TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y KHOA THÁI NGUYÊN
BỘ MÔN PHỤ SẢN BÀI GIẢNG
SẢN PHỤ KHOA
(TẬP I)
(Lưu hành nội bộ)
THÁI NGUYÊN, 2008
sinh sản "
Trong quá trình biên soạn các giảng viên đã sử
dụng nhiều nguồn tài liệu cập
nhật đặc biệt là tử hướng dẫn chuẩn quốc gia về các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh
sản do Bộ y tế ban hành năm 2004 và các nguồn tài liệu của Tổ chức y tế Thế giới, Tổ
chức JHPIEGO.
Chúng tôi xin trân trọng cảm ơn hội đồng chuyên môn thẩm định sách và tài liệu
dạy học Trường đạt học Y khoa Thái Nguyên và Bộ Giáo Dụ
c Đào tạo đã cho phép và
tạo điều kiện xuất bản cuốn sách này. Trong quá trình biên soạn cuốn sách vẫn còn
một số khiếm khuyết không thể tránh khỏi, chúng tôi rất mong nhận được sự góp ý của
quý độc giả để lần tái bản sau được hoàn thiện hơn.
Thái Nguyên, tháng 4 năm 2008
Chủ biên
BS CKII. Phạm Thị Quỳnh Hoa
2
MỤC LỤC
1. RAU TIỀN ĐẠO 3
2. RAU BONG NON 12
3. VỠ TỬ CUNG 21
4. TIỀN SẢN GIẬT - SẢN GIẬT 28
5. ĐA ỐI 40
6. THIỂU ỐI 44
7. THAI GIÀ THÁNG 47
8. U NANG BUỔNG TRỨNG 50
9. U XƠ TỬ CUNG 57
10. SA SINH DỤC 64
11. UNG THƯ NIÊM MẠC TỬ CUNG 75
12. UNG THƯ VÚ 79
Hình 1. A. Rau bám vị trí bình thường B. Rau tiền đạo
2. Phân loại:
2.1. Phân loại theo giải phẫu
- Rau tiền đạo bám thấp: là phần lớn bánh rau bám vào thân tử cung, chỉ có một
phần nhỏ bám lan xuống đoạn dưới, ít gây chảy máu khi có thai và khi chuyển dạ,
thường gây ối vỡ sớm, chỉ có thể chẩn đoán hồi cứu sau đẻ bằng cách đo khoảng cách
tử mép bánh rau đến lỗ rách màng rau nơi gần nhất dưới 10cm.
- Rau tiền đạo bám bên: phần lớn bánh rau bám vào đoạn dưới, nhưng bờ bánh
rau chưa tới cổ tử cung, chảy máu nhẹ. Chẩn đoán hồi cứu sau đẻ bằng cách đo khoảng
cách tự mép bánh rau đến lỗ rách màng rau nơi gần nhất dưới 10cm.
- Rau tiền đạo bám mép: là mép bánh rau đã bám sát tới cổ tử cung (bám sát tới
4
lỗ rách màng rau) nhưng chưa che lấp cổ tử cung, chảy máu ở mức độ vừa. Loại này
có thể chẩn đoán được trong lúc chuyển dạ, khi cổ tử cung mở hết thăm âm đạo có thể
sờ thấy bờ bánh rau sát mép cổ tử cung.
- Rau tiền đạo bán trung tâm: thăm âm đạo qua lỗ cổ tử cung có thể thấy một
phần bánh rau che lấp một phần lỗ cổ tử cung, phầ
n còn lại là màng ối.
- Rau tiền đạo trung tâm hoàn toàn : bánh rau che lấp toàn bộ lỗ cổ tử cung.
Hình 2. Phân loại theo giải phẫu rau tiền đạo
2.2. Phân loại theo lâm sàng
- Rau tiền đạo chảy máu ít: gặp trong rau tiền đạo bám thấp, bám bên, bám mép
có khả năng đẻ đường dưới được nếu chảy máu ít.
- Rau tiền đạo chảy máu nhiều: gặp trong rau tiền đạo trung tâm hoàn toàn và rau
tiền đạo bán trung tâm. Loại này không có khả năng đẻ đường dưới, rất nguy hiểm cho
mỏng thường dưới 2cm. Các gai rau thường ăn sâu vào niêm mạc tử cung dễ gây rau
cài răng lược Rau tiền đạo gây rau cài răng lược có tỷ
lệ từ 4,1 - 10,1 %.
4.2. Màng rau
Màng rau xung quanh bánh rau thường dày, độ chun giãn kém. Khi eo tử cung
giãn thành đoạn dưới tử cung gây co kéo vào bánh rau, bánh rau không giãn dài ra kịp
nên bị bong và gây chảy máu. Càng về những tháng cuối nguy cơ chảy máu càng cao,
đặc biệt trong 3 tháng cuối của thời kỳ thai nghén. Khi chuyển dạ, đoạn dưới tử cung
hình thành thực sự gây co kéo mạnh vào bánh rau càng gây bong rau nhiều hơn và gây
chảy máu dữ dội.
4.3. Dây rau
Dây rau của rau tiền đạo thường không cắm ở giữ
a bánh rau, mà thường cắm ở
rìa bánh rau. Nếu dây rau cắm ở rìa bánh rau về phía cổ tử cung như trong trường hợp
rau tiền đạo bám thấp, bám bên, bám mép thì khi ối vỡ tự nhiên hay bấm ối thường dễ
bị sa đây rau.
4.4. Đoạn dưới
Đoạn dưới của tử cung được cấu tạo bởi hai lớp cơ, cơ vòng và cơ dọc không có
lớp cơ đan nên dinh dưỡng cho thai nhi kém. Vì bánh rau mỏng, diện bám c
ủa bánh
6
rau trải rộng, gai rau bám sâu vào lớp cơ đoạn dưới tử cung để lấy dinh dưỡng nuôi
thai, đó là nguyên nhân của rau cài răng lược. Đoạn dưới tử cung được thành lập suốt
trong thời kỳ mang thai, ba tháng cuối của thời kỳ thai nghén đoạn dưới được thành
lập rõ hơn lúc đó mới có giá trị chẩn đoán.là rau tiền đạo nếu siêu âm thấy rau bám
xuống đoạn dưới tử cung. Sau khi s
ổ rau dễ bị chảy máu, cầm máu bằng phương pháp
nội khoa có thể khó khăn, có khi phải cầm máu bằng phương pháp ngoại khoa để khâu
cầm máu vùng rau bấm hoặc có thể phải cắt tử cung bán phần
dưới tử cung. Sau sổ rau cần kiểm tra sự toàn vẹn của đoạn dưới tử cung để kịp thời xử
trí.
6. Triệu chứng rau tiền đạo
6.1. Triệu chứng lâm sàng
7
6.1.1. Khi có thai
- Triệu chứng cơ năng
Chảy máu là triệu chứng chính, chảy máu thường xuất hiện ở 3 tháng cuối của
thời kỳ thai nghén, nhưng đôi khi sớm hơn tử cuối tháng thớ 6 của thời kỳ thai nghén,
với những tính chất đặc biệt:
+ Đột ngột, tự nhiên, bất ngờ, không có nguyên nhân, không thấy đau bụng.
+ Máu đỏ tươi có khi lẫn máu cục, số lượng máu có thể nhi
ều, máu chảy ra nhiều
hoặc ít làm cho bệnh nhân hết hoảng lo sợ, sau đó máu chảy ít dần mầu thẫm lại.
+ Sau mỗi lần chảy máu, máu cầm tự nhiên mặc dù có hay không điều trị.
+ Chảy máu tái phát nhiều lần với tính chất: lượng máu chảy lần sau nhiều hơn
lần trước, khoảng cách chảy máu lần sau ngắn lại hơn lần trước, nhưng thời gian chảy
máu kéo dài hơn.
- Triệu chứng toàn thân: biểu hiện thiếu máu và mệt mỏi phụ thuộc vào số lượng
máu mất và số lần chảy máu.
- Triệu chứng thực thể
+ Mạch, huyết áp, nhịp thở có thể bình thường hay thay đổi tuỳ thuộc lượng máu
mất nhiều hay ít.
+ Nhìn: da niêm mạc nhợt nhạt hay không cũng tuỳ thuộc vào lượng máu mất
nhiều hay ít. Tử cung có thể có hình trứng hay hình bè ngang tuỳ theo tư thế ngôi thai
ở trong buồng tử cung.
+ Sờ nắn: trong rau tiền đạo hay gặp ngôi thai bất thường như ngôi ngang, ngôi
ngược, đầu cao lỏng.
+ Nghe tim thai: nhịp tim thai bình thường nếu rau tiền đạo không chảy máu
thấy một lớp đệm dầy khác với nướ
c ối giữa ngôi thai và ngón tay, đó là bánh rau bám
vào đoạn dưới tử cung.
+ Thăm khám bằng mỏ vịt hay van âm đạo khi chuyển dạ có thể nhìn được màng
ối và múi rau. Đây là phương pháp thăm khám nhẹ nhàng, chính xác và không gây
chảy máu, rất an toàn cho sản phụ.
6.2. Cận lâm sàng
6.2.1. Khi có thai
Chụp X quang bằng tia mềm: ta cổ thể thấy hình mờ của bánh rau khi rau ở trước
ngôi thai. Phương pháp này ngày loay không dùng.
- Chụp X quang có bơm thuốc cản quang vào bàng quang thấy hình ảnh giống
như đầu thai nhi đội mũ nồi. Nói chung người ta khuyên không nên dùng X quang để
chẩn đoán rau tiền đạo vì có thể làm thai nhi bị nhiễm xạ.
- Chụp đồng vị phóng xạ Iod 131, hiện nay không làm.
- Siêu âm: thấy được vị trí bám của bánh rau, đo được khoảng cách tử mép bánh
rau tới lỗ trong cổ tử cung dưới 50 tâm khi thai đủ tháng. Ngoài ra còn cho ta biết
được ngôi thai và tình trạng thai nhi (siêu âm thai cần điều kiện bàng quang có nhiều
nước tiểu)
- Xét nghiệm công thức máu: số
lượng hồng cầu và tỷ lệ huyết sắc tố giảm ít hay
nhiều tuỳ thuộc vào lượng máu mất.
6.2.2. Khi chuyển dạ.
- Ít dùng các phương pháp cận lâm sàng để chẩn đoán; nhưng nếu cần thì có thể
sử dụng siêu âm giúp chẩn đoán và tiên lượng.
9
7. Nguy cơ của rau tiền đạo
- Mẹ: nguy cơ chủ yếu là chảy máu (71%) đe doạ tính mạng của mẹ và con. 83%
phải mổ lấy thai để cầm máu. 17% phải cắt tử cung mới cấm được máu Tỷ lệ tử vong
cho mẹ 3,23%.(bệnh việnGia Lai năm 1997).
và dự phòng cho lần chảy máu sau.
+ Hạn chế vận động ở mức tối đa.
10
+ ăn chế độ dinh dưỡng tốt; chống táo bón.
* Điều trị nội khoa:
+ Dùng các thuốc ức chế cơn co tử cung như: Papaverin, Salbutamol.
+ Nếu bệnh nhân thiếu máu, có thể truyền máu.
+ Dùng kháng sinh: Ampicilin.
* Điều trị nội khoa:
+ Nếu điều trị nội khoa không kết quả thì điều trị sản khoa.
+ Nếu điều trị nội khoa có kết quả, có thể gi
ữ thai đến đủ tháng.
Nếu là rau tiền đạo chảy máu ít, có thể theo dõi chờ chuyển dạ đẻ tự nhiên, nếu là
rau tiền đạo trung tâm hoặc bán trung tâm thì chủ động mổ lấy thai.
Tuyến cơ sở nếu phát hiện được rau tiền đạo dù ở bất kỳ tuổi thai nào cũng cần
phải tổ chức chuyển tuyến ngay đề phòng biến chứng chảy máu nặng. Trước khi
chuyển cần cho b
ệnh nhân dùng thuốc giảm co, hồi sức chống choáng nếu cần thiết.
9.2.2. Trong khi chuyển dạ.
Nguyên tắc xử trí: cầm máu để cứu mẹ là chính nếu cứu được con thì càng tốt vì
thai nhi ở những trường hợp rau tiền đạo thường là non tháng và mất máu nên khó
sống, nếu không xử trí nhanh để mẹ chảy máu nhiều có thể làm chết cả mẹ và con.
+ Loại rau tiền đạo bám thấp, bám bên
Khi chuyển dạ phả
i bấm ối để cầm máu, nếu cầm được máu chờ chuyển dạ tiến
triển bình thường và cho đẻ đường dưới. Nếu không cầm được máu thì phải mổ lấy
thai để cầm máu.
+ Loại rau tiền đạo bám mép
Bấm ối để cầm máu, sau bấm ối phải xé rộng màng ối giúp cầm máu. Nếu không
1 2. Tầm quan trọng
Rau bong non là một cấp cứu sản khoa xảy ra đột ngột, diễn biến nhanh gây tử
vong cho thai nhi và đe doạ tính mạng người mẹ do tình trạng choáng mất máu, biến
chứng rối loạn đông máu hay vô niệu. Bệnh thường gặp ở 3 tháng cuối thời kỳ có thai
và gặp chủ yếu khi chuyển dạ.
1.3. Tỷ lệ
- Tỷ lệ bệnh khoảng tử 0,38%- 0,6% trong tổng số
thai nghén.
- Tỷ lệ tử vong mẹ tử 1 - 4%.
- Tỷ lệ tử vong con tử 70 - 100%.
2. Dịch tễ học
Chưa xác định được chính xác nguyên nhân, người ta nhận thấy các yếu tố nguy
cơ gây rau bong non:
- Rau bong non gặp ở người con rạ lớn tuổi nhiều hơn người con so trẻ tuổi.
- Rau bong non thường gặp ở người có bệnh mạch máu thận, cao huyết áp mạn
tính, rối loạn cao huyết áp do thai nghén chiếm 60 - 70%.
13
- Tiền sản giật, sản giật, sự căng giãn quá mức của tử cung
- Những thương tổn của mạch máu tại bánh rau, tại vùng rau bám, xuất hiện
trong các bệnh lý: rau tiền đạo, cao huyết áp, đái tháo đường.
Sự thay đổi thể tích đột ngột của tử cung: chọc hút ối trong đa ối, song thai
Thiếu axit folic trong những tháng đầu của thai kỳ, ở những sản phụ có mức sống
thấ
p.
- Do sang chấn trực tiếp vào vùng bụng (ngã, bị đánh, đấm ).
- Dây rau ngắn
- Do chọc vào bánh rau khi chọc dò ối không đúng chỗ.
- Những tác động thô bạo vào tử cung như: ngoại xoay thai không đúng kỹ thuật,
do đẩy vào đáy tử cung trong chuyển dạ.
4.2. Về phía mẹ.
- Mất máu dẫn đến các biến chứng nguy hiểm:
- Choáng do mất máu và đau.
- Rối loạn đông máu do giảm hoặc thiếu hụt hoàn toàn sinh sợi huyết có thể
dẫn
đến hội chứng tiêu sợi huyết thứ phát.
- Vô niệu do lượng máu đến thận giảm.
- Có thể tử vong do chảy máu, vô niệu.
5. Triệu chứng lâm sàng
Triệu chứng lâm sàng có thể khác nhau tuỳ theo thể nặng hay nhẹ. Trường hợp
điển hình có các triệu chứng sau.
5.1. Toàn thân
Tình trạng toàn thân không đi đôi với số lượng máu mất ra ngon âm đao: choáng
có thể xuất hiện nhanh, bệnh nặng nhưng máu ra âm đạo ít, giai đ
oạn mới choáng
mạch có thể chậm, huyết áp bình thường hoặc giảm nhẹ.
5.2. Cơ năng
Đau bụng dưới: xuất hiền đột ngột, lúc đầu đau ở tử cung, sau đau lan ra khắp
bụng đau xuyên ra sau lưng, lan xuống đùi, đau liên tục và kéo dài, bệnh nhân vật vã
lăn lộn, hết hoảng. Dấu hiệu đó có khi không rõ ràng do triệu chứng choáng ngày càng
tăng.
- Ra máu âm đạo: lúc đầu chả
y máu trong tử cung, sau đó vừa chảy máu trong
vừa chảy máu ra ngoài, số lượng ít, màu sẫm, loãng, không đông (không thấy có máu
cục).
5.3. Thực thể
Có triệu chứng của nhiễm độc thai nghén chiếm 60 - 70%, đôi khi có hội chứng
tiền sản giật kèm theo.
Nhìn tử cung ngày càng to, cao lên rõ.
Đo chiều cao tử cung lớn hơn so với lần đo trước.
-
Không thay
đổi
Bình thường
+
Thể nhẹ (I)
-
-
+ - Cường tính Giảm
+
Thể vừa (II)
+
++
+ Co cứng Giảm
+
Thể nặng (III)
+++ +++ +++
Co cứng như
gỗ
Giảm ít hoặc
giảm nhiều
-
- Nước ối có màu hồng
- Cần phải gửi tới tuyến chuyên khoa có đầy đủ phương tiện giúp chẩn đoán xác
định đảm bảo cho việc xử trí kịp thời, hiệu quả.
7.1.2. Ở tuyến chuyên khoa dựa vào
- Lâm sàng:
+ Hội chứng nhiễm độc thai nghén hoặc tiền sản giật.
+ Dấu hiệu sốc: da xanh, niêm mạc nhợt, mạch nhanh, huyết áp có khi không
giảm.
+ Chảy máu trong và chả
y máu ngoài.
+ Tử cứng co cứng như gỗ
+ Tim thai mất.
- Cận lâm sàng:
17
+ Siêu âm: thấy hình ảnh khối huyết tụ sau rau, tim thai không đáp.
+ Xét nghiệm sinh sợi huyết: giảm hoặc không còn.
+ Xét nghiệm cộng thức máu: tỷ lệ huyết sắc tố, hồng cầu, hematocrit giảm.
+ Xét nghiệm nước tiểu: protein niệu tăng cao
7.2. Chẩn đoán phân biệt: phân biệt với vỡ tử cung và rau tiền đạo
Triệu chứng Rau bong non vỡ tử cung Rau tiền đạo
Shock + + +
Chảy máu Chảy máu trong và
ngoài
Máu không đông
Chảy máu trong và
ngoài
Máu đông
Chảy máu tươi ra
ngoài là chủ yếu Máu
- Vô niệu, do lượng máu đến thận giảm, do huyết áp tụt, do hoại tử vỏ thậ
n:
+ Nước tiểu rất ít hoặc không có nước tiểu.
+ Xét nghiệm me máu tăng cao
+ Vô niệu kéo dài bệnh nhân có thể tử vong.
18
- Rau bong non có thể để lại di chứng:
+ Viêm gan cấp.
+ Viêm thận mãn, suy thận mãn.
+ Viêm tuyến thượng thận.
+ Cao huyết áp.
9. Hướng xử trí
Rau bong non là bệnh của hệ thống mao mạch, xảy ra đột ngột, diễn biến nhanh,
yêu cầu phải xử trí toàn diện, kịp thời. và đúng phương pháp kết hợp điều trị nội khoa,
sản khoa, ngoại khoa và điều trị biến chứng.
9.1. Tại tuyế
n y tế cơ sở
Chẩn đoán trước đẻ thường khó, nếu nghi ngờ hoặc chẩn đoán được rau bong
non cần tổ chức chuyển tuyến ngay.
9.2. Tại tuyến chuyên khoa
9.2.1. Hình thái ẩn và nhẹ
- Nếu chẩn đoán được trước đẻ, nên chủ động mổ lấy thai để cứu con và phòng biến
chứng nặng hơn cho mẹ.
- Nếu chỉ chẩn đoán được sau đẻ:
+
Điều trị nội khoa: phòng rối loạn đông máu: EAC (EpxiIon-Amino-Caproic),
transamin, làm các xét nghiệm đánh giá chức năng đông máu, cho thuốc co hồi tử
cung.
+ Điều trị sản khoa: kiểm soát tử cung, tiêm thuốc co hồi tử cung, theo dõi co hồi
m khuẩn bằng kháng sinh liều cao, đường tiêm.
+ Cân bằng điện giải bằng truyền dung dịch Lactat ringer
- Điều trị sản khoa và ngoại khoa:
+ Bấm ối cho tử cung đỡ căng.
+ Mổ lấy thai cả khi thai chết:
+ Trong khi mổ tuỳ theo tổn thương mà xử trí. Nếu là con so: mổ lấy thai, bảo
tồn tử cung nếu tử cung tổn thương ít, sau mổ tử cung co hồi tốt. Nếu là con r
ạ: sau mổ
lấy thai tiếp cắt tử cung bán phần thấp cầm máu, nếu chảy máu nặng thắt động mạch
hạ vị để hạn chế chảy máu.
9.2.4. Điều trị biến chứng
- Điều trị rối loạn đông máu bằng máu tươi và sinh sợi huyết.
- Điều trị vô niệu bằng dung dịch Manitol truyền tĩnh mạch (với điều ki
ện đã bù
đủ thể tích) nếu không kết quả phải thẩm phân phúc mạc hay chạy thận nhân tạo.
9.2.5. Chăm sóc sau đẻ.
- Theo dõi toàn trạng mạch, huyết áp, nhiệt.độ.
- Theo dõi co hồi tử cung.
- Theo dõi số lượng nước tiểu.
- Làm lại các xét nghiệm: công thức máu, nước tiểu, sinh sợi huyết, điện giải đồ
20
để tiếp tục điều trị cho thích hợp.
10. Dự phòng
Không có biện pháp dự phòng đặc hiệu vì không có nguyên nhân rõ ràng, tuy
nhiên cần phải:
- Khám thai định kỳ, phát hiện sớm yếu tố nguy cơ để chuyển tuyến.
- Vệ sinh thai nghén, chăm sóc thai nghén tốt
- Thực hiện sinh đẻ kế hoạch.
Trong vỡ tử cung có thể gặp các hình thái sau:
+ Vỡ tử cung hoàn toàn: toàn bộ tử cung đều bị xé tử niêm m
ạc, cơ, lớp phúc
mạc làm cho buồng tử cung thông với ổ bụng. Vị trí rách thường ở bên trái và mặt
22
trước của đoạn dưới tử cung, có thể tử thân tử cung kéo dài đến cổ tử cung, có khi tổn
thường tử cổ tử cung dọc lên đoạn dưới.Trong trường hợp này thai và rau bị đẩy vào
trong ổ bụng.
+ Vỡ tử cung không hoàn toàn: còn gọi là vỡ tử cung dưới phúc mạc. Chỉ có lớp
niêm mạc vào lớp cơ bị xé rách, phúc mạc đoạn dưới bị bong ra nhưng vẫn còn
nguyên v
ẹn. Máu tràn vào đây chằng rộng gây nên các huyết tụ dây chằng, huyết :tụ ở
tiểu khung. Trong trường hợp vỡ tử cung không hoàn toàn, thai và rau vẫn nằm trong
tử cung.
+ Vỡ tử cung ở người có sẹo mổ cũ: thường do sẹo ở tử cung bị toác ra hoặc bị
nứt một phần, trường hợp này bờ vết rách không nham nhở và có khi ít chảy máu.
+ Vỡ phức tạp: ngoài vỡ tử cung hoàn toàn, tổn th
ương có thể kẻo dài xuống âm
đạo xé rách cùng đồ, xé rách bàng quang tạo nên một vết rỡ phức tạp.
Hình 5. (a) Vỡ tử cung trong dây chằng rộng. (b) Vỡ tử cung hoàn toàn
2. Nguyên nhân
2.1. Nguyên nhân về phía mẹ
- Các loại đẻ khó do. khung chậu hẹp tuyệt đối, khung chậu giới hạn, khung chậu
méo
- Có sẹo mổ cũ ở tử cung do: mổ thân tử cung để lấy thai, mổ ngang đoạn dưới,
mổ khâu tử cung bị vỡ, phẫu thuật bóc tách nhân xơ tử cung, phẫu thuật Strassmann,
mổ lấy thai tử 2 lần tr
ở lên, mổ cắt góc tử cưng trong chửa ngoài tử cung, mổ lấy thai
- Vỡ tử cung ở đoạn dưới thường có những dấu hiệu báo trước gọi là dấu hiệu
doạ vỡ tử cung, đó là dấu hiệu rất quý cho người thầy thuốc để phát hiện và xử trí kịp
thời sẽ hạn chế được vỡ tử cung.
3.1. Doạ vỡ tử cung
- Triệu ch
ứng cơ năng:
+ Thai phụ đau bụng nhiều, đau dồn dập, quằn quại.
+ Thai phụ mệt mỏi, kêu la.
- Triệu chứng thực thể:
+ Nhìn: thấy rõ hai khối bị thắt ở giữa như hình quả bầu nậm. Khối được là đoạn
dưới tử cung bị kéo dài (có khi lên tới rốn), giãn mỏng, đẩy khối thân tử cung lên cao.
Chỗ thắt ở giữa là vòng Bandl, càng g
ần vỡ. vòng Bandl càng lên cao và càng rõ.
+ Đo cơn co tử cung thấy mau và mạnh.
+ Sờ nắn: thấy hai đây chằng tròn bị căng như hai sợi dây đàn, đoạn dưới tử cung
cảm thấy mỏng. Vòng Bandl và đây chằng tròn tạo thành dấu hiệu Bandl- Frommel.
Chú ý: phải thông đái trước khi khám vì có khi bàng quang đầy nước tiểu dễ
nhầm với đoạn dưới bị kéo dài.