXH. Trong quá trình chuyển
đổi từ nền kinh tế chủ yếu tự cung tự cấp sang nền kinh tế thị trường với
nhiều thành phần kinh tế, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của
nhà nước theo định hướng XHCN luôn đặt ra những vấn đề nghiên cứu lý
luận thực tiễn và cần thiết. Lựa chọn cơ chế tổ chức quản lý để phát triển
kinh tế cho phù hợp. Sau một thời gian học tập, tìm hiểu môn Kinh tế chính 2
trị em đã thu được những kiến thức nhất định, em xin được nghiên cứu đề tài
“Tăng cường vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế nhà nước trong
nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta hiện nay ”với những nội dung
chủ yếu sau:
- Tính tất yếu của nền kinh tế thị trường
-Thực trạng vai trò quản lý của nhà nước trong nền kinh tế thị trường ở
nước ta.Với những hiểu biết và kinh nghiệm thực tế còn nhiều hạn chế nên
trong khi thực hiện bài tiểu luận em sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, em
rất mong được sự góp ý phê bình của thầy giáo hướng dẫn và các bạn.
3
B. NỘI DUNG CHÍNH
I- TÍNH TẤT YẾU VAI TRÒ QUẢN LÍ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG
NỀN KINH TÉ THỊ TRƯỜNG
1-Cơ chế thị trường và nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà
nước
Quá trình phát triển sản xuất của xã hội loài người từ trước tới nay
hiện tái sản xuất mở rộng, áp dụng nhanh chóng sản xuất-khoa học- công
nghệ và quay nhanh tiền vốn, đạt tới lợi nhuận tối đa.
- Thúc đẩy và đòi hỏi các nhà sản xuất năng động thích nghi với các
điều kiện biến động của thị trường. Thay đổi mẫu mã sản xuất, tìm mặt hàng
mới và thị trường tiêu thụ, mở rộng quan hệ trong kinh doanh, phá thế độc
quyền và khép kín trong một đơn vị kinh doanh, tìm cách đạt tới lợi nhuận
tối đa.
- Thúc đẩy sự tiến bộ khoa học- công nghệ nhanh chóng ứng dụng vào
sản xuất , tăng năng suất lao động, nâng cao trình độ xã hội hóa sản xuất và
nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành sản phẩm, đáp ứng yêu cầu
nhiều mặt của khách hàng và thị trường.
- Thúc đẩy quá trình tăng trưởng dồi dào của sản phẩm hàng hóa, dịch
vụ, thúc đẩy và kích thích sản xuất hàng hoá phát triển, đề cao trách nhiệm
của nhà kinh doanh với khách hàng, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã
hội.
- Đẩy nhanh quá trình tích tụ và tập trung sản xuất. Tích tụ và tập trung
sản xuất là hai con đường để mở rộng quy mô sản xuất. Một mặt, các đơn vị
chủ thể sản xuất kinh doanh làm ăn giỏi, có hiệu quả cao cho phép tích tụ,
mở rộng sản xuất. Mặt khác, do quá trình cạnh tranh làm cho sản xuất được 5
tập trung vào các đơn vị kinh tế thực sự đứng được trên thị trường, làm ăn có
hiệu quả cao, đồng thời loại bỏ những đơn vị làm ăn kém hiệu quả. Chính
quá trinh cạnh tranh kinh tế là động lực thúc đẩy tích tụ và tập trung sản
xuất.
*- Những hạn chế của nền kinh tế thị trường thể hiện :
- Nền kinh tế thị trường mang tính tự phát , tìm kiếm lợi nhuận bằng
bất kỳ giá nào, không đi đúng hướng kế hoạch Nhà nước, mục tiêu và phát
cực của kinh tế thị trường.
a- nhà nước đóng vai trò định hướng cho sự phát triển kinh tế
Trong nền kinh tế của chúng ta hiện nay, các doanh nghiệp được quyền
lựa chọn phương án sản xuất kinh doanh, nhà nước không can thiệp vào
quyết định của họ về việc sản xuất cái gì? Bằng cách nào? Tiêu thụ ở đâu?
Trong khi lựa chon các phương án sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp lấy lợi
nhuận của mình làm thước đo hiệu quả, đồng thời làm mục tiêu định hướng
cho hành vi của họ. Hiện nay rất nhiều các doanh nghiệp thuộc các thành
phần kinh tế khác nhau hoạt động cạnh tranh với nhau. Sự hoạt động của
quy luật cạnh tranh vừa thúc đẩy sản xuất phát triển, vừa có thể dẫn đến sự
khai thác bừa bãi các nguồn lực, huỷ hoại môi trường.
Khác với các doanh nghiệp, vai trò quản lý kinh tế của nhà nước là ở
chỗ nhà nước không theo đuổi mục đích lợi nhuận như một doanh nghiệp cá
biệt mà đuổi theo mục tiêu chung của cả dân tộc là làm cho dân giàu, nước
mạnh, nền kinh tế tăng trưởng ổn định, vững chắc trong điều kiện công bằng
xã hội và hiệu quả kinh tế quốc dân.
Thực chất của việc định hướng sự phát triển của nền kinh tế là thống
nhất các lợi ích khác nhau,quy tụ các lợi ích khác nhau về cùng một lợi ích
để sao cho trong khi mỗi người theo đuổi lợi ích cá nhân của mình cũng
đồng thời góp phần vào theo đuổi lợi ích dân tộc. Chính vì vậy để có thể 7
hoàn thành chức năng định hướng nền kinh tế Chính phủ phải tạo ra được
công cụ định hướng để quy tụ hành động của các doanh nghiệp và người tiêu
dùng theo chiều hướng vận động của nền kinh tế và nhà nước ta đã có hai
định hướng cho sự phát triển của nền kinh tế, đó là:
+ Chiến lược phát triển kinh tế xã hội dài hạn.
+ Kế hoạch hóa định hướng.
b- Tạo môi trường thuận lợi cho nền sản xuất hàng hoá nhiều thành
trưòng lành mạnh cho các doanh nghiệp làm ăn, nhà nước phải hoàn thành
các phân phối lại thu nhập của các tầng lớp dân cư sao cho thoả mãn nhu cầu
công bằng, hiệu quả .
d- Can thiệp vào quá trình kinh tế mỗi khi có chấn động.
Định hướng và tạo môi trường phân phối thu nhập là những công việc
cần thiết thể hiện vai trò của nhà nước trong chiến lược dài hạn. Trong quá
trình thực hiện các chiến lước đó, dưới ảnh hưỏng của cơ chế cung cầu giá
cả trong thị trường nội địa, đồng thời dưới ảnh hưởng của quan hệ kinh tế
quốc tế, việc thực hiện mục tiêu định hướng của nhứng chương trình dài hạn
bị nhứng " cú sốc " làm chệch hướng là điều không tránh khỏi. Trong trường
hợp đó nhà nước cần phải sử dụng những công cụ như lãi xuất, thuế, quỹ dự
trữ quốc gia và chi tiêu ngân sách để làm giảm những chấn động, đưa nền
kinh tế đi theo định hướng.
e- Quản lý tài sản quốc gia, phân bổ các nguồn lực một cách hợp lý.
Trong nền kinh tế thị truờng ở nước ta Nhà nước cùng một lúc phải
hoàn thành hai nhiệm vụ lớn trong nền kinh tế:
Thứ nhất, Nhà nước phải điểu khiển sự vận động của nền kinh tế bằng
cách hoạch định các chiến lược phát triển kinh tế xã hội dài hạn và ngắn hạn, 9
quyết định các phương án phân phối và phân phối lại thu nhập quốc sao cho
bình đẳng, công bằng, hiệu quả, tạo môi trường thuận lợi, hướng dẫn các
doanh nghiệp làm ăn, can thiệp nền kinh tế mỗi khi có " cú sốc" để làm giảm
các chấn động trên con đường đi dến mục tiêu.
Thứ hai, cùng với chức năng điều khiển nền kinh tế, Nhà nước còn
phải đóng vai trò người quản lý tài sản quốc gia. Về mặt đối ngoại, Nhà
nước còn có trách nhiệm bảo vệ các nguồn lực, ngăn chặn mọi âm mưu từ
bên ngoài đến các vùng đặc quyền đặc lợi trong lòng đất, vùng trời và vùng
biển. Về mặt đối nội, Nhà nước là người chủ sở hữu các nguồn lực này và
a- Định ra khuôn khổ pháp luật cho các hoạt động sản xuất kinh doanh.
Nhà nước đặt ra các khung pháp luật, đề ra hệ thống pháp lý, trên cơ
sở đó đặt ra các điều luật cơ bản về quyền sở hữu tài sản và hoạt động của
thi trưòng, quy định hoạt động kinh tế của các doanh nghiệp và nguời tiêu
dùng trong mọi thành phần kinh tế phải tuân theo. Các khung pháp luật đó
phải đảm bảo được tính dân chủ sự bình dẳng các cơ may để mọi công dân
có thể tham gia các hoạt động thị trường mà không bị ai ngăn cản. Ngoài ra,
chính phủ cũng như chính quyền các cấp còn lập nên hệ thống các quy định
chi tiết nhằm tạo nên môi trường thuận lợi, lành mạnh và tạo nên hành lang
an toàn cho sự phát triển có hiệu quả các hoạt động kinh tế xã hôị. Đối với
Việt Nam, do hệ thống hoạt động kinh tế còn đơn sơ, chưa tạo được môi
trường kinh doanh lành mạnh nên chức năng này chưa được thực hiện đầy
đủ. Do đó, chúng ta cần đổi mới việc xây dựng, ban hành và thực thi pháp
luật đảm bảo tính hệ thống của luật và các văn bản dưới luật, chú ý đến
pháp luật và các thông lệ quốc tế, khẩn trương xây dựng và ban hành hệ
thống luật kinh tế, luật bảo vệ môi trường và phổ cập cho toàn dân .
b- ổn định và cải thiện các hoạt động kinh tế
Bàn tay vô hình của kinh tế có quyền thể tạo ra nhiều yếu tố cho nền
kinh tế nhưng nó cũng không tránh khỏi chu kỳ kinh doanh dẫn tới làm phát, 11
thất nghiệp. Nếu Nhà nước buông lỏng cho thị trường vận động thì biến
động đó rất rõ, chẳng hạn thời kỳ siêu lạm phát ở Đức năm 20 hay thời kỳ
suy thoái của Mỹ những năm 30. Những kinh nghiệm đó đã giúp chúng ta
nhận ra một điều bổ ích rằng Nhà nước XHCN cần phải tìm mọi cách để
kiểm soát và ngăn chặn những thăng trầm của chu kỳ kinh doanh thông qua
các chính sách kinh tế như tài chính và chính sách tiền tệ để làm giảm biên
độ dao động của chu kỳ kinh doanh, hạn chế thất nghiệp làm phát. ở nước ta
chính phủ cần hoàn thiện các chinh sách để tạo điều kiện cần thiết cho cơ
TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở NƯỚC TA
Khác với một số nước trên thế giới, chúng ta tiến lên CNXH từ một
nước nông nghiệp nghèo nàn và lạc hậu mà bỏ qua giai đoạn phát triển lên
chủ nghĩa tư bản. Bởi vậy chúng ta gặp rất nhiều khó khăn trong việc xây
dựng và phát triển nền kinh tế đó là do chúng ta chưa chuẩn bị được cơ sở
vật chất kỹ thuật để tiến lên CNXH. Mặt khác nền kinh tế của nước ta trước
đây dập khuôn theo mô hình kinh tế của Liên xô với chế độ xã hội công hữu
về tư liệu sản xuất dưới hai hình thức là sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể
trong đó sở hữu toàn dân đóng vai trò chủ đạo. Xuất phát từ quan niệm nền
kinh tế XHCN là nền kinh tế phát triển có kế hoạch, quy luật phát triển có kế
hoạch là quy luật điều tiết mọi hoạt động của nền kinh tế nên Nhà nước ta
lấy kế hoạch hoá làm công cụ chủ yếu để quản lý kinh tế. Việc lãnh đạo phát
triển kinh tế quốc dân có kế hoạch là một vấn đề cơ bản nhất trong nhiệm vụ
quản lý kinh tế của Nhà nước XHCN.
Công cụ đổi mới nền kinh tế của nước ta bắt đầu từ Đại hội VI của
Đảng. Đó là điểm mốc cho sự phát triển nền kinh tế của đất nước. Từ đại XI
Nhà nước ta mới thấy rõ lợi ích của việc chuyển đổi nền kinh tế và đó là thời
điểm Đảng ta xác định phải chuyển dần nền kinh tế tự nhiên tự cung tự cấp,
nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp đang tồn tại sang nền
kinh tế thị trường phát triển theo cơ chế thị trường định hướng XHCN có sự
quản lý của Nhà nước. 13
Trong hơn 20 năm đổi mới đất nước ta đã phải đối phó với rất nhiều khó
khăn nhưng nhờ sự lãnh đạo, sự quản lý chặt chẽ của Đảng và đặc biệt là vai
trò tham gia điều tiết nền kinh tế của Nhà nước, sự định hướng theo kế
hoạch và quản lý vĩ mô nền kinh tế của Nhà nước theo hướng có lợi nhất nên
chỉ trong một thời gian ngắn nền kinh tế nước ta đã có những thay đổi đáng
kể sau:
ngoài.
- Hệ thống giá cả đã được tự do hoá theo cơ chế thị trường. Việt độc
quyền giá cả, giá cả do uỷ ban đặt giá xoá bỏ đang dần dần xoá bỏ. Nhờ việc
tự do hoá giá cả mà các yếu tố cạnh tranh được pháp huy và thúc đẩy làm
cho nền kinh tế phát triển nhanh chóng.
- Quan hệ hàng hoá tiền tệ được phát triển. Thị trường vốn đã xuất hiện
do các ngân hàng Nhà nước Việt Nam đảm nhiệm.
- Vai trò quản lý kinh tế vĩ mô nền kinh tế đang dần được khẳng định.
Việc quản lý kinh tế bằng mệnh lệnh hành chính được thay thế dần bằng
việc sử dụng các công cụ tài chính tiền tệ Cơ chế quản lý kinh tế hách
dịch cửa quyền được xoá bỏ phù hợp với xu hướng vận động của cơ chế thị
trường.
- Các loại hình dịch vụ gắn liền với lưu thông hàng hoá phát triển mạnh
thúc đẩy kinh doanh đã giải quyết số lượng lớn việc làm. Dịch vụ phát triển
nhanh chóng đã đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng nền kinh tế.
- Hệ thống các doanh nghiệp Nhà nước đã có sự chuyển đổi về tổ chức
và phương thức hoạt động kinh doanh và ngày càng mở rộng sản xuất Các
doanh nghiệp này đang từng bước thích ứng với cơ chế mới đang giữ tỷ
trọng tuyệt đối về nhập khẩu đóng góp ngày càng nhiều cho Nhà nước. Hoạt
động của các doanh nghiệp này có hiệu quả đã phát huy được vai trò chỉ đạo
trên thị trường nội địa bước đầu tìm chỗ đứng trên thị trường thế giới. Hệ
thống doanh nghiệp này đã thực sự là mạch máu lưu thông trong toàn nền 15
kinh tế quốc dân, trong việc điều hoà cung cầu, ổn định giá cả, định hướng
cho sự phát triển của các thành phần kinh tế khác.
- Nhiều cán bộ quản lý và kinh doanh qua cơ chế mới của nền kinh tế thị
trường đã được sàng lọc và đào tạo lại, đào tạo mới đã khẳng định được
phẩm chất năng lực và dần được nâng cao trình độ trong việc giao lưu hợp
nó vẫn tồn tại nhiều hạn chế.
Công cuộc đổi mới hơn 20 năm qua đã đem lại bộ mặt mới cho nền kinh
tế Việt Nam. Tuy đã có sự thay đổi căn bản nhưng nền kinh tế thị trường ở
nước ta mới chỉ là sơ khai chưa đầy đủ.
- Sản xuất hàng hoá trong các lĩnh vực còn ở trình độ thấp, công nghệ
sản xuất còn lạc hậu chưa thực sự tuân theo một chu trình hiện đại nào chính
vì vậy sản phẩm sản xuất ra còn kém cả về chất lượng và mẫu mã. Điều này
là nguyên nhân chủ yếu đưa sản phẩm của ta dẫn tới tình trạng kém cạnh
tranh ngay cả ở trong nước.
- Hệ thống máy móc trang thiết bị lạc hậu không sánh kịp với máy móc
tiên tiến hiện đại của nước ngoài là đã dẫn đến năng suất lao động còn thấp.
Đó là do việc chuyển giao công nghệ ở nước ta còn quá kém không đủ trình
độ chuyên môn nên trong quá trình chuyển giao với nước bạn ta nhập thiết
bị máy móc đã qua sử dụng quá lâu hoặc là nhận viện trợ không hoàn lại.
Chính vì vậy làm cho máy móc thiết bị của ta một là lạc hậu lỗi thời, thứ hai
là kém năng suất
- Hệ thống các xí nghiệp và công ty ở nước ta chưa có sự cân đối giữa
các ngành nghề giữa các vùng vì vậy không khai thác triệt để các nguồn tài
nguyên và không tận dụng hết nguồn lực lao động ở các địa phương có nơi
thừa lao động thất nghiệp trầm trọng nhưng có nơi cần lao động lại không
có. 17
- Thị trường hàng hoá và số lượng doanh nghiệp bung ra kinh doanh
phát triển với tốc độ cao nhưng mang nặng tính tự phát. Nền thương nghiệp
về cơ bản vẫn là nền thương nghiệp nhỏ tổ chức phân tán manh mún dẫn tới
việc ép giá đầu vào nâng giá đầu ra ở thị trường trong nước và bị chèn ép giá
trên thị trường nước ngoài.
- Mặc dù giá cả đã được tự do hoá nhưng vẫn còn độc quyền. Đó là ở các
lỏng nhưng vẫn còn tồn tại nhiều mặt gò bó phi lý. Việc quản lý còn lỏng lẻo
sơ hở đặc biệt là quản lý tài chính doanh nghiệp. Việc kiểm toán thống kê
không được đầy đủ là nguyên nhân do tham nhũng gia tăng .
- Kỷ cương pháp luật bị vi phạm, trật tự thị trường chưa được xác lập.
Nạn buôn lậu làm hàng giả diễn ra nghiêm trọng tác động xấu đến sản xuất
và đời sống. Tình trạng kinh doanh không đăng ký, trốn thuế, cạnh tranh
không lành mạnh diễn ra ở nhiều nơi nhiều lĩnh vực . Hoạt động quảng cáo
thương mại chưa được quản lý tốt gây tác hại đến đạo đức lối sống ảnh
hưởng xấu đến thuần phong mỹ tục , đời sống xã hội.
- Quản lý của Nhà nước về xuất nhập khẩu và điều hành thị trường còn
nhiều khuyết điểm chưa kịp thời đã gây ra tình trạng mất cân đối giữa cung
và cầu. Nhà nước chưa thực hiện đúng chức năng để giải quyết quan hệ giữa
bảo hộ sản xuất trong nước và bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng.
- Trong nền kinh tế thị trường công cụ để Nhà nước sử dụng để quản lý
kinh tế là hệ thống pháp luật. Hệ thống pháp luật của Nhà nước càng chặt
chẽ đồng bộ thì việc quản lý càng thuận lợi nhưng trên thực tế hệ thống luật
pháp của ta còn nhiều thiếu sót sơ hở. Nền kinh tế nước ta đã chuyển sang
nền kinh tế sản xuất hàng hoá song những luật lao động, luật doanh nghiệp,
luật cạnh tranh chưa đầy đủ vì vậy Nhà nước vẫn không thể quản lý chặt chẽ
ở tầm vĩ mô và là cơ sở cho các hoạt động sản xuất kinh doanh phi pháp gây
thiệt hại nghiêm trọng cho nền kinh tế quốc dân.
- Mặc dù nước ta đang xoá dần tệ quan liêu bao cấp cửa quyền nhưng
một số cán bộ quản lý của ta chưa làm đúng chức năng hoặc là do trình độ 19
chuyên môn, trình độ quản lý của họ quá yếu kém mà không bị sa thải hay
đào thải lại.
- Thủ tục hành chính của ta tuy đã được tổ chức lại song vẫn rườm ra
kồng kềnh là nguyên nhân cho việc hạn chế đầu tư của nước ngoài vào sản
Tất cả các nguyên nhân trên dẫn đến việc chậm phát triển nền kinh tế. Vì
vậy để đưa nền kinh tế phát triển nhanh chóng vận động theo cơ chế thị
trường theo đúng hướng thì Nhà nước cần phải tăng cường vai trò quản lý
của mình hơn nữa.
III-CÁC BIỆN PHÁP ĐỔI MỚI TĂNG CƯỜNG VAI TRÒ QUẢN
LÝ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở
NƯỚC TA.
Từ thực trạng nền kinh tế nước ta trong giai đoạn hiện nay còn nhiều hạn
chế chưa phát huy hết các nguồn lực hiện có. Để cho nền kinh tế nước ta
vươn lên phát triển sánh cùng với sự phát triển của các nước trong khu vực
và trên thế giới thì Nhà nước ta cần thiết phải tìm mọi cách để nâng cao vai
trò kinh tế của mình hơn nữa trong việc quản lý điều hành, điều tiết nền kinh
tế ở tầm vĩ mô.
a. Nhà nước tiếp tục đa dạng hoá các loại hình sở hữu, đổi mới phương
thức hoạt động của các doanh nghiệp đặc biệt là doanh nghiệp Nhà nước
cho phù hợp với cơ chế thị trường.
Ở nước ta hiện nay đang tồn tại 3 loại hình sở hữu chính là sở hữu Nhà
nước, sở hữu tư nhân và sở hữu tư bản Nhà nước. Các loại hình thức này có
mối quan hệ vừa cạnh tranh vừa hợp tác lẫn nhau tạo nên cơ sở của kinh tế
thị trường trong sự vận động của cơ chế thị trường. Song cả 3 loại hình thức
sở hữu này chưa có sự cân đối. Sở hữu tư nhân còn quá hạn chế trong khi đó
sở hữu Nhà nước lại quá nhiều thậm chí trong một số ngành, lĩnh vực cần 21
thiết. Vì vậy cần thu hẹp sở hữu Nhà nước ở những ngành kinh tế không cần
thiết và đẩy mạnh phát triển hình thức sở hữu tư nhân và tư bản Nhà nước.
Nhà nước cần có chính sách thiết thực nhằm thúc đẩy sở hữu tư nhân phát
triển vì đây là động lực cho sự phát triển của xã hội vì nó cho phép mọi
người dân có điều kiện đầu tư phát huy tối đa nguồn lực hướng tới sự phát
lý của Nhà nước
- Thực hiện chế độ nghiêm ngặt trong hệ thống kế toán.
c. Nhà nước tăng cường công tác kế hoạch hoá xây dựng các chiến lược
phát triển lâu dài. Vai trò chủ yếu của kế hoạch hoá ở tầm vĩ mô là thúc đẩy
sự hình thành cơ cấu hợp lý thông qua các chỉ tiêu. Kế hoạch hướng dẫn các
hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp đi theo hướng có lợi,
hướng dẫn sự phát triển kinh tế.
Trong công tác kế hoạch hoá thương mại trong nền kinh tế thị trường
Nhà nước phải thực hiện tốt những nhiệm vụ sau:
- Nhà nước phải xây dựng chiến lược thị trường và quy hoạch sự phát
triển thương mại đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế hàng hoá.
- Nhà nước phải xác định các cân đối trên thị trường: cân đối giữa cung -
cầu, cân đối giữa tiền và hàng
- Nhà nước phải xây dựng chiến lược phát triển kinh tế xã hội chung cho
các ngành, vùng, lĩnh vực. Định hướng cho các ngành các cấp đơn vị xác
định phương hướng phát triển phương hướng đầu tư một cách lâu dài.
- Đổi mới phương pháp xây dựng kế hoạch 5 năm, 10 năm các kế hoạch
ngắn hạn hay dài hạn đảm bảo tính thống nhất trong cân đối các nguồn lực
xã hội. 23
d. Nhà nước phải thường xuyên đổi mới cơ chế hoạt động của nền kinh
tế, sử dụng các chính sách kinh tế một cách đồng bộ theo yêu cầu của cơ chế
thị trường.
Không phải trong giai đoạn nào thời kỳ nào nền kinh tế thị trường cũng
có những ưu điểm và hạn chế giống nhau. Tuỳ vào từng thời kỳ từng giai
đoạn phát triển khác nhau của nền kinh tế, những hạn chế của nền kinh tế thị
trường sẽ biểu hiện khác nhau và không phải lúc nào cũng thuận lợi. thị
trường luôn luôn vận động và không chịu áp đặt theo xu hướng vận động
ổn giá, quản lý tốt dự trữ quốc gia và sử dụng tốt nguồn dự trữ này.
Nhà nước tăng cường công tác đối ngoại mở rộng ngoại giao hợp tác
buôn bán với Nhà nước trên hướng mở rộng thị trường cạnh tranh. Tăng
cường công tác quản lý các hoạt động xuất nhập khẩu, về hoạt động tiếp
nhận viện trợ hay vay vốn từ nước ngoài, chuyển giao công nghệ quốc tế.
e. Một trong những giải pháp quan trọng để nâng cao vai trò kinh tế của
Nhà nước ta là đổi mới quản lý kinh tế vĩ mô.
Thứ nhất, công cụ để quản lý kinh tế hiệu quả nhất đó chính là hệ thống
pháp luật. Hệ thống pháp luật nước ta hiện nay còn rất nhiều điều cần nói
tới. Đó chính là sự thiếu đồng bộ còn nhiều thiếu sót. Theo cơ chế thị trường
nền kinh tế đang vận động phát triển đi lên nảy sinh nhiều hiện tượng cần
được pháp luật bảo vệ nhưng trên thực tế hệ thống pháp luật của ta còn thiếu
trầm trọng . Vì vậy Nhà nước cần phải.
- Đổi mới và hoàn thiện hệ thống luật pháp mà đặc biệt là luật kinh tế.
- Tăng cường hiệu lực pháp luật hơn nữa đối với hoạt động của các
doanh nghiệp.
- Trong pháp luật kinh tế phải quy định đầy đủ các quan hệ nảy sinh
trong nền kinh tế thị trường như cạnh tranh chống độc quyền, phá sản, quyền
sở hữu, bảo hiểm xã hội sửa đổi kịp thời những quy định không phù hợp
đã kìm hãm sự phát triển kinh tế trước đây.